1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

3 Tình hình xã hội hoá sự nghiệp giáo dục của huyện An Dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 113 trang )


Bảng 2.5. Nhận thức về các nội dung của xã hội hoá sự nghiệp

giáo dục ở huyện An Dương

ST



Lãnh đạo



Đại diện các



T



địa phương



ban ngành,



Nhân dân



Kết quả

chung



đoàn thể

Quan niệm về XHHSNGD



1

2

3



4



5



6



Giáo dục hoá xã hội

Cộng đồng hoá trách

nhiệm

Đa phương hoá các nguồn

lực

Đa dạng hoá các loại hình

học tập, loại hình trường,

lớp

Thể chế hoá trách nhiệm,

quyền lợi của các lực

lượng xã hội tham gia

XHHSNGD

Cả 5 nội dung trên



SL

22



%



SL

105



%



SL

355



%



SL

482



%



7



31.8



32



30.5



124



34.9



163



33.8



8



36.4



44



41.9



113



31.8



165



34.2



7



31.8



37



35.2



146



41.1



190



39.4



6



27.3



19



18.1



81



22.8



106



22



3



13.6



10



9.5



21



5.9



34



7.1



12



54.5



55



52.4



124



34.9



191



39.6



Kết quả được nêu trong Bảng 2.5 cho thấy, nhìn chung các nhóm đối

tượng còn chưa hiểu đầy đủ các nội dung của XHHSNGD. Chỉ hơn một

nửa (54.5%) lãnh đạo địa phương và 52.4% đại diện các ban, ngành, đoàn

thể nhận thức đầy đủ cả 5 nội dung của XHHSNGD đã nêu. Số còn lại chỉ

nêu 1 hoặc 2, hoặc 3 nội dung.

* Nhận thức về ý nghĩa của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Kết quả được nêu trong Bảng 2.6 cho thấy, phần lớn ( 95.9% ) những

người được hỏi đều thấy ý nghĩa của XHHGD trong việc tạo thêm nguồn

lực cho xã hội. 86.7% cho rằng XHHGD sẽ tạo thêm nhiều cơ hội học tập

cho thanh niên. Tiếp theo là ý nghĩa của XHHGD trong việc hỗ trợ cơ sở

vật chất, trang thiết bị, tài liệu dạy học (59.5%).

50



Bảng 2.6. Nhận thức về ý nghĩa của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

