1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA GIÁO DỤC VÀ LỰC LƯỢNG THANH TRA GIÁO DỤC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.65 MB, 105 trang )


quá trình quản lý. Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ

quản lý. Không có kiểm tra không có quản lý" [40, tr.73].

Tác giả Đặng Quốc Bảo trong tài liệu "Những vấn đề quản lý nhà

nước và quản lý giáo dục" đã xác định: Quản lý giáo dục có 4 chức năng cụ

thể: Kế hoạch hoá, chỉ huy, điều hành, kiểm tra. Trong đó "Kiểm tra là công

việc gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục

tiêu". (Đặng Quốc Bảo, Những vấn đề quản lý nhà nước và quản lý giáo dục

– Trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo TW1, 1998)

Về quản lý trường học, tác giả Trần Kiểm trong cuốn "Khoa học quản

lý nhà trường phổ thông" đã viết: "Hiệu quả quản lý nhà trường phụ thuộc

nhiều vào chừng mực người hiệu trưởng sử dụng thông tin khách quan, đáng

tin cậy, toàn diện, đầy đủ và kịp thời của mỗi giáo viên về chất lượng kiến

thức, về mức độ được giáo dục và tính kỷ luật của học sinh" [37, tr.123].

Thông tin khách quan thu được chủ yếu qua kết quả thanh tra.

Với đề tài thanh tra giáo dục, đã có nhiều tác giả đề cập. Các bài viết

đăng trên tạp chí thông tin quản lý giáo dục, các bài giảng của trường Đại học

giáo dục, các lớp huấn luyện thanh tra trường cán bộ quản lý GD&ĐT Trung

ương I của các tác giả Đặng Quốc Bảo Nguyễn Trọng Hậu, Dương Chí Trọng...

đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục. Năm

2003, hai tác giả Quang Anh - Hà Đăng đã xuất bản cuốn: "Những điều cần biết

trong hoạt động thanh tra, kiểm tra Giáo dục và Đào tạo" có tính chất tổng hợp

các vấn đề cơ bản về thanh tra Giáo dục và Đào tạo.[23]

Ngoài ra một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục, các đề

tài về thanh tra giáo dục trong các lớp huấn luyện cán bộ thanh tra của một số

tác giả cũng đề cập đến vấn đề thanh, kiểm tra, bồi dưỡng đội ngũ thanh tra...

Các đề tài và bài viết nêu trên đã đề cập đến các vấn đề chung của công

tác thanh tra giáo dục, chủ yếu là các khía cạnh thanh tra đánh giá giáo viên,

nhà trường, quản lý công tác thanh tra... và là những tài liệu có giá trị, bổ ích.

13



Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể về

cách thức nhằm xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn THCS

cho ngành giáo dục nói chung và ngành giáo dục huyện Xuân Trường tỉnh

Nam Định nói riêng. Do vậy vấn đề xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra

chuyên môn THCS và các cấp học khác lúc này là rất cần thiết, thanh tra

giáo dục huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định cần được nghiên cứu làm sáng

tỏ về cả lý luận và thực tiễn. Tác giả chọn nghiên cứu đề tài này với mong

muốn góp phần xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn THCS

huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định nhằm đáp ứng đủ về số lượng, đồng bộ

về cơ cấu, mạnh về chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu công tác

thanh tra chuyên môn trong các trường THCS, đóng góp tích cực vào công

cuộc đổi mới sự nghiệp GD&ĐT tỉnh Nam Định nói chung, GD&ĐT huyện

Xuân Trường nói riêng.

1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Kiểm tra, thanh tra

1.2.1.1. Kiểm tra

Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản lí, nó giữ

vai trò cực kì quan trọng đối với hoạt động quản lí xã hội. Kiểm tra là giai

đoạn kết thúc của một chu trình quản lí, nhưng đồng thời nó cũng bắt đầu

việc chuẩn bị tích cực cho chu trình quản lí tiếp theo. Mặt khác, kiểm tra còn

thực hiện ngay trong từng giai đoạn (chức năng) của chu trình quản lí.

Trên bình diện của khoa học quản lí, khái niệm kiểm tra có nhiều

cách định nghĩa khác nhau:

+ "Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [38].

+ Theo tác giả Hà Thế Ngữ: "Kiểm tra là xem xét thực tế để tìm ra

những sai lệch so với quyết định, kế hoạch và chuẩn mực đã quy định; phát

hiện ra trạng thái thực tế; so sánh trạng thái đó với khuôn mẫu đã đặt ra, khi



14



phát hiện ra những sai sót thì cần phải điều chỉnh, uốn nắn và sửa chữa kịp

thời". (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 4 - 1984).

+ Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu: "Kiểm tra trong giáo dục nhìn

chung là kiểm tra nội bộ, do chủ thể quản lí của các cơ sở giáo dục thực hiện

và đối tượng chính là cơ sở giáo dục đó" [26].

Từ những cách định nghĩa trên đây, chúng ta có thể hiểu: Kiểm tra là

công việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và các bộ phận

phối hợp để tin rằng công việc và các hoạt động tiến hành có phù hợp với kế

hoạch và mục tiêu hay không; chỉ ra những lệch lạc và đưa ra những tác

động để điều chỉnh, uốn nắn, giúp đỡ, đảm bảo hoàn thành kế hoạch. Kiểm

tra trong quản lý là hệ thống những hoạt động đánh giá - phát hiện - điều

chỉnh nhằm đưa toàn bộ hệ thống được quản lí tới mục tiêu dự kiến và đạt

trình độ chất lượng cao hơn.

1.2.1.2. Thanh tra

"Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ

quan, xí nghiệp" [38].

"Thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực

hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - Sự tác động

có tính trực thuộc" [38].

Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị tại hội nghị Thanh tra toàn miền Bắc

lần thứ nhất năm 1957 đã nói: "Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn

của dưới; theo dõi chỉ thị, chính sách, thông tư đưa xuống cho đến lúc kết

thúc" [41, tr.8].

Theo Luật Thanh tra năm 2004 thì: "Thanh tra là việc xem xét, đánh

giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách,

pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu quản lý theo thẩm

quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này và các quy định khác

của pháp luật..." [42, tr.198].

15



"Thanh tra có nghĩa là sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài và hoạt

động của một đối tượng nhất định" [38].

Từ những luận điểm được nêu trên đây, chúng ta có thể hiểu khái

niệm: Thanh tra là một dạng hoạt động, là một chức năng của quản lý nhà

nước, được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhân danh quyền

lực nhà nước, nhằm tác động đến đối tượng quản lý trên cơ sở xem xét,

đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý

vi phạm, tăng cường pháp chế; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi

ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.

1.2.1.3. Phân biệt giữa kiểm tra và thanh tra

- Sự giống nhau của kiểm tra và thanh tra

Kiểm tra, thanh tra giống nhau ở tính mục đích. Thông qua kiểm tra,

thanh tra nhằm phát huy những nhân tố tích cực, phát hiện hoặc phòng ngừa

vi phạm, góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản lý

nhà nước.

Thanh tra, kiểm tra đều phát hiện, phân tích đánh giá thực tiễn một

cách chính xác, khách quan trung thực, làm rõ đúng sai, nguyên nhân dẫn

đến sai phạm, từ đó đề xuất biện pháp khắc phục và xử lý sai phạm.

- Sự khác nhau của kiểm tra và thanh tra:

+ Khác nhau về nội dung:

Nội dung kiểm tra thường dễ dàng nhận thấy, ngược lại nội dung

thanh tra thường đa dạng, phức tạp hơn. Tuy vậy phân biệt này chỉ có tính

tương đối vì thế trên thực tế có những vụ việc thuộc về kiểm tra nhưng

không phải hoàn toàn đơn giản. Bởi vậy một vấn đề thuộc về kiểm tra hay

thanh tra cần căn cứ vào nội dung vụ việc cụ thể để xác định.

+ Khác nhau về chủ thể:

Chủ thể của hoạt động thanh tra, trước hết là tổ chức thanh tra

chuyên nghiệp nhà nước. Ngoài ra, khi cần thiết cơ quan nhà nước có thẩm

16



quyền cũng thành lập đoàn thanh tra để thanh tra theo thẩm quyền quản lý

được pháp luật quy định. Còn chủ thể của kiểm tra đa dạng hơn. Vì nội dung

kiểm tra đa dạng và hoạt động thường xuyên, rộng khắp. Trong công tác quản

lý, mọi cơ quan, đơn vị đều là chủ thể của kiểm tra; Các cơ quan quản lý nhà

nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể, lực lượng vũ trang có trách nhiệm tự

kiểm tra hoạt động của mình.

+ Khác nhau về trình độ nghiệp vụ:

Hoạt động thanh tra đòi hỏi thanh tra viên phải có nghiệp vụ giỏi, am

hiểu về kinh tế - xã hội, có khả năng chuyên môn sâu vào lĩnh vực mà thanh

tra hướng đến. Có như vậy, mới có thể khám phá chiều sâu của vụ việc, thu

thập được thông tin, chứng cứ, xác minh, đối chiếu, phân tích, đánh giá tình

hình đi đến kết luận chính xác, khách quan. Do nội dung của hoạt động kiểm

tra ít phức tạp hơn thanh tra và chủ thể của kiểm tra bao gồm lực lượng rộng

lớn có tính quần chúng, phổ biến nên nói chung, trình độ nghiệp vụ kiểm tra

không nhất thiết đòi hỏi như nghiệp vụ thanh tra. Tuy nhiên sự phân biệt

trình độ kiểm tra, thanh tra chỉ là tương đối.

+ Khác nhau về phạm vi hoạt động:

Phạm vi hoạt động kiểm tra thường theo bề rộng, diễn ra liên tục ở

khắp nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng. Phạm vi

hoạt động thanh tra thường hạn hẹp hơn. Hoạt động, thanh tra thường có sự

chọn lọc. Nhìn chung ở từng cấp, số lượng đề tài thanh tra và địa điểm thanh

tra ít hơn số lượng đề tài kiểm tra và địa điểm kiểm tra.

+ Khác nhau về thời gian tiến hành:

Trong hoạt động thanh tra, thường có nhiều vấn đề phải xác minh,

đối chiếu rất công phu, nhiều mối quan hệ đều được làm rõ cho nên phải sử

dụng thời gian dài hơn so với kiểm tra. Tuy nhiên, nếu so sánh từng cuộc

kiểm tra đơn lẻ, đôi khi có cuộc kiểm tra kéo dài hơn thanh tra, song nhìn

tổng quát thì thời gian thanh tra dài hơn thời gian kiểm tra.

17



- Mối quan hệ qua lại giữa kiểm tra và thanh tra:

Sự phân biệt giữa kiểm tra và thanh tra chỉ là tương đối khi tiến hành

cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều hoạt động kiểm tra. Ngược lại,

đôi khi tiến hành kiểm tra là để làm rõ vụ, việc và từ đó lựa chọn nội dung

thanh tra. Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ

qua lại với nhau. Do vậy khi nói đến một khái niệm nào người ta thường

nhắc đến cả cặp với tên gọi: Kiểm tra, thanh tra hay thanh tra, kiểm tra.

1.2.1.4. Vai trò của thanh tra giáo dục trong quản lý giáo dục

Công tác thanh tra, kiểm tra GD&ĐT là rất cần thiết và có vai trò

rất quan trọng trong quản lý giáo dục.

* Thứ nhất: Thanh tra, kiểm tra GD&ĐT góp phần tăng cường pháp

chế xã hội chủ nghĩa. Thực chất thanh tra, kiểm tra GD&ĐT chính là việc cơ

quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra việc thực hiện quy định

pháp luật về GD&ĐT của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động

trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT. Hoạt động thanh tra, kiểm tra sẽ

giúp các đối tượng được thanh tra, kiểm tra nhận thức một cách đầy đủ

quyền và nghĩa vụ của mình, nhận thức được vai trò quan trọng của chính

sách phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, từ đó sẽ hình thành ý thức

tuân thủ quy định của pháp luật nói chung và những quy định của pháp luật

về GD&ĐT nói riêng.

* Thứ hai: Thanh tra, kiểm tra GD&ĐT góp phần nâng cao hiệu lực

quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền. Không chỉ về phía các tổ

chức và cá nhân có hoạt động hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT mà ngay

cả về phía cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực GD&ĐT cũng cần phải có

sự chấp hành pháp luật một cách triệt để. Công tác thanh tra, kiểm tra giúp các

cơ quan chức năng nhận thức đúng và làm tròn vai trò, trách nhiệm được giao.

Các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực GD&ĐT được đề cập tới ở đây



18



bao gồm tất cả các cơ quan có thẩm quyền quản lý về GD&ĐT nói chung và

các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nói riêng.

* Thứ ba: Thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nâng cao năng lực quản lý cho

người đứng đầu các cơ sở GD&ĐT (Hiệu trưởng). Để một cơ sở GD&ĐT hoạt

động có hiệu quả thì yếu tố mang tính quyết định chính là công tác lãnh đạo của

Hiệu trưởng. Khi diễn ra hoạt động thanh tra, kiểm tra toàn diện một cơ sở

GD&ĐT thì công tác lãnh đạo của Hiệu trưởng là một nội dung thanh tra, kiểm

tra quan trọng. Theo đó, Hiệu trưởng có trách nhiệm giải trình về hoạt động của

mình trước cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra. Những sai lầm, thiếu sót,

nếu có, sẽ kịp thời được phát hiện và có biện pháp xử lý phù hợp. Ngược lại,

những ưu điểm, những mặt tích cực sẽ kịp thời được biểu dương và phát huy

một cách có hiệu quả. Như vậy, thanh tra, kiểm tra giúp Hiệu trưởng nhận rõ

ưu, khuyết điểm của nhà trường cũng như của bản thân trong công tác quản lý,

góp phần thực hiện tốt các yêu cầu GD&ĐT được giao theo chương trình, kế

hoạch của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên. Đồng thời có thể kiến nghị với

cấp có thẩm quyền nhằm điều chỉnh, bổ sung chủ trương, biện pháp đã đưa ra

hoặc đáp ứng yêu cầu cấp bách của cơ sở.

* Thứ tư: Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra GD&ĐT, những vi

phạm, thiếu sót sẽ kịp thời được phát hiện, khắc phục và xử lý nghiêm minh

theo đúng quy định của pháp luật. Đây là một trong những ý nghĩa quan trọng

nhất của công tác thanh tra, kiểm tra vì trong quá trình hoạt động, các cơ sở

GD&ĐT khó tránh được những sai lầm, vi phạm. Những tồn tại này có thể do

nguyên nhân khách quan (văn bản pháp luật quy định về lĩnh vực giáo dục còn

chưa đầy đủ, thiếu sự quan tâm chỉ đạo từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền, v.v...), có thể xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan (năng lực, trình

độ chuyên môn yếu kém của một số giáo viên, sự hiểu biết hạn chế về các quy

định của pháp luật trong lĩnh vực GD&ĐT). Việc phát hiện, khắc phục và xử lý

các vi phạm sẽ loại bỏ những nhân tố tiêu cực, góp phần thanh lọc, chấn chỉnh

19



hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên

quan đến lĩnh vực GD&ĐT, nâng cao chất lượng GD&ĐT.

Những phân tích trên cho phép tác giả đưa ra kết luận: Thanh tra,

kiểm tra nói chung và thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nói riêng luôn giữ vai

trò nhất định trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục. Đặc biệt trong giai

đoạn hiện nay, làm tốt mục tiêu đặt ra trong Chiến lược phát triển giáo dục

2001-2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày

28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển

giáo dục 2001-2010) là: "... cần tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng

giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với

thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của

đất nước, của từng vùng, từng địa phương, hướng tới một xã hội học tập; ưu

tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đặc biệt trong

lĩnh vực khoa học - