1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

1 Một số quan điểm về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 113 trang )


Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, đất nước ở trong

hoàn cảnh cực kỳ khó khăn vì bị chiến tranh tàn phá, Lê-nin đã chỉ ra:

"Muốn thoát khỏi cảnh thiếu thốn, cảnh cùng khổ đen tối nhất thì phải có

suy nghĩ, phải có văn hoá, phải giỏi". Người coi: "Điều kiện để nâng cao

năng xuất lao động trước hết chính là trình độ tiến bộ của nền giáo dục và

văn hoá của đông đảo quần chúng nhân dân" [1, tr.25]. Lê-nin coi giáo dục

XHCN là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội phải chăm lo sự phát triển

của giáo dục và của ngành giáo dục, ngoài kinh phí cấp phát của nhà nước,

còn phải biết khai thác lực lượng vật chất của xã hội phục vụ cho công tác

đào tạo. Lê - nin là người đầu tiên nêu ra nguyên tắc quản lý này với hệ

thống giáo dục. Trong "Dự án cương lĩnh của Đảng Cộng sản Nga" Tháng

2/1919, Lê-nin đã nêu: " Làm cho nhân dân lao động tích cực tham gia vào

sự nghiệp giáo dục quốc dân, phát triển những hội đồng giáo dục quốc

dân, động viên những người có văn hoá tham gia vào quá trình giáo dục"

[1,tr.28].

Vấn đề lý luận này cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện

sinh động và phát triển sáng tạo trong tiến trình cách mạng ở nước ta.

Tháng 9/1945, ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Hồ

Chủ tịch đã nêu ra mục tiêu của chế độ mới là làm cho mọi người "ai cũng

có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Để đạt mục tiêu này, Người

cho rằng: "Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này

là nâng cao dân trí".

Với hoàn cảnh đất nước còn nghèo nàn, trình độ học vấn của nhân

dân còn thấp kém, chính quyền cách mạng vừa giành được đã bị kẻ thù uy

hiếp, phá hoại, Hồ Chủ tịch vạch ra nhiệm vụ chiến lược là: "Diệt giặc đói,

diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm". Trong những năm chiến đấu chống thực

dân Pháp xâm lược, mặc dù công tác lãnh đạo kháng chiến rất bận rộn và

khẩn trương, Hồ Chủ tịch vẫn thường xuyên quan tâm việc phát triển nền

11



giáo dục mới, hướng hoạt động của giáo dục vào việc đào tạo cán bộ mới

và giúp đỡ cán bộ cũ theo tôn chỉ "kháng chiến và kiến quốc", góp phần

vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống mới.

Nhằm giúp cho cán bộ giáo dục thấy rõ nhiệm vụ nặng nề, vẻ vang

của ngành trước hoàn cảnh mới của cách mạng, trong lớp đào tạo hướng

dẫn viên các trại hè của ngành giáo dục tháng 4/1956, Hồ Chủ tịch nói rõ:

"Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn

hoá. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu. Tuy không có gì đột

xuất, nhưng rất vẻ vang". Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: "Vì lợi ích

mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người". Người

yêu cầu toàn xã hội: Phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp

giáo dục lên những bước phát triển mới". Người chỉ thị cho ngành giáo

dục: "Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt" để

"thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật"[ 1, tr. 62].

1.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục và xã hội hoá

sự nghiệp giáo dục

Xuất phát từ đường lối đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

VI, ngày 10/10/1990 Bộ Giáo dục - Đào tạo và Công đoàn giáo dục Việt

Nam ra thông tư liên tịch số 35/TT – LT về việc động viên toàn ngành

tham mưu với các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương mở Đại hội giáo

dục cấp cơ sở, thực hiện XHHSNGD [32].

Đặc biệt từ khi có Nghị quyết 04/NQ-TW về việc tiếp tục đổi mới sự

nghiệp giáo dục và đào tạo với quan điểm: “Huy động toàn xã hội làm giáo

dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc

dân dưới sự quản lý của Nhà nước”. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân

dân, các tổ chức xã hội, mọi gia đình và mọi người cùng với ngành GD ĐT chăm lo xây dựng sự nghiệp giáo dục theo phương châm “Nhà nước và

12



nhân dân cùng làm”, “xây dựng môi trường giáo dục nhà trường, gia đình

và xã hội” [33]. Việc mở ĐHGD các cấp, thực hiện XHHSNGD được Ban

khoa giáo Trung ương phối hợp chỉ đạo đã triển khai sâu rộng trong phạm

vi toàn quốc. Các tỉnh, thành phố, UBND quận huyện, xã phường có nghị

quyết, chỉ thị về XHHSNGD.

NQTW 2, khoá VIII (1997) đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là sự

nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình

và mỗi công dân. Kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình,

giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Người lớn làm

gương cho trẻ noi theo. Phát động vai trò rộng khắp toàn dân học tập,

người người đi học, học ở trường, lớp và tự học suốt đời. Người biết dạy

người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít, mỗi người phải không

ngừng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ. Phát triển các

hình thức giáo dục từ xa. Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức giáo dục và

các loại hình trường phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới, với nhu cầu

học tập của tuổi trẻ và của toàn xã hội...” [35].

Nghị quyết 90/CP của Chính phủ tháng 8 năm 1997 đã nêu nội dung

cơ bản về XHHSNGD, [23].

XHHSNGD là cuộc vận động lớn, hình thành các tổ chức nhân dân

của toàn xã hội tham gia, đóng góp, thúc đẩy sự phát triển sự nghiệp giáo

dục.

XHHSNGD là việc tạo ra môi trường rộng khắp, lành mạnh cho giáo

dục mà trách nhiệm thuộc về cộng đồng xã hội từ các cấp uỷ Đảng, chính

quyền, đoàn thể quần chúng, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp chăm lo, hỗ trợ

cho sự phát triển giáo dục.

Đa dạng hoá các loại hình giáo dục, theo điều kiện kinh tế - xã hội

địa phương, dưới sự quản lý của Nhà nước, trong khuôn khổ chính sách của

Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nhằm đảm bảo quyền, cơ hội cho mọi

13



tầng lớp nhân dân dược tham gia chủ động và bình đẳng các hoạt động của

giáo dục và đào tạo.

XHHSNGD còn là sự tìm tòi khai thác các tiềm ẩn nguồn lực và vật

lực trong xã hội cho giáo dục, đây là chủ trương lâu dài, một phương châm

trong việc thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. XHHSNGD

còn là vấn đề sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí mà giáo dục huy

động được.

Đại hội IX tiếp tục khẳng định vị trí vai trò và nhiệm vụ của công tác

XHHSNGD: Thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”. Phát huy

tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng

lực tự học, tự hoàn thiện học vấn tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập

trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính

quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội

học tập” [34].

Đại hội IX cũng nhấn mạnh “thực hiện chủ trương xã hội hoá sự

nghiệp giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc

xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ

giáo dục”.

Trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “chiến

lược phát triển giáo dục 2001-2010” cũng đã xác định: Giáo dục là sự

nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Xây dựng xã hội học tập, tạo

điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường

xuyên, học suốt đời. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự

nghiệp giáo dục. Đẩy mạnh xã hội hoá; khuyến khích, huy động và tạo điều

kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục.

Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khoá IX về tiếp tục

thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển

giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2010 đã chỉ rõ:

14



"Đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của

toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục. Nhà

nước khuyến khích mọi đóng góp, mọi sáng kiến của xã hội cho giáo dục.

Mặt khác Nhà nước tập trung đầu tư cho giáo dục ở vùng sâu, vùng dân tộc

thiểu số, những đối tượng gặp khó khăn.

Thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người. Tiếp tục đa dạng hoá

các loại hình trường lớp, tạo cơ hội học tập cho mọi tầng lớp nhân dân có

nhu cầu. Nghiên cứu các chính sách Nhà nước hỗ trợ trường ngoài công

lập.

Hoàn thiện quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng giáo dục

các cấp, của Hội khuyến học, của các loại hình trường ngoài công lập;

Chính sách về học phí, học bổng, quy định các khoản thu và sử dụng các

khoản đóng góp của người học, các khoản hỗ trợ cho học sinh vùng dân

tộc, vùng khó khăn, gia đình chính sách...”[26].

Ngày 15/11/2004, trong kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá IX, thừa uỷ

quyền của Thủ tướng Chính phủ Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Minh

Hiển trình bầy báo cáo về tình hình giáo dục trước Quốc hội. Bộ trưởng đã

thẳng thắn nhìn nhận một cách tổng quát về cả ưu điểm cũng như khuyết

điểm của nền giáo dục nước ta hiện nay: "Trong những năm qua, nền giáo

dục nước ta đã có bước phát triển mới về quy mô và các điều kiện đảm bảo

chất lượng, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội

của đất nước. Bên cạnh đó, trong giáo dục cũng bộc lộ những bất cập, yếu

kém, khuyết điểm gây lo lắng, bức xúc trong nhân dân". Thay mặt Chính

phủ, Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển đã trình bày một số nhiệm vụ trọng tâm

và giải pháp phát triển từ nay đến năm 2010. Theo đó một trong những nội

dung quan trọng về giải pháp khắc phục tình trạng giáo dục hiện nay là tiếp

tục đổi mới mạnh mẽ tư duy giáo dục mà công tác xã hội hoá giáo dục

được xem như giải pháp cơ bản để phát triển giáo dục.

15



Quốc hội đã dành toàn bộ thời gian còn lại trong ngày để các đại biểu

thảo luận về tình hình giáo dục. Tổng số đã có 15 ý kiến phát biểu, 3 ý kiến

chất vấn và 22 đại biểu đăng ký nhưng chưa được phát biểu. Điều đó chứng

tỏ lĩnh vực giáo dục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Quốc hội [27].

Chủ trương xã hội hoá đã có tác động tích cực đến sự nghiệp giáo dục,

đã thu được những kết quả quan trọng: Mở ra quy mô, đa dạng hoá loại

hình, nâng cao dân trí, tăng thêm cơ hội được học tập cho nhân dân, góp

phần thực hiện công bằng xã hội, tạo công ăn việc làm ổn định đời sống

cho hàng vạn người. Huy động được nhiều nguồn tài nguyên đa dạng đầu

tư cho giáo dục.

Nguyên nhân của những thành công là: Quá trình XHHSNGD đã

được chỉ đạo thực hiện theo đúng đường lối của Đảng thể hiện trong các

Đại hội VIII và IX. XHHSNGD là một quá trình hợp quy luật, dúng với

bản chất xã hội vốn có của giáo dục. Mặt khác, nguyên nhân của những hạn

chế cũng xuất phát từ nhận thức, cơ sở lý luận chưa đầy đủ, tâm lý ỷ lại

trông chờ ở Nhà nước và công tác quản lý hay nói rộng ra hơn là cách làm

xã hội hoá chưa đáp ứng nhu cầu phát triển” [36].

Đổi mới cách vận hành nền giáo dục trước hết cần đổi mới cơ chế

chính sách và quản lý theo hai nhóm giải pháp chính: Kích thích xã hội đầu

tư cho giáo dục và tạo điều kiện xã hội tham gia vào quá trình giáo dục.