ở huyện An Dương



1

2

3

4

5



6

7



Ý nghĩa của XHHSNGD



Tăng thêm nhiều cơ hội

học tập cho học sinh

Tạo thêm nhiều nguồn lực

cho xã hội

Góp phần đa dạng hoá các

chương trình, nội dung

Huy động đội ngũ giáo

viên

Hỗ trợ cơ sở vật chất,

trang thiết bị, tài liệu dạy

và học

Làm cho giáo dục gắn với

cộng đồng

Góp phần nâng cao chất

lượng, hiệu quả của GD



Lãnh đạo

địa phương



Đại diện các

ban ngành,

đoàn thể



Nhân dân



SL

22



ST

T



%



SL

105



%



SL

355



18



81.8



84



80



20



90.9



100



21



95.5



21



Kết quả

chung



%



SL

482



%



316



89



418



86.7



95.2



342



96.3



462



95.9



92



87.6



116



32.8



229



47.5



95.5



103



98.1



161



45.4



285



59.1



11



50



69



65.7



321



90.4



287



59.5



17



77.3



88



83.8



160



45.1



243



55



14



63.6



61



58.1



116



32.7



191



39.6



Tuy nhiên, cũng còn nhiều người chưa nhận thức đúng đắn về ý nghĩa

của XHHSNGD trong việc đa dạng hoá chương trình, nội dung, trong việc

góp phần nâng cao chất lượng của giáo dục hoặc làm cho giáo dục gắn với

cộng đồng. Lãnh đạo địa phương và các ban, ngành, đoàn thể đánh giá cao

3 ý nghĩa sau của XHHSNGD trong việc tạo thêm nguồn lực cho xã hội,

trong việc đa dạng hoá chương trình, nội dung và trong việc huy động giáo

viên tình nguyện. Còn dân thì lại thấy ý nghĩa của XHHSNGD ở chỗ tạo

thêm nguồn lực, hỗ trợ cơ sở vật chất và tạo thêm cơ hội học tập cho học

sinh. Tuy nhiên, sự tham gia trực tiếp của các lực lượng xã hội vào xây

dựng chương trình, biên soạn nội dung hay trực tiếp giảng dạy còn ít được

51



người dân thấy rõ ( chỉ có 32.8 % và 45.4% ). Tất nhiên đây là yêu cầu cao

và cũng là yêu cầu khó đối với XHHSNGD.

* Nhận thức về tầm quan trọng của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Kết quả trưng cầu ý kiến cho thấy, không chỉ lãnh đạo địa phương,

đại diện các ban, ngành đoàn thể, mà cả nhân dân đều có nhận thức đúng về

tầm quan trọng và tính cấp thiết của XHHSNGD. 85.5% cho rằng

XHHSNGD là rất quan trọng và 82.2% cho rằng XHHSNGD là cần thiết

và cấp bách.

Bảng 2.7. Nhận thức về tầm quan trọng và cấp thiết của xã hội

hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện An Dương

Lãnh đạo

địa phương

ST

T



Tầm quan trọng và cấp

thiết của XHHSNGD



Đại diện các

ban ngành,

đoàn thể



Nhân dân



SL



SL

105



SL

355



2



XHHSNGD là rất quan

trọng

XHHSNGD là rất cấp

thiết



%



SL

482



22

1



%



Kết quả

chung



%



%



21



95.5



92



87.6



300



84.5



413



85.7



20



90.9



77



73.3



289



81.4



386



80.1



Tuy nhiên, nhận thức của các lãnh đạo địa phương có cao hơn so với

nhận thức của đại diện các ban, ngành, đoàn thể và của nhân dân. Nếu như

95.5% lãnh đạo nhận thức được tầm quan trọng của XHHSNGD, thì chỉ có

87.6% đại diện các ban, ngành, đoàn thể và 84.5% dân nhận thức được vấn

đề này. Tương tự như vậy đối với nhận thức về tính cấp thiết của

XHHSNGD.

* Nhận thức về vai trò của xã hội, của Nhà nước và của ngành giáo

dục đối với xã hội hoá sự nghiệp giáo dục



52



Có thể nói rằng, các nhóm đối tượng nhìn chung đều nhận thức đúng

vai trò của xã hội, Nhà nước và ngành giáo dục trong XHHSNGD. 86.4%

lãnh đạo địa phương, 89.5% đại diện các ban, ngành và 77.7% nhân dân

cho rằng Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, 81.8% lãnh đạo địa phương, 81.9%

đại diện các ban, ngành và 75.2% nhân dân nhất trí rằng ngành giáo dục

phải giữ vai trò chủ động. Tuy nhiên, cũng còn 20 - 23% có nhận thức chưa

đúng đắn về vai trò tham gia của xã hội, vai trò chủ đạo của Nhà nước và

vai trò chủ động của ngành giáo dục trong XHHSNGD.

Bảng 2.8. Nhận thức về vai trò của xã hội, Nhà nước và ngành

giáo dục đối với xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện An Dương

Đại diện các

Lãnh đạo

ST



ban ngành,



địa



Kết quả



đoàn thể



Nội dung XHHSNGD



Nhân dân



chung



phương



T



SL



SL



SL



SL



22



%



105



%



355



%



482



%



1



Nhà nước giữ vai trò chủ đạo



19



86.4



94



89.5



276



77.7



389



80.7



2



Xã hội giữ vai trò tham gia



18



81.8



86



81.9



267



75.2



371



76.9



3



Ngành giáo dục giữ vai trò



18



81.8



86



81.9



267



75.2



371



76.9



chủ động



2.3.2 Kết quả của công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện

An Dương trong những năm qua:

2.3.2.1 Một nền giáo dục cho mọi người:

XHHSNGD trước hết là phải mang giáo dục đến cho mọi người, cho

toàn xã hội. Về mặt này, những năm qua huyện An Dương đã thực sự tạo

được một phong trào học tập sâu rộng, tạo cơ hội cho mọi người có nhu cầu

học tập thì đều được học, học dưới các loại hình trường lớp khác nhau.

53



Theo báo cáo số 38 ngày 23/3/2004 của phòng giáo dục huyện An Dương

ta có kết quả phổ cập giáo dục như sau:

+ Phổ cập giáo dục tiểu học: được tiếp tục duy trì, giữ vững và nâng

cao chất lượng 3 tiêu chuẩn phổ cập tiểu học và chống mù chữ đều đạt từ

99.6% đến 99.8%

+ Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi: có nhiều tiến bộ 15/16 xã,

thị trấn đạt các tiêu chuẩn PCGD tiểu học đúng độ tuổi từ 91.8% đến

99.3%. Cụ thể:

Tiêu chuẩn 1:

Trẻ em sinh năm 1996 vào lớp 1 đạt 99.3%

Trẻ em sinh năm 1992 vào lớp 1 năm 1998 đạt 93.9%. Tốt nghiệp lớp 5

tháng 5/2003 đạt 91.8%. Số còn lại đang học tiểu học và THCS.

Tiêu chuẩn 2:

Bình quân giáo viên / lớp: 1.27; 96.8% giáo viên có trình độ chuẩn, trên

chuẩn

Tiêu chuẩn 3:

Số khu trường: có 46 khu trường. Đạt chuẩn Quốc gia: 7 trường; đang

đề nghị 2 trường (Lê Thiện, Bắc Sơn), toàn huyện xây dựng 30 lớp học

chuẩn. Nhìn chung về cơ sở vật chất đủ các điều kiện tối thiểu phục vụ cho

dạy và học. 100% học sinh lớp 1, lớp 2 được học bán trú, 2 buổi / ngày.

Học sinh tất cả các khối lớp từ lớp 1 đến lớp 5 được học bán trú 2 buổi /

ngày là 53.48%.

Phổ cập trung học cơ sở: Công tác phổ cập và duy trì sĩ số: để duy trì

giữ vững các tiêu chuẩn PCGD THCS theo quyết định số 26 ngày 5/7/2001

của Bộ Giáo dục và đào tạo: phòng giáo dục đã tập trung chỉ đạo, đôn đốc,

kiểm tra vận động và tổ chức được 5 lớp phổ cập với 136 học sinh.

Các tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở theo quyết định 26 ngày

5/7/2001 được công nhận như sau:

54



Tiêu chuẩn 1:

An Dương đạt và duy trì chuẩn Quốc gia phổ cập giáo dục tiểu học và

chống mù chữ. Toàn huyện có 16/16 xã thị trấn đạt chuẩn phổ cập trung

học cơ sở theo quyết định số 26 ngày 5/7/2001 của Bộ GD & ĐT đạt tỷ lệ

100%.

Đảm bảo các môn học đã thực hiện đầy đủ theo chương trình của Bộ

GD & ĐT. Huy động học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 là 95%

Tiêu chuẩn 2:

Thanh thiếu niên độ tuổi 15 đến 18 tốt nghiệp THCS đạt tỷ lệ 84.4%

Phổ cập giáo dục bậc trung học và nghề:

Tiêu chuẩn huy động:

Số đối tượng từ 15 đến 21 phải phổ cập là: 19693 đã tốt nghiệp trung

học cơ sở: 15915/19693 = 80.8%

Số vào học cả 4 loại hình (THPT, BTTHPT, THCN, trường nghề) đạt:

62.4%

Tiêu chuẩn hiệu quả:

Số đối tượng từ 18 đến 21 phải phổ cập là 10904. Số đã tốt nghiệp cả 4

loại hình là: 4050 = 37.1%.

Học sinh lớp 12 năm học 2002-2003: 1147 học sinh, đã tốt nghiệp: 1141

đạt tỷ lệ: 99.5%.

Cả 2 tiêu chuẩn phổ cập trung học và nghề còn thiếu rất nhiều.

Hiện nay: tiêu chuẩn huy động xếp thứ 9/13 quận, huyện trên toàn thành

phố.

