1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

3 Tổng quan về một số quan điểm xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 113 trang )


các mục tiêu giáo dục (hình thành nhân cách học sinh), cùng chịu trách

nhiệm trước đất nước về sản phẩm do giáo dục tạo ra. Trong sự phối hợp

này, nổi bật là mối quan hệ 2 chiều giữa nhà trường và các lực lượng xã hội

khác. Các lực lượng xã hội tích cực tham gia xây dựng giáo dục vì quyền

lợi của con em, của đất nước (trong đó có lợi ích của bản thân họ), đồng

thời xã hội đòi hỏi nhà trường phải phấn đấu vươn lên về mọi mặt nhằm

nâng cao chất lượng đào tạo.

Trong xã hội hiện đại giáo dục không chỉ là trách nhiệm của Nhà

nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội của mỗi gia đình và từng cá

nhân. Sự biến đổi nhanh chóng của xã hội cũng như bản thân giáo dục, việc

học tập trở thành một nhu cầu thường xuyên suốt đời của mỗi người, đòi

hỏi toàn xã hội phải quan tâm và nỗ lực cùng hợp tác thì mới giải quyết tốt

được các vấn đề của giáo dục.

XHHSNGD đòi hỏi phải thu hút được đông đảo các lực lượng xã hội

khác nhau tham gia vào các hoạt động đa dạng của giáo dục, tạo ra các môi

trường thuận lợi cho sự phát triển giáo dục.

Cuộc vận động này tạo ra một xã hội mỗi người cần phải đi học, mọi

người đều được học, học thường xuyên, suốt đời chính là khơi dậy truyền

thống hiếu học, tiềm năng học tập nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền

kinh tế – xã hội. Khắc phục từng bước sự chậm phát triển tiến dần vào xã

hội văn minh.

Quan điểm thứ hai: XHHSNGD là hệ mở rộng tính xã hội của sản

phẩm giáo dục.

Theo PGS.TS Hà Nhật Thăng: XHHSNGD được quan niệm là tận

dụng mọi tiềm năng của điều kiện chế độ xã hội sử dụng có hiệu quả các

nguồn lực, vật lực trong và ngoài nước vào sự nghiệp giáo dục nhằm đào

tạo thế hệ lao động mới, hoà nhập với cuộc sống và phát triển kinh tế - xã

hội, chủ thể tích cực của hoàn cảnh. XHHSNGD là toàn dân hoá, điều đó

25



có nghĩa là trả lại cho mọi người quyền được tham gia vào toàn bộ quá

trình giáo dục và được giáo dục, giáo dục suốt đời hay chính là sự cân bằng

động của quá trình giáo dục. Điểm hội tụ của XHHSNGD là đạt đến một

nhân cách hay nói cách khác là tính xã hội của sản phẩm giáo dục. Quá

trình giáo dục là quá trình dạy và học của nhà trường phải gắn liền với các

yêu cầu xã hội, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, dưới sự quản

lý vĩ mô của Nhà nước. Để thế hệ trẻ hoà nhập được với nhịp sống và sản

xuất xã hội, sự nghiệp giáo dục phải biến đổi thường xuyên theo nguyên tắc

đa dạng hoá từ mục tiêu đến chương trình, nội dung, hình thức giáo dục và

đào tạo. Để công tác giáo dục thực sự đi vào cuộc sống thực tiễn, các nhà

khoa học giáo dục, kinh tế giáo dục, các nhà nghiên cứu xã hội học, hướng

nghiệp, dạy nghề cần có những đề án gắn với thực tiễn kinh tế - xã hội.

Càng địa phương hoá, càng cụ thể hoá chương trình, nội dung giáo dục đào

tạo càng tạo ra những giá trị thiết thực cho xã hội. Dựa trên nguyên tắc: xác

định chiến lược giáo dục đúng đắn đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam thông minh,

sáng tạo, có bản lĩnh tự trọng, có khả năng lao động tự sống và đóng góp

xây dựng quê hương, đất nước, bảo vệ tổ quốc ...

XHHSNGD còn là sự chuẩn bị cho thế hệ trẻ, định hướng cho họ có

những hiểu biết về quy luật sự biến đổi không ngừng của cuộc sống xã hội

trong và ngoài nước, có khả năng thích ứng với những biến đổi đó của thời

đại để họ luôn là chủ thể trong mọi hoàn cảnh.

Quan điểm thứ ba: XHHSNGD là thực hiện quyền làm chủ thực sự

của nhân dân đối với sự nghiệp giáo dục. Nhà nghiên cứu giáo dục Mai

Đức Lượng đưa ra quan điểm XHHSNGD như sau:

Nhân dân phải thực sự làm chủ sự nghiệp giáo dục trên tất cả các

mặt. Mục tiêu giáo dục phải gắn chặt với môi trường kinh tế-xã hội địa

phương, của cả xã hội hiện tại và tương lai, nhằm đáp ứng lợi ích của người

đi học, của cha mẹ học sinh và cộng đồng xã hội. Người học có quyền lựa

26



chọn nội dung học thích hợp. Nhân dân thường xuyên tham gia điều hành

sự nghiệp giáo dục thông qua tổ chức của mình là hội đồng giáo dục dưới

sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước. Nhân dân còn gián tiếp và cả trực

tiếp tham gia vào quá trình giáo dục như tạo ra môi trường giáo dục lành

mạnh, lực lượng giáo dục quan trọng bên trong nhà trường, bổ sung kiến

thức xã hội cần thiết cho nhà trường giúp cho người học khi ra đời hội nhập

được vơí xã hội. Trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn một biện pháp

chủ yếu trước mắt là huy động nhân dân giúp đỡ xây dựng cơ sở vật chất,

chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên nhà trường. Khi nào mọi người

hiểu được sự nghiệp giáo dục đích thực là của dân, do dân, vì dân thì những

vấn đề khó khăn của giáo dục hiện nay mới dần được tháo gỡ.

XHHSNGD là chiến lược quan trọng của đường lối giáo dục ngày

nay vừa là yêu cầu của nền giáo dục vừa đáp ứng với nguyện vọng của

nhân dân, vừa phù hợp điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước ngày nay. Do

đó, XHHSNGD trước hết phải cụ thể hoá và xác định đúng mục tiêu giáo

dục theo yêu cầu mà xã hội đòi hỏi; đi đôi với nó là đa dạng hoá loại hình

trường học và chương trình học tạo cơ hội học tập cho mọi người.

XHHSNGD phải gắn với dân chủ hoá nhà trường tức là tạo môi trường xã

hội để đẩy mạnh công tác quản lý giáo dục.

Quan điểm thứ tư: XHHSNGD là cách thức làm giáo dục và dân chủ

hoá nhà trường. Theo GS.TS Đào Trọng Thi, XHHSNGD dựa trên các

nguyên tắc:

- Người học phải đóng học phí, người sử dụng sản phẩm của giáo dục đào tạo phải đóng góp chi phí theo hướng huy động đóng góp thoả đáng,

trợ cấp chính sách cho các đối tượng người học có hoàn cảnh khó khăn để

có điều kiện học tập.

- Trả công xứng đáng cho lao động trí tuệ

27



- Phương thức tổ chức hoạt động và huy động đóng góp phải đa dạng,

mềm dẻo. XHHSNGD đòi hỏi đa dạng hoá loại hình giáo dục-đào tạo.

- XHHSNGD cần kết hợp với dân chủ hoá nhà trường làm cho nhiều

người quan tâm và tham gia thực hiện, quản lý, kiểm tra các hoạt động giáo

dục-đào tạo: nhiều người, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ... được hưởng

giáo dục- đào tạo.

PTS. Nguyễn Văn Đản đã nêu: XHHSNGD là một hệ thống định

hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng xã hội trả lại nhiệm vụ giáo

dục của xã hội cho chính nó. Nội dung công tác XHHSNGD ở đây là nâng

cao dân trí bằng XHH cá nhân, đa dạng hoá các mô hình, loại hình giáo dục

tạo cơ hội cho các lực lượng xã hội tham gia giáo dục và được giáo dục.

Quan điểm thứ năm: Theo GS.TS Phạm Minh Hạc trong đường lối

phát triển giáo dục XHHSNGD là một tư tưởng chiến lược một con đường

phát triển giáo dục ở nước ta, XHHSNGD với ý nghĩa phổ biến là làm cho

toàn xã hội làm giáo dục.

Khái niệm XHHSNGD đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên

cứu với mục đích làm cho yếu tố giáo dục trở thành yếu tố nhân bản của xã

hội thể hiện ở chỗ XHHSNGD là công tác: làm cho xã hội nhận thức đúng

đắn vị trí, vai trò của giáo dục, thực trạng của giáo dục, nhận thức được

trách nhiệm của xã hội với giáo dục; làm cho giáo dục gắn với sự phát triển

kinh tế - xã hội; đa dạng hoá các nguồn làm giáo dục: tạo môi trường thuận

lợi cho việc xây dựng thúc đẩy các mục tiêu giáo dục. XHHSNGD gắn chặt

hữu cơ với dân chủ hoá giáo dục tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho sự

phát triển giáo dục.

Bảng1.2. Tóm tắt các quan điểm về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Quan điểm



Mục tiêu



Biện pháp



XHHSNGD là cuộc vận - Mở Hội đồng giáo dục các cấp



28



Quan điểm 1



Quan điểm 2



Quan điểm 3



Quan điểm 4



Quan điểm 5



động lớn mang tính

chất toàn xã hội

XHHSNGD là hệ mở

rộng tính xã hội của sản

phẩm giáo dục



XHHSNGD là thực

hiện quyền làm chủ

thực sự của nhân dân

đối với sự nghiệp giáo

dục

XHHSNGD là cách

thức làm giáo dục và

dân chủ hoá nhà trường

XHHSNGD là một tư

tưởng chiến lược, một

con đường phát triển

giáo dục ở nước ta



- Phối hợp mối quan hệ 2 chiều giữa nhà

trường và các lực lượng xã hội khác

- Các nhà khoa học giáo dục, kinh tế giáo dục,

các nhà nghiên cứu xã hội học, cần có những

đề án gắn với thực tiễn kinh tế - xã hội

- Định hướng cho thế hệ trẻ có những hiểu biết

về quy luật biến đổi không ngừng của cuộc

sống xã hội trong và ngoài nước

- Nhân dân tham gia điều hành sự nghiệp giáo

dục

- Nhân dân tham gia vào quá trình giáo dục

- Huy động nhân dân giúp đỡ xây dựng cơ sở

vật chất, chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo

viên nhà trường

- Người học phải đóng học phí, người sử dụng

sản phẩm của giáo dục - đào tạo phải đóng góp

chi phí

- Trả công xứng đáng cho lao động trí tuệ

Làm cho xã hội nhận thức đúng dắn vị trí, vai

trò, thực trạng của giáo dục, nhận thức được

trách nhiệm của xã hội với giáo dục; làm cho

giáo dục gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội;

tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng

thúc đẩy các mục tiêu giáo dục. Hình thành ý

thức xã hội mọi người làm giáo dục và được

hưởng giáo dục



Ngày nay, giáo dục có vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát

triển kinh tế-xã hội ở tất cả các nước trên thế giới, các nước phát triển cũng

như các nước đang phát triển. Giáo dục thực sự trở thành nhân tố phát triển

kinh tế. Văn minh trí tụê, kinh tế tri thức, sự phát triển vũ bão của thông

tin, khoa học, công nghệ... đòi hỏi nâng cao mặt bằng dân trí ngang tầm

thời đại. Vấn đề huy động nguồn nhân lực, làm phong phú nguồn trí tuệ vì

những mục tiêu kinh tế và phát triển xã hội....Vì thế ở các nước đều tập

trung đầu tư cho giáo dục bằng mọi nguồn lực (của cải và sức người).



29



Mặt khác, những vấn đề xã hội cũng vẫn được giải quết theo xu

hướng thúc đẩy phát triển kinh tế là nâng cao chất lượng cuộc sống bằng

những hưởng thụ vật chất và tinh thần cho con người theo từng cấp độ,

mức độ thực tế, thiết thực. Từ đó vấn đề dân chủ hoá đặt ra, mở đường cho

sự tham gia của mọi người vào các quá trình quản lý xã hội. Giáo dục cũng

được giải quyết theo tinh thần dân chủ hoá, phi tập trung hoá, trong đó vấn

đề mở rộng và vận động sự tham gia của xã hội, của mọi tầng lớp nhân dân

vào việc giáo dục cũng được đặt ra theo chiều hướng bức xúc hơn.