.3 Theo quan điểm lịch sử phát triển giáo dục

Lịch sử phát triển của xã hội loài người có thể phân thành các giai đoạn

theo sự phát triển của hình thái xã hội. Tuy nhiên cũng có thể nhìn nhận sự

phát triển đó dưới một góc nhìn khác. Ta có thể coi từ khi có xã hội loài

người đến nay đã trải qua 4 nền văn minh : Văn minh hái lượm ; Văn

minh nông nghiệp ; Văn minh công nghiệp ; Văn minh trí tuệ. Trong nền

văn minh hái lượm con người tồn tại theo bầy đoàn và sau đó là bộ lạc ;

phương tiện sản xuất thô sơ và cuộc sống tồn tại nhờ hái lượm, săn bắn.

16



Tương ứng với giai đoạn phát triển này của xã hội loài người giáo dục xuất

hiện dưới dạng tự phát, ở đây có thể coi giáo dục là sự truyền thụ kinh

nghiệm sống, kinh nghiệm hái lượm, săn bắn để tồn tại. Sau hàng vạn năm

tồn tại cùng với sự xuất hiện các hình thái xã hội loài người đã chuyển dần

sang nền văn minh nông nghiệp với sức sản xuất, và quan hệ sản xuất lấy

tài nguyên đất đai làm điểm tựa. Tương ứng với giai đoạn này bên cạnh

giáo dục ở gia đình, giáo dục nhà trường phát triển mạnh biến giáo dục

thành một quá trình tự giác, có tổ chức, nội dung có chọn lọc và tính mục

đích rõ ràng, cụ thể. Tuy nhiên nội dung giáo dục về cơ bản là giáo điều,

phương pháp giáo dục áp đặt nhưng phù hợp với giai đoạn phát triển của xã

hội loài người ở giai đoạn đó. Xã hội tiếp tục phát triển và rồi loài người

dần dần chuyển sang một nền văn minh khác mà người ta đặt tên cho nó là

nền văn minh công nghiệp. Lúc này nền giáo dục cổ truyền của nền văn

minh nông nghiệp tỏ ra không còn đáp ứng được những đòi hỏi mới của

nền kinh tế-xã hội và một nền giáo dục mới đã ra đời với cái tên nền giáo

dục hiện đại. Để đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội cũng như tận

dụng được những điều kiện mới mà xã hôị mới mang đến, nội dung giáo

dục đa dạng hơn, phong phú hơn, mang tính hướng nghiệp hơn. Phương

pháp giáo dục mềm dẻo, đa dạng, gắn với lao động sản xuất.

Người ta dự báo bước sang thế kỉ 21 loài người sẽ chuyển dần sang

nền kinh tế trí thức và một nền văn minh mới của xã hội loài người sẽ được

hình thành đó là nền văn minh trí tuệ. Tương ứng với nền văn minh này của

xã hội loài người nền giáo dục cũ cần phải có sự canh tân để thích ứng với

sự thay đổi của xã hội và phải tận dụng nhiều hơn những thành tựu của

công nghệ thông tin và thông lưu để đổi mới phương thức giáo dục-đào tạo

của mình và người ta gọi nền giáo dục đó là nền giáo dục tương lai. Ở đây

nhà trường truyền thống sẽ có những thay đổi lớn về cách thức chuyển tải

nội dung và phương thức giáo dục cũng rất đa dạng. Nhà trường trở thành “

17



Siêu thị kiến thức”! Chỉ có như vậy giáo dục mới đáp ứng được những đặc

điểm mới của kinh tế xã hội. Từ những kiến giải trên chúng ta thấy rõ : mối

quan hệ giữa giáo dục và đào tạo với xã hội xét trong suốt tiến trình phát

triển của chúng ta tạo nên một hình xoắn ốc, ứng với mỗi giai đoạn phát

triển mối quan hệ hai chiều giáo dục-xã hội thúc đẩy nhau cùng phát triển.

Sự cân bằng động đó tồn tại vì con người, do con người hay nói một cách

khác lấy con người làm điểm tựa. Ở đây giáo dục phải là công cụ, phương

tiện để cải biến xã hội và nhờ có giáo dục làm động lực xã hội không

ngừng phát triển. Khi xã hội phát triển lên một mức nào đó xã hội sẽ “ Đặt

hàng mới” cho giáo dục và cũng tạo điều kiện mới cho giáo dục buộc giáo

dục phải tự nâng mình lên để đáp ứng bối cảnh mới. Mối quan hệ cân bằng

động này tồn tại cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người.

Theo TS.Đặng Xuân Hải thì : “Cân bằng động” trong đào tạo yêu cầu

các nhà giáo dục phải ý thức được tính đi trước một bước của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. “Cân bằng động” này chỉ có

thể duy trì trên cơ sở hệ thống giáo dục phải có chiến lược nghiên cứu các

bước đi của kinh tế - xã hội, nghiên cứu sự thay đổi của thị trường lao

động, đồng thời có chiến lược nâng cao vai trò của giáo dục - đào tạo và

nhà trường nên tương xứng với yêu cầu kinh tế – xã hội luôn thay đổi. Con

người là lực lượng tạo ra và duy trì thế cân bằng động, nên phải thực hiện

chiến lược con người thông qua đầu tư thích đáng cho giáo dục - đào tạo,

chú trọng đặc biệt và trước hết đến chất lượng đào tạo của nhà trường [12].

1.1.4 Theo quan điểm tiếp cận hệ thống trong khoa học quản lý

giáo dục

Dưới góc nhìn của tiếp cận hệ thống, hệ thống giáo dục là một hệ con

của hệ thống xã hội. Giáo dục chi phối nhiều yếu tố của hệ thống xã hội và

cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố của hệ thống xã hội. Ví dụ như :

giáo dục cũng phụ thuộc vào Nhà nước và chính trị, phụ thuộc truyền thống

18



văn hoá, giáo dục quốc gia. Phụ thuộc sự phát triển kinh tế - xã hội, phụ

thuộc vào trình độ khoa học, công nghệ....Có thể tóm tắt một số nét chính

các mối quan hệ như sau: mối quan hệ giáo dục - Nhà nước được xác lập

trên cơ sở Nhà nước là tổ chức công quyền lớn nhất quản lý giáo dục, giáo

dục là công cụ của Nhà nước, giáo dục phục vụ chính trị. Bất cứ Nhà nước

nào cũng phải tổ chức giáo dục cho công dân của mình. Mối quan hệ giáo

dục - kinh tế được xác lập trên quan điểm giáo dục là nền tảng để phát triển

kinh tế - xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Ứng với một

trình độ phát triển khoa học công nghệ, nội dung, phương pháp giáo dục

cũng bị chi phối và mối quan hệ giáo dục - khoa học và công nghệ cũng là

mối quan hệ 2 chiều, bởi vì giáo dục góp phần sáng tạo ra khoa học - công

nghệ và khoa học - công nghệ cũng thúc đẩy giáo dục phát triển ...

Tóm lại, khi đề cập đến bản chất của mối quan hệ giữa giáo dục nói

chung và nhà trường nói riêng với cộng đồng xã hội người ta thường nhấn

mạnh một số vấn đề sau :

- Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người. Sự tồn tại

và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh

tế - xã hội và ngược lại với chức năng của mình giáo dục lại có vai trò to

lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Ta có thể xem đó là bản chất của

tính xã hội của giáo dục.

- Dưới góc nhìn của tiếp cận hệ thống, giáo dục muốn tồn tại và phát

triển phải luôn giữ được cân bằng động với các yếu tố khác của xã hội và ở

đây hệ thống giáo dục phải là hệ tự điều khiển. Ở đây hệ thống giáo dục

không giữ vai trò đi trước một bước sẽ không phát huy hết vai trò của mình

trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Tất nhiên đến lượt mình

nếu các yếu tố khác của xã hội không tạo điều kiện cho giáo dục phát triển

thì cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình cải biến xã hội. Như vậy dưới góc

19



nhìn này của chúng ta cũng thấy rõ mối quan hệ cân bằng động giữa giáo

dục với các yếu tố khác của xã hội.

- Để tăng cường mối quan hệ giữa giáo dục, nhà trường và cộng đồng xã

hội, chúng ta cần đi sâu vào đặc điểm của các mối quan hệ cụ thể, nghiên

cứu kỹ đặc điểm từng ngành học, bậc học, hoàn cảnh của từng cộng đồng,

từng vùng, từng địa phương để có biện pháp triển khai mối quan hệ này cho

phù hợp và có hiệu quả

1.2 Một số khái niệm nghiên cứu về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

.1 Khái niệm xã hội hoá

Trong xã hội học, XHH được sử dụng với nghĩa là quá trình con người

tiếp thu nền văn hoá của xã hội trong đó con người được sinh ra, quá trình

nhờ nó con người đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được

cách suy nghĩ, ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội hay là quá trình

chuyển biến cá nhân còn mang tính sinh vật sang cá nhân có tính cách xã

hội. Đây chính là quá trình XHH cá nhân, quá trình hình thành và phát triển

nhân cách.

Còn khái niệm XHH trong luận văn này thuộc phạm trù cách làm. XHH

là một khái niệm chỉ quá trình làm cho một cái gì đó mang tính xã hội hay

trở thành cái chung của xã hội, mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội

có trách nhiệm quan tâm. Đó là quá trình XHH các vấn đề, hoạt động xã

hội như XHH hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao...



Hiện



có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng

bản chất của XHH là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của

Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi

người dân, mọi lực lượng xã hội, tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có

kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc

giải quyết các vấn đề xã hội thực sự của dân, do dân và vì dân.

20



1.2.2 Khái niệm xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục nó thuộc phạm trù cách làm giáo dục.

Giáo dục về bản chất mang tính xã hội. Giáo dục và xã hội luôn gắn

bó, hoà quyện với nhau, hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển. Xã hội muốn

tồn tại và phát triển thì phải làm giáo dục. Ngược lại, giáo dục muốn phát

triển thì không thể tách ra khỏi đời sống xã hội, không thể không dựa vào

cộng đồng. Vì vậy, XHHSNGD là tìm cách hoàn nguyên bản chất xã hội

của giáo dục, gắn giáo dục với xã hội, với cộng đồng.

XHHSNGD được hiểu với nghĩa phổ biến nhất là làm cho toàn xã hội

làm giáo dục, tất cả cho giáo dục và giáo dục cho mọi người. XHHSNGD,

vì vậy bao hàm cả XHH trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người đối với giáo

dục và cả XHH quyền lợi của mọi người về giáo dục. Trong đó, XHH

quyền lợi giáo dục là mục tiêu chủ yếu, là cốt lõi của XHHSNGD. “ Mọi

người cho giáo dục” và “ giáo dục cho mọi người” là hai vấn đề có liên

quan chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, là hai đặc trưng của “xã hội học

tập”. Muốn giáo dục đến được với mọi người thì mọi người phải làm giáo

dục. Muốn mọi người có trách nhiệm đối với giáo dục thì giáo dục phải

phục vụ cho tất cả mọi người. Vì vậy, XHHSNGD cần phải đạt được hai

mục tiêu sau đây :

- Tạo cơ hội cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập

thường xuyên, học suốt đời.

- Khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát

triển giáo dục.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều người còn có quan niệm hẹp, thậm chí

sai lầm về XHHSNGD (bảng 1.1). Vì vậy, để có quan niệm đúng về

XHHSNGD cần quán triệt một số vấn đề sau:

- “XHHSNGD hoàn toàn không phải là một ý đồ chiến thuật, được vận

dụng một cách nhất thời cho một giải pháp tình thế. Vì vậy, không nên hiểu

21



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×