Tiêu chuẩn hiệu quả xếp thứ 13/13 quận huyện trên toàn thành phố.

Tình hình xây dựng trường chuẩn Quốc gia:

Căn cứ Chỉ thị số 28 ngày 26/8/2003 về việc thực hiện nhiệm vụ năm

học 2003-2004 của UBND thành phố Hải Phòng. UBND huyện An Dương

có Chỉ thị số 04 ngày 13/10/2003 về việc thực hiện nhiệm vụ năm học

55



2003-2004, công văn số 437 ngày 6/11/2003 “Về việc giành quỹ đất xây

dựng trường chuẩn Quốc gia giai đoạn 2003-2010”, công văn số 465 ngày

26/11/2003 về việc thành lập trung tâm học tập cộng đồng ở các xã, thị trấn

gửi tới các ban ngành, các cơ quan đoàn thể, UBND các xã, thị trấn, các

trường học trong toàn huyện An Dương. Ngày 19/12/2003 UBND huyện

An Dương đã mở hội nghị bàn chuyên đề về xây dựng cơ sở vật chất giành

đủ số đất để xây dựng trường chuẩn Quốc gia từ nay đến năm 2007 với Bí

thư, chủ tịch UBND, chủ tịch HĐGD, Hiệu trưởng các trường mầm non,

tiểu học, THCS, THPT các xã, thị trấn và các ban ngành trong toàn huyện

tại trường THPT Nguyễn Trãi. Tại hội nghị này, Huyện uỷ, HĐND, UBND

huyện đã giao nhiệm vụ cho các xã thị trấn có kế hoạch giành đủ quỹ đất

xây dựng các nhà trường đạt chuẩn Quốc gia và cho kinh phí trang bị nội

thất các phòng chức năng hoàn thành vào quý 1 năm 2004. Đây là một hội

nghị rất có chất lượng và rất thành công, thể hiện sự quan tâm của các cấp,

các ngành, các lực lượng xã hội tới phong trào giáo dục của huyện nhà.

Hiện nay ngành giáo dục huyện An Dương đã có 7 trường tiểu học đạt

chuẩn Quốc gia: An Hưng, Tân Tiến, An Hồng, Nam Sơn, Đặng Cương,

Đồng Thái, An Dương và một trường THPT đạt chuẩn Quốc gia đó là

trường THPT Nguyễn Trãi.

Năm học 2004-2005 có các trường tiểu học: Lê Thiện, Hồng Phong,

Bắc Sơn, Lê Lợi, Hồng Thái, An Đồng được công nhận trường chuẩn Quốc

gia.

Năm 2004: các trường mầm non An Dương, Tân Tiến, Nam Sơn,

THCS An Đồng được công nhận trường chuẩn

Năm 2005: các trường mầm non Đặng Cương, An Hưng, Lê Lợi, An

Đồng, Đồng Thái, Hồng Thái; THCS Đặng Cương, Tân Tiến, Nam Sơn,

Hồng Thái, An Hưng, Đồng Thái An Dương, Lê Lợi được công nhận

trường chuẩn Quốc gia.

56



Các trường khác đăng ký đạt chuẩn vào năm 2007. Hiện nay một số

trường đã xây dựng hoàn thành phòng học, phòng chức năng như: Tiểu học

Hồng Phong, Hồng Thái, An Hoà, Lê Lợi, Đặng Cương, THCS An Đồng,

Đồng Thái… 100% số xã, thị trấn đã có kế hoạch giành đủ diện tích đất để

xây dựng các trường học đạt chuẩn Quốc gia.

Đánh giá chung:

Phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ đã trở thành nề nếp ở các

đơn vị, thị trấn từ nhiều năm nay trong toàn huyện. Song độ tuổi từ 11-14

còn học ở tiểu học khá nhiều (201em). Do vậy rất ảnh hưởng đến kết quả

PCTH đúng độ tuổi trong những năm tiếp theo. Công tác phổ cập giáo dục

tiểu học đúng độ tuổi tuy đã đạt chuẩn từ năm 2001 song vẫn còn 1 xã An

Hoà chưa đạt các tiêu chuẩn về PCGD tiểu học đúng độ tuổi.