Cách giải quyết của mỗi nước tuy khác nhau do phụ thuộc vào hoàn

cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội, chính sách của từng nước, nhưng các nước

đều tiếp tục hoàn thiện hơn hoặc hướng tới mục tiêu: làm cho toàn dân

quan tâm, chăm lo đến giáo dục trong điều kiện và tình cảm của mình với ý

thức đầy đủ của một người công dân đã hiểu về giáo dục và đặc tính

chuyên biệt của nó, thông qua các hoạt động ở tầm vĩ mô như các luật, các

chế độ chính sách, các văn bản định hướng của Nhà nước hay của ngành

giáo dục ..., hay thông qua các hoạt động ở tầm vi mô như các hoạt động

của các cá nhân, của các gia đình, của các tổ chức xã hội ...

Nói tóm lại, xu thế chung của mọi nước khi tiến hành XHHSNGD là

tăng cường cộng đồng trách nhiệm, đa dạng hoá các loại hình truờng, lớp

và đa dạng hoá nguồn đầu tư, gắn môi trường giáo dục, đào tạo với mục

tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt coi trọng thể chế các nội dung

XHHSNGD.



Bảng1.3. Tóm tắt xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở một số nước trên

thế giới

Các nước

Liên xô

(cũ) và các



Mục tiêu

Huy động sự

tham gia của xã



Nội dung



Biện pháp



Đa dạng hoá Thực hiện sự kết hợp giáo dục giữa

các nguồn lực nhà trường, gia đình và xã hội



30



nước Đông

Âu



hội vào việc xây

dựng và phát triển

giáo dục

Huy động xã hội

tham gia vào giáo

dục



cho giáo dục



Huy động xã hội

tham gia làm giáo

dục, tập trung cho

việc phổ cập giáo

dục tiểu học

thông qua liên kết

đào tạo nghề, tìm

việc làm với nâng

cao trình độ văn

hoá phổ thông

Nâng cao trình độ

học vấn và việc

làm



Đa dạng hoá

các loại hình

học tập và

loại hình

trường lớp



Cộng đồng

hoá trách

nhiệm



Trung quốc



Ấn Độ



Philippin



Australia



Tăng nhịp độ đầu tư tài chính của

Nhà nước cho các địa phương, quyên

thu các khoản đóng góp cho giáo

dục, góp vốn cho phát triển giáo dục

từ các xí nghiệp, hầm mỏ, xây dựng

các loại quỹ giáo dục, đa dạng hoá

các loại hình giáo dục, liên kết giáo

dục với doanh nghiệp, liên kết giữa

các loại trường, các liên ngành đào

tạo ...

Huy động cộng đồng phát triển giáo

dục phi chính quy, mở các lớp học,

khoá học cho học sinh bỏ học, lưu

ban và trẻ không có điều kiện đến

trường.



- Giáo dục

hoá xã hội

- Đa dạng

hoá các loại

hình học tập



Lôi cuốn cộng đồng vào việc chuyển

giao công nghệ - kỹ thuật sản xuất, đi

đôi với việc giáo dục thanh thiếu

niên. Ở Philippin còn có trường học

ở xã chăm lo dạy văn hoá, dạy nghề

cho thanh niên và cả người lớn, do

địa phương xây dựng, thể hiện rất rõ

tinh thần XHHSNGD.

Giáo dục là cứu Thể chế hoá Lôi cuốn cộng đồng tham gia vào

tinh của đất nước trách nhiệm

giáo dục đang là vấn đề quan trọng

để cộng đồng có thể hỗ trợ công tác

quản lý và công tác giáo dục.



1.3.2 Mục tiêu của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Mục tiêu cơ bản, lâu dài của ngành giáo dục là nâng cao dân trí, đào

tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ IX, xây dựng xã hội có phong trào giáo dục mạnh, ổn

định; có mặt bằng dân trí cao, người lao động được bồi dưỡng kiến thức về

mọi mặt, làm nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng các loại

hình học tập để thu hút đông đảo người dân đến học.

Nâng cao chất lượng dạy và học, tạo mọi điều kiện để cho mọi người

có thể được học tập. Thực hiện đa dạng hoá các trường học như: Tiếp tục

31



phát triển các trường bán công, dân lập, tư thục… củng cố và hoàn thiện hệ

thống mạng lưới trường lớp ở các ngành học. Tập trung và quản lý tốt các

nguồn vốn chương trình mục tiêu, vốn xây dựng cơ bản để xây dựng cơ sở

vật chất trường học. Thực hiện tốt chính sách của Đảng đối với phát triển

giáo dục ở những nơi còn gặp nhiều khó khăn.

