1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.75 MB, 121 trang )


mình. Để giúp cho HĐGDNGLL đạt hiệu quả cao cần phải có sự đồng thuận

của tất các các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường [9, tr. 5], [22,

tr.4].

Đến thế kỷ 21, các nghiên cứu trên thế giới đều khẳng định lại mặt tích

cực của HĐGDNGLL trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển cả

IQ và EQ cho học sinh, sinh viên. Năm 1987, A. Chickering và cộng sự đã

trình bày 7 nguyên tắc vàng để đạt hiệu quả trong học tập tại trường phổ

thông trong đó ông nhấn mạnh vai trò của các hoạt động ngoài giờ học. Ông

cho rằng các hoạt động ngoài giờ tại trường cũng như tại cộng đồng dân cư

đều có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của học sinh bậc

THPT. Và đặc biệt nó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho

các em [21, tr.3-5].

C. Bowell (1991), đã trình bày rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của phương

pháp học tích cực. Trong bài: “Tạo hứng thú trong lớp học” ông đã nêu những

nguyên tắc hoạt động cơ bản của giáo viên, cách tổ chức giảng bài của giáo

viên, hoạt động của học sinh cũng như các hoạt động GDNGLL bổ trợ để tạo

một tiết học có chất lượng. Giáo viên hoạt động như một người hướng dẫn,

nêu vấn đề, hướng học sinh giải quyết những vấn đề cơ bản không lệch hướng.

Các hoạt động trong nghỉ giữa tiết, cũng như hoạt động ngoại khóa cần thiết

và cụ thể, có sự khác biệt cho từng môn học để tạo tiết học có chất lượng cao

[19, tr.2].

Năm 2002 tác giả W. Braga (Boston, Mỹ) đã nêu vai trò của việc sử dụng

Internet như một HĐGDNGLL để bổ sung kiến thức đa dạng và phong phú

mà hình thức này đem lại. Song ông cũng nhấn mạnh vai trò của các nhà quản

lý chương trình trong việc đem lại lợi ích sử dụng thông tin cho học sinh,

ngăn cản các thông tin xấu mà hình thức hoạt động này đem lại [20, tr.2-9].

Năm 2006 E. Graaff đã trình bày các phương pháp học tích cực. Trong

nghiên cứu của mình ông nhấn mạnh lợi ích của phương pháp học tích cực,



6



các yếu tố tạo nên cách học tích cực, và đặc biệt nhấn mạnh vai trò của

HĐGDNGLL trong việc làm mới cách suy nghĩ của học sinh để tự thực hiện

giờ học mà mình là chủ thể, thầy cô giáo chỉ là những người hướng dẫn, kết

luận vấn đề [24, tr.12].

P. Neto (2008) đã đưa ra luận điểm khoa học nhấn mạnh vai trò của nhà

trường, xã hội trong việc phát huy hiệu quả các hoạt động học tập ngoại khóa

cho học sinh bậc THPT. Để hoạt động ngoại khóa có chất lượng góp phần

nâng cao chất lượng học tập của học sinh, các hoạt động này phải đa dạng về

hình thức, phong phú về nội dung, các nội dung cần theo một chủ đề cụ thể,

có như thế học sinh mới hoạt động hiệu quả các giờ học ngoại khóa [27, tr.6].

Năm 2010 EP. Hobin đã trình bày sự kết hợp giữa giáo dục thể chất và

giáo dục kiến thức cho học sinh bậc THPT. Tác giả đã nhấn mạnh sự phù hợp

các hình thức sinh hoạt, nội dung sinh hoạt theo lứa tuổi, tâm sinh lý để nâng

cao chất lượng quản lý HĐGDNGLL của cán bộ, thầy cô và nâng cao hiệu

quả học tập của học sinh [25, tr.43-45].

Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới đều khẳng định vai trò của

HĐGDNGLL trong nhà trường phổ thông nói chung và THPT nói riêng,

nhằm nâng cao chất lượng học tập để đạt mục tiêu đào tạo học sinh có nhân

cách tốt, phát triển toàn diện.

1.1.2. Các nghiên cứu trong nƣớc

Vấn đề đào tạo toàn diện cho lớp học sinh đã được Đảng và Nhà nước

ta quan tâm và đưa vào mục tiêu đào tạo cho từng cấp học, bậc học. Vào

những năm đầu cách mạng, Hồ Chủ Tịch đã giao nhiệm vụ cho các Thầy Cô

cần đào tạo cho các em học sinh vừa hồng vừa chuyên. Bác đã phát biểu

trong hội nghị giáo dục toàn quốc năm 1960: “Nhiệm vụ của ngành giáo dục

vô cùng nặng nề. Giáo dục cần đưa mục tiêu đào tạo con người mới XHCN

đáp ứng được việc bảo vệ và xây dựng đất nước” [9, tr.7-8]. Bác cũng đã

nhấn mạnh rằng cần phát huy tinh thần tự học của học sinh, sử dụng nhiều



7



hình thức dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo của toàn ngành giáo dục.

Từ khi đất nước thống nhất, giáo dục phổ thông đã coi HĐGDNGLL là một

loại hình giáo dục không thể thiếu trong mục tiêu phát triển nhân cách và giáo

dục toàn diện học sinh THPT.

Nhận thức rõ vai trò của HĐGDNGLL trong việc nâng cao chất lượng

đào tạo của các trường THPT, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề

quản lý và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của HĐGDNGLL. Trong

luận văn cao học của Bùi Đức Thảo (2007): “Biện pháp tổ chức phối hợp giữa

nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học

sinh Trung học phổ thông huyện Mỹ Đức, Hà Tây hiện nay” đã nêu tầm quan

trọng của các hoạt động GDNGLL ảnh hưởng đến hình thành nhân cách, định

hướng suy nghĩ và hành động cho đối tượng học sinh THPT. Tuy tác giả

không tập trung vào các biện pháp quản lý HĐGDNGLL, nhưng đã khẳng

định vai trò của các hoạt động ngoại khóa, trong mối liên quan giữa nhà

trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh THPT

[16, tr. 58-64].

Khuất Cao Bắc (2008) đã khẳng định HĐGDNGLL ở các trường THPT

huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây bao gồm nhiều hình thức hoạt động khác nhau.

Tùy vào điều kiện khu vực, tùy vào nhận thức của từng khối chúng ta tổ chức

các HĐGDNGLL cho phù hợp và điều cốt yếu phải đạt hiệu quả cao, góp

phần nâng cao nhận thức xã hội cho học sinh, rèn luyện thể chất, góp phần

nâng cao chất lượng đào tạo chính khóa của trường THPT. Tác giả cũng nhấn

mạnh vai trò quản lý của Hiệu trưởng, Ban giám hiệu của các trường THPT,

sự sáng tạo, nhiệt tình của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp, sự năng động của

các cán bộ lớp và sự nhiệt tình của các em học sinh [7, tr.82-84].

Tác giả Đào Xuân Thái (2008) đã nghiên cứu: “Biện pháp quản lý tăng

cường hoạt động tự học của học sinh THPT tại thành phố Nam Định”. Để có

được thành tích thường xuyên dẫn đầu trong các kỳ thi học sinh giỏi, cũng



8



như tỷ lệ đỗ tốt nghiệp, tỷ lệ đỗ đại học khá cao, các HĐGDNGLL của các

trường THPT trong thành phố luôn phát huy tính hiệu quả. Bên cạnh các hoạt

động giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, việc quản lý tự học tại nhà cần

được theo dõi và quản lý như một hoạt động GDNGLL nằm trong chương

trình thường xuyên của các trường THPT tại thành phố Nam Định. Tác giả đã

nhấn mạnh: Các em học sinh sử dụng việc tự học tại nhà chủ yếu là để ôn bài,

nâng cao kiến thức. Muốn đạt hiệu quả của các giờ tự học tại nhà cần phải có

một kế hoạch quản lý cụ thể, các Thầy, Cô giáo hướng dẫn nội dung học, gia

đình tạo điều kiện về mặt thời gian, và quan trọng hơn học sinh phát huy tính

tự giác, tự chủ trong học tập [15, tr. 1-3].

Với đặc điểm riêng của trường THPT nội trú Đồ Sơn, thành phố Hải

phòng, tác giả Phạm Thị Khanh (2008) đã nêu những khó khăn và thuận lợi

trong quá trình quản lý học sinh trong giờ học cũng như ngoài giờ lên lớp.

Một mô hình triển khai đa dạng về hình thức, luôn mới mẻ để tạo sự hấp dẫn

của các hoạt động, đặc biệt nhấn mạnh tính hiệu quả của các biện pháp quản

lý hoạt động ngoại khóa của Hiệu trưởng và Ban giám hiệu nhà trường đã tạo

nên một không khí học tập vui vẻ đạt chất lượng cao [13, tr. 81-85].

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới về giáo dục trường THPT trong giai đoạn

mới, tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa (2008) đã nghiên cứu các biện pháp

quản lý HĐGDNGLL tại các trường THPT huyện An Dương, thành phố Hải

Phòng. Tác giả đã khẳng định hiện nay GDNGLL là một hình thức mang

nhiều lợi ích trong việc hình thành nhân cách và tạo nên một nền giáo dục đa

dạng, chất lượng của Việt nam. Việc nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kỹ năng

hướng dẫn, kỹ năng tổ chức HĐGDNGLL cho đội ngũ cán bộ giáo viên nhà

trường THPT là vô cùng cần thiết. Cần phải tổ chức sinh hoạt chuyên đề để

nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên, phụ huynh học sinh về vị trí, vai trò,

tác dụng của HĐGDNGLL trong việc giáo dục toàn diện học sinh. Hiệu

trưởng nhà trường cũng như các Thầy, Cô trong ban chỉ đạo cần tạo một



9



khoản kinh phí hoạt động tối thiểu để duy trì và sáng tạo các hình thức

HĐGDNGLL cho học sinh đảm bảo tính hấp dẫn của hoạt động, tính hiệu quả

của công tác quản lý và tính giáo dục, thẩm mỹ cao của các HĐGDNGLL [11,

tr. 96-98].

Tác giả Tô Trung Tuyền với nghiên cứu (2008): “Biện pháp quản lý hoạt

động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại trường THPT Hồng Bàng, thành phố Hải

Phòng đã khẳng định HĐGDNGLL với nội dung, hình thức đa dạng phong

phú sẽ là phương thức để thực hiện nguyên lý của Đảng là “học đi đôi với

hành”. Nghiên cứu đã chỉ ra một số biện pháp như: thành lập ban chỉ đạo, kế

hoạch hóa HDDGDNGLL, nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo viên, qui

định tiêu chuẩn thi đua đối với viện tham gia tổ chức hoạt động GDNGLL của

giáo viên, chỉ đạo tổ chuyên môn, khối chủ nhiệm tham gia tổ chức hoạt động

giáo dục ngoài giờ lên lớp, … sẽ góp phần làm cho công tác quản lý chỉ đạo

HĐGDNGLL của Hiệu trưởng được hoàn thiện hơn. Kết quả của việc thay

đổi này thể hiện rõ về chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh tại trường

THPT Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tăng lên so với các năm trước [17, tr.

1-3].

Tóm lại, các nghiên cứu trong nước đều nhấn mạnh vai trò của

HĐGDNGLL trong việc phát triển toàn diện cho học sinh THPT. Việc quản

lý các HĐGDNGLL cần phải làm thường xuyên, với phương châm luôn đổi

mới về hình thức, sinh động về nội dung để HĐGDNGLL thực sự có vai trò

trong công cuộc đổi mới giáo dục, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính

tự chủ của học sinh, đào tạo một lớp học sinh phát triển toàn diện về mọi mặt,

chuẩn bị hành trang cho các em bước vào cuộc sống.

1.2.



Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu



1.2.1. Khái niệm về quản lý

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong

và ngoài nước đã đưa ra nhiều giải thích về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ



10



21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý

học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:

Tailor F.W người sáng lập thuyết quản lý khoa học đã cho rằng: “Làm

quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến

cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm” [6, tr. 9-10].

Fayol H cha đẻ của thuyết quản lý hành chính cho rằng: “Quản lý là

một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó

gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.

Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm

soát” [8, tr.3-5].

Hard Koont, người được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại đã

viết: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn

thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” [8, tr.1-3].

Peter. F. Dalark cho rằng: “Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi

môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là:

Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công.

Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức

mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả;

quyền uy duy nhất của nó là thành tích”. Chủ trương của Peter. F. Dalark là

giới hạn doanh nghiệp từ góc độ xã hội, lấy quản lý làm chức năng chính của

doanh nghiệp. Vì thế, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã

hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dụng chế độ xã hội

mới để đạt được mục tiêu lý tưởng là "một xã hội tự do và phát triển". Nếu

không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không

thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển [8, tr.3-6].

Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ

bản sau cấu thành: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục đích quản lý, môi

trường và điều kiện tổ chức quản lý. Vì bản thân hành vi quản lý là do 4 yếu



11



tố trên tạo thành, do vậy 4 yếu tố đó đương nhiên cần được thể hiện trong

định nghĩa về quản lý. Tác giả Fayel trong định nghĩa quản lý đã trực tiếp chỉ

ra rằng: Quản lý chính là lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện, chỉ huy, tiến hành,

kiểm soát [8]; và nếu lý giải một cách đơn giản như vậy thì quản lý lại trở

thành một hành động cụ thể mà mất đi bản chất thống nhất của nó. Thông

thường mà nói, quản lý là hành vi mà những thành viên trong tổ chức thực

hiện ở một môi trường nhất định nhằm nâng cao năng suất công việc, để đạt

được mục đích của tổ chức.

Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đã đưa ra những quan điểm của

mình về quản lý: Theo Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống tác động

khoa học vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm

đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống”

[14, tr.1]. Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một

quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là một quá

trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những

mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý

mong muốn” [12, tr.32-36].

Tóm lại, bản chất quản lý là hoạt động lao động để điều khiển lao động.

Quản lý bắt nguồn từ lao động và có ý nghĩa lịch sử. Quản lý là một loại lao

động điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo

dục…Các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp thì hoạt động

quản lý ngày càng có vai trò quan trọng và những chức năng đặc biệt bởi lẽ:

do lao động mà sinh ra quản lý-quản lý là nội tại của lao động.

1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục

Giáo dục là một hoạt động cơ bản của xã hội, quản lý giáo dục là một bộ

phận không thể tách rời của hệ thống quản lý xã hội. Đã có nhiều nhà nghiên

cứu đưa ra khái niệm về QLGD:



12



Theo M.I. Kônđakốp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ

chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính… nhằm đảm bảo vận hành

bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở

rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng [26, tr.1-4].

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: Quản lý giáo dục là hệ thống tác

động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật, của chủ thể quản lý nhằm vận

hành theo đường lối của Đảng, theo sự lãnh đạo của nhà nước [10, tr.1-2].

Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là việc QLGD nói

chung) là hoạt động quản lý dạy và học.

Tác giả Phạm Viết Vượng đã viết: Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là

hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh hoạt

động đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội hiện nay. Theo nghĩa hẹp, QLGD

được hiểu quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý mang tính tổ chức

sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, cán bộ nhà trường và học

sinh sinh viên, đến lực lượng giáo dục ngoài trường nhằm phát huy khả năng

của từng đối tượng trong việc duy trì, thực hiện các hoạt động nhằm thực hiện

mục tiêu giáo dục [18, tr.16].

Như vậy, QLGD là quá trình tác động có ý thức (có mục đích, có tổ

chức) của chủ thể quản lý tới khách thể, thực hiện các chức năng quản lý

nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt các mục tiêu giáo dục

với hiệu quả mong muốn. Bản chất của QLGD là quá trình tác động có ý thức

của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và các thành tố tham gia vào hoạt

động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục. Quản lý giáo

dục hiểu theo cấp vĩ mô là những tác động có hệ thống của chủ thể quản lý ở

các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống QLGD (trung ương

đến địa phương tới trường) nhằm đạt tới mục tiêu của quản lý là nâng cao

chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục. Quản lý giáo dục hiểu theo

cấp vi mô là những tác động có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống của lãnh



13



đạo nhà trường, đơn vị đến tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh sinh viên,

cha mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực

hiện có chất lượng, hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Trong quá trình QLGD cũng thể hiện đầy đủ các chức năng quản lý

chung, nhưng nó có những đặc trưng riêng theo ngành và theo mỗi quốc gia.

1.2.3. Khái niệm về quản lý trƣờng học

Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng

kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định sao

cho việc kiến tạo kinh nghiệm xã hội đạt được mục tiêu xã hội đặt ra. Quản lý

nhà trường là một loại đặc thù quản lý giáo dục và là cấp độ quản lý giáo dục

vi mô.

Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường

lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận

hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo

đơn vị ngành giáo dục với học sinh [10, tr.2].

Quan điểm về quản lý trường học được Giáo sư Phạm Viết Vượng chỉ

rõ: Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và

tổ chức các hoạt động của giáo viên và các lực lượng giáo dục khác, cũng như

huy động tối đa các nguồn lực giáo dục và đào tạo trong nhà trường [18, tr.1719], .

Hiệu trưởng quản lý mọi hoạt động của nhà trường theo chế độ thủ

trưởng. Các thành viên trong ban lãnh đạo (Ban giám hiệu, Công đoàn trường,

Đoàn thanh niên…) là những người giúp Hiệu trưởng thực hiện., . đồng thời

trong nhà trường còn có các phòng, ban , khoa… làm việc theo chế độ tập thể

để góp ý, tư vấn, trợ giúp Hiệu trưởng xem xét, quyết định và thực thi đối với

những biện pháp quản lý của nhà trường. Các biện pháp quản lý nhà trường

có thể phân làm bốn nhóm:



14



Nhóm biện pháp tổ chức hành chính

Nhóm biện pháp kinh tế.

Nhóm biện pháp giáo dục

Nhóm biện pháp tâm lý xã hội.

Bốn nhóm biện pháp này là những nhóm biện pháp cơ bản để chủ thể

quản lý thực hiện được mục tiêu quản lý. Tùy từng hoàn cảnh, tùy từng đối

tượng mà vận dụng các biện pháp quản lý phù hợp.

- Đối với nhóm biện pháp tổ chức hành chính thì cán bộ QLGD phải:

+ Xây dựng qui chế hoạt động, nội dung hoạt động của đơn vị cơ quan,

quyết tâm thực hiện, quán triệt nội dung theo cơ chế đó.

+ Nắm vững hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật của cấp trên

+ Tăng cường phổ biến văn bản pháp qui của ngành, của cấp trên tới cán

bộ giáo viên, nhân viên, HSSV.

+ Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội qui, qui định của

ngành.

- Đối với nhóm biện pháp kinh tế thì cán bộ QLGD phải:

+ Nắm vững kinh tế học giáo dục để vận dụng vào quá trình quản lý.

+ Xây dựng được các tiêu chí, tiêu chuẩn đối với cán bộ, định mức lao

động.

+ Phát huy vai trò tự quản của cán bộ giáo viên và nhân viên.

+ Quan tâm đúng mức đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ giáo

viên và nhân viên.

+ Tổ chức bình bầu, đánh giá cán bộ công bằng khách quan, chính xác.



15



- Đối với nhóm biện pháp giáo dục và tâm lý xã hội thì cán bộ QLGD

phải:

+ Xây dựng được các mối quan hệ trong tập thể.

+ Tổ chức cho cán bộ giáo viên và nhân viên thảo luận đưa ra mục tiêu

hoạt động chung. Lấy ý kiến đóng góp của mọi thành viên về chủ trương

xây dựng và phát triển đơn vị.

+ Tổ chức cho cán bộ giáo viên và nhân viên học tập văn bản pháp qui

của ngành.

+ Xây dựng khối đoàn kết nội bộ, tạo bầu không khí tập thể đoàn kết có

kỷ luật.

+ Cán bộ quản lý phải hiểu tâm tư, nguyện vọng của cán bộ giáo viên.

Tin tưởng vào khả năng, giúp họ phát huy hết khả năng của mình. Chân

thành giải tỏa những xung đột. Thường xuyên cải thiện đời sống của cán

bộ giáo viên và nhân viên.

1.2.4. Khái niệm về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Hoạt động là một vấn đề được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu

như triết học, tâm lý học, sinh lý học, xã hội học… và mỗi lĩnh vực khoa học

xem xét nó ở một góc độ khác nhau. Tuy vậy, bản chất của hoạt động được

thể hiện ở một số nét sau: Hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại

và phát triển của cá nhân cũng như của xã hội loài người. Hoạt động là mối

quan hệ tích cực giữa con người và thế giới khách quan. Hoạt động được thúc

đẩy bởi một hệ thống động cơ và được định hướng, điều khiển bởi sự phản

ánh tâm lý. Hoạt động là sự tổng hợp của nhiều hành động có ý thức của con

người nhằm hướng tới sự thỏa mãn các nhu cầu và hứng thú của con người

với tư cách là chủ thể xã hội.



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (121 trang)

×