Công tác phổ cập trung học cơ sở theo như kết quả báo cáo ở trên tỷ

lệ độ tuổi 15-18 tốt nghiệp THCS đạt 84.4% là còn rất thấp. Vì một số đơn

vị còn có học sinh bỏ học chưa thực sự tích cực vận động các em ra lớp phổ

cập hoặc còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện như xã Lê

Thiện, Đại Bản, An Hưng, Bắc Sơn.

Công tác phổ cập trung học và nghề: Sau một năm thực hiện hướng

dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai PCTH triển khai đề án

PCGD trung học cơ sở đúng độ tuổi và PC THPT và nghề trên địa bàn

thành phố Hải Phòng của Sở Giáo dục và Đào tạo. Dưới sự chỉ đạo, lãnh

đạo điều hành của huyện uỷ, HĐND, UBND huyện An Dương, với sự cố

gắng nỗ lực vượt bao khó khăn của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các

đoàn thể, của nhân dân, của đội ngũ cán bộ quản lý, các thầy cô giáo trong

các trường tiểu học, THCS, THPT, trung tâm giáo dục thường xuyên và

toàn ngành giáo dục huyện An Dương song các tiêu chuẩn về PCTH và

nghề còn rất thấp, vì vậy theo đề án PCTH và nghề từ nay đến năm 2010

huyện An Dương có thể đạt chuẩn là rất khó khăn đối chiếu với các tiêu

57



chuẩn huy động, hiệu quả và điều kiện trong đó tiêu chuẩn huy động là khó

khăn nhất mới chỉ đạt 62.4% còn thiếu 32.6% mới đạt chuẩn. Tiêu chuẩn

hiệu quả mới chỉ đạt 37.1% còn thiếu 37.9% so với chuẩn.

Mặc dù còn một số hạn chế như trên, nhưng nhìn chung ngành giáo

dục và đào tạo huyện An Dương đã phát triển khá đồng đều cả về quy mô,

số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu đa dạng về học tập cho tất cả

thanh thiếu niên trong toàn huyện. Giáo dục - đào tạo ở huyện An Dương

đã là của mọi người.

2.3.2.2 Huy động toàn xã hội tham gia xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Quán triệt chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục và đào tạo của

Trung ương Đảng và Chính phủ, huyện An Dương đã thể hiện sự đánh giá

cao vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triển kinh tế - xã hội của

huyện An Dương. Kế hoạch số 02/KH-HU ngày 05/5/1997 của huyện uỷ

An Dương về phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo của huyện đã đề ra

những mục tiêu, giải pháp lớn để chấn hưng giáo dục - đào tạo của huyện

trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

Thực hiện chủ trương đó của huyện uỷ An Dương, HĐND, UBND

huyện An Dương đã cụ thể thành các chương trình, kế hoạch công tác

nhằm đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở huyện An Dương. Nhiều

Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND huyện đặt ra những chế độ,

chính sách quan trọng cho giáo dục.

Dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ, UBND huyện và ngành GD&ĐT đã

phối hợp với các cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp, tổ chức Đại hội giáo

dục các cấp. Các địa phương mở Đại hội giáo dục đều chuẩn bị tốt nội

dung đại hội, công tác tổ chức, tuyên truyền, trong và sau đại hội đếu thực

hiện tốt, đã tạo được dư luận và sự quan tâm to lớn của xã hội về chủ

trương phát triển giáo dục. Đến nay nhiều Hội đồng giáo dục hoạt động có

hiệu quả.

58



* Xã hội hoá giáo dục ở các địa phương:

Phong trào XHHSNGD ở các địa phương thuộc huyện An Dương

rất phong phú và đa dạng. Nguyên nhân cơ bản là do cơ chế của xã hội

hoá giáo dục là cơ chế vận động, do mỗi địa phương có một nét đặc

thù của truyền thống, văn hoá, đặc thù nghề nghiệp… từ đó hình thành

những cách làm giáo dục khác nhau. Chính vì vậy mà đã tạo nên bức

tranh XHHSNGD khá đa dạng. Có thể nêu một vài điển hình:

Ở xã Đặng Cương: Đây là một xã nghèo thuần nông vừa xa trung

tâm, vừa không thuận lợi về giao thông nên mối giao lưu kinh tế, văn

hoá, xã hội gặp nhiều khó khăn. Mức sống của người dân thấp, trình

độ dân trí cũng thấp và không đồng đều. Tuy nhiên, xuất phát từ nhận

thức đúng đắn về GD&ĐT, cấp uỷ và chính quyền địa phương đã có

những giải pháp tích cực tạo ra phong trào toàn xã hội chăm lo sự

nghiệp giáo dục. Và trên thực tế, liên tục nhiều năm gần đây, Đặng

Cương luôn là đơn vị dẫn đầu khối giáo dục các xã trong huyện.

Hội đồng giáo dục của xã đã tham mưu với cấp uỷ và chính quyền

xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển giáo dục, mức đóng góp đối với mỗi

cán bộ viên chức Nhà nước là một ngày lương một năm, đối với hộ

nông dân là 28.000đ/năm. Xã đã thành lập Hội khuyến học và duy trì

nguồn quỹ khuyến học. Xã đã phân công cho các tổ chức, đoàn thể xã

hội chịu trách nhiệm đỡ đầu các nhà trường, như Hội Phụ nữ đỡ đầu

trường Mầm non, Hội Cựu chiến binh đỡ đầu trường Tiểu học, Đoàn

Thanh niên đỡ đầu trường Trung học cơ sở.

Đặng Cương là địa phương thường xuyên tổ chức hội thảo chuyên

đề xã hội hoá giáo dục nhằm phát hiện và nhân các cách làm hay, có

hiệu quả cao. Năm 2003, Đặng Cương sáng tạo một cách làm mới: mở

Hội nghị tuyên dương các gia đình có nhiều đóng góp cho giáo dục, có

59



con cái thành đạt và ghi tên những em có thành tích cao trong học tập

vào sổ danh dự của xã.

Phong trào xây dựng trường đẹp ở Đặng Cương được duy trì

thường xuyên và có kết quả nhờ sự quan tâm của các tổ chức đoàn thể

xã hội. Các nhà trường hàng ngày đều có đại diện của Hội cha mẹ học

sinh hoặc đại diện của các đoàn thể đến trông nom, chăm sóc, sửa

sang cảnh quan môi trường trong khuôn viên nhà trường như vun xới

vườn sinh vật cảnh, xén tỉa cây hoa, cây cảnh, vệ sinh hòn non bộ, hồ

sinh thái… Vì vậy, hệ thống trường học ở Tiên Lãng vừa khang tran g,

vừa sạch đẹp không chỉ đáp ứng nhu cầu học tập mà còn là nơi vui

chơi giải trí của học sinh.

* Xã hội hoá giáo dục ở các nhà trường:

Điểm nổi bật trong phong trào XHHSNGD ở các nhà trường của

An Dương là công tác tuyên truyền, vận động tạo ra sự chuyển biến

tích cực trong nhận thức của nhân dân về sự nghiệp Giáo dục - Đào

tạo. Nhân dân hiểu giáo dục, chia xẻ khó khăn với giáo dục và cùng

tham gia làm giáo dục trở thành truyền thống ở nhiều nhà trường. Có

thể nêu một số điển hình về phương thức tổ chức hoạt động xã hội hoá

trong truờng học.

Vào đầu năm học, hầu hết các nhà trường phối hợp với Hội cha

mẹ học sinh tổ chức cam kết trách nhiệm giữa cha mẹ học sinh và nhà

trường trong việc chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ. Bản cam kết do các nhà

trường căn cứ vào tình hình cụ thể, bàn với Hội cha mẹ học sinh, xây

dựng nội dung cho phù hợp. Song dù ở địa bàn nào vẫn phải đảm bảo

một số quy định trách nhiệm sau:

- Đối với nhà trƣờng:

+ Dạy đúng, đủ chương trình, đảm bảo chất lượng.

+ Chú ý giáo dục toàn diện.

60



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×