1.3.3 Nội dung chủ yếu của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Từ những năm 1990 Bộ giáo dục đã cùng với Công đoàn ngành giáo

dục mở cuộc vận động XHHSNGD và từ đó đến nay nội dung XHHSNGD

ngày càng phong phú. Để giáo dục bước vào thế kỉ 21 một cách vững chắc

Nhà nước cũng đã thể chế hoá cuộc vận động này và nêu rõ các nội dung

chủ yếu của XHHSNGD:

. Xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội, làm cho nền giáo

dục của chúng ta trở thành một nền giáo dục dành cho mọi người ở mọi lứa

tuổi đều có điều kiện học tập thường xuyên, học tập suốt đời, tạo một xã

hội học tập

. Xây dựng môi trƣờng giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm

sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo

dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội; tăng cường trách nhiệm của các

cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế xã hội, của gia đình, của từng người dân đối với giáo dục.

. Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, các hình thức học tập; trên cơ sở

củng cố các loại hình công lập, lấy đó làm nòng cốt của hệ thống giáo dục

quốc dân, tích cực phát triển các loại hình ngoài công lập để tạo thêm cơ

hội học tập, nâng cao trình độ cho mọi người, trước hết là thế hệ trẻ.

. Tăng cƣờng đầu tƣ ngân sách Nhà nƣớc và mở rộng các nguồn đầu

tư khác. Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong xã

hội để phát triển giáo dục.

32



. Tiếp tục cụ thể hoá, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và

của Nhà nước về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục và huy động cộng đồng.

Để ngắn gọn người ta thường gắn 5 nội dung XHHGD nêu trên với 5

chữ hoá như sau:

- Giáo dục hoá xã hội tức là tạo cơ hội học tập cho mọi người, tạo nên

một xã hội học tập.

- Cộng đồng hoá trách nhiệm đối với giáo dục

- Đa dạng hoá loại hình, hình thức giáo dục

- Đa phương hoá nguồn lực

- Thể chế hoá chủ trương XHHSNGD để chủ trương này nhanh chóng

đi vào cuộc sống [13].

.4 Điều kiện thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

. Đảng, Nhà nƣớc bằng quyền hạn và trách nhiệm của mình (ở cả vĩ

mô và vi mô) phải tạo ra các cơ chế, chính sách để triển khai XHHSNGD

và thể chế hoá các chủ trương XHHSNGD, đồng thời chỉ đạo, quản lý các

hoạt động XHHSNGD.

. Tăng cƣờng dân chủ hoá giáo dục, dân chủ hoá trường học, tạo môi

trường để nhân dân tích cực trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể đặt

ra cho giáo dục. Nâng cao mặt bằng dân trí, trau dồi hành vi đạo đức cho

thế hệ trẻ, xây dựng cảnh quan nhà trường, môi trường giáo dục ... ngày

càng tốt và thuận lợi cho việc giáo dục thế hệ trẻ theo đúng yêu cầu và mục

tiêu của địa phương và đất nước.

Ngành giáo dục phải chủ động triển khai XHHSNGD thông qua đội ngũ

quản lý, qua đội ngũ tham gia trực tiếp giáo dục và giảng dạy, đặc biệt là

qua việc nâng cao chất lượng đào tạo và giáo dục những “sản phẩm giáo

dục” sao cho phù hợp với những đòi hỏi của kinh tế - xã hội ở địa phương,

của Nhà nước và thời đại. Ngành giáo dục, đặc biệt là các cấp quản lý giáo

dục và người cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải năng động và phải thể

33



hiện vai trò nòng cốt của mình trong việc tham mưu với lãnh đạo địa

phương, với các tổ chức, các lực lượng xã hội khác ... trong việc triển khai

các chủ trương để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng cho giáo dục

theo định hướng của Đảng, Nhà nước và pháp luật.

. Xã hội hoá giáo dục là việc huy động toàn xã hội làm giáo dục

dưới sự quản lý của Nhà nước. Muốn thực hiện quản lý Nhà nước thì nó

phải thể chế hoá. Tức là làm cho sự tham gia của xã hội vào công tác giáo

dục được thể hiện theo những quy định, luật lệ, ... ổn định, mang tính pháp

lý, có chính sách, chế độ rõ ràng, dân chủ và công bằng.

Đại hội giáo dục các cấp là một hình thức thể chế hoá. Thể chế về tổ

chức là một Đại hội toàn dân; nó đại diện cho nguyện vọng, nhu cầu của

mọi tầng lớp xã hội, mọi cơ quan và tổ chức xã hội, tập trung ý chí và trí

tuệ của cả cộng đồng, tập hợp sức mạnh của quần chúng thành tổ chức. Hội

đồng giáo dục cơ sở là một hình thức thể chế hoá về mặt tổ chức do Đại hội

giáo dục bầu ra.

Thể chế hoá về mặt luật pháp, văn bản là hệ thống các nghị quyết của

Đại hội. Những nghị quyết đó sẽ biến thành chủ trương, nghị quyết của Hội

đồng nhân dân và chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp. Như là ý nguyện

của toàn dân được đảm bảo bằng những văn bản pháp lý, tạo cơ sở pháp lý

cho mọi hoạt động XHHGD. Ngoài ra, những cam kết, thoả thuận, hợp

đồng ... cũng là sự thể chế hoá các mối quan hệ.

Nói chung Đại hội giáo dục tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động tham

gia giáo dục, đảm bảo tính bền vững của phong trào.

1.3.5 Ý nghĩa của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

- Nâng cao tính nhân dân, bản sắc dân tộc của nền giáo dục nước ta, tiếp

tục khẳng định chân lý: Giáo dục là sự nhgiệp của quần chúng, đề cao một

nền giáo dục của nhân dân, do dân và vì dân. XHHSNGD cũng là cơ hội

giáo dục quần chúng qua thực tiễn nhằm nâng cao trình độ và năng lực giáo

34



dục và tự giáo dục của mỗi người, của mỗi tổ chức và lực lượng tham gia

vào sự nghiệp này.

- XHHSNGD sẽ là tạo ra một “xã hội học tập” vừa phát huy truyền

thống của dân tộc ta - một dân tộc hiếu học - thực hiện “ai cũng được học

hành” và phù hợp với xu hướng của thời đại “học tập thường xuyên”, “học

suốt đời”, giáo dục cho mọi người. Nó sẽ góp phần nâng cao dân trí, đào

tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.

- XHHSNGD góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát

huy hiệu quả xã hội của giáo dục. Sự tham gia của xã hội góp phần thể chế

hoá mục tiêu giáo dục thích hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của

đất nước và từng địa phương, góp phần mở rộng nội dung giáo dục cho sát

với cuộc sống, xây dựng nên những môi trường thuận lợi cho giáo dục và

đào tạo con người, tăng cường lực lượng của người dạy và người học, phát

triển yếu tố nội sinh là chính con người trong giáo dục, tạo nhanh điều kiện

vật chất và tinh thần để nâng cao chất lượng giáo dục.

- XHHSNGD góp phần làm cho giáo dục phục vụ những mục tiêu phát

triển kinh tế - xã hội của địa phương. Giáo dục và kinh tế - xã hội vốn có

những mối quan hệ mang tính quy luật. Sự tham gia của xã hội ở tầm vĩ mô

cũng như vi mô vào sự nghiệp giáo dục sẽ làm cho giáo dục gắn bó với mọi

mặt của đất nước và từng địa phương, nhà trường sẽ gắn với xã hội, giáo

dục gắn với cộng đồng, phát triển bằng sức mạnh của cộng đồng và vì

những mục tiêu của cộng đồng. Nếu như XHHSNGD thực sự thấm nhuần

quan điểm về vùng, địa phương thì sẽ là một công cụ đắc lực của địa

phương và bản thân giáo dục sẽ thu hút được sức mạnh, tiềm năng của địa

phương.

- XHHSNGD là một con đường để thực hiện dân chủ hoá giáo dục. Hai

phạm trù này có mối quan hệ với nhau rất biện chứng. Nhờ dân chủ hoá mà

mở rộng lực lượng xã hội tham gia giáo dục và ngược lại, xã hội hoá chính

35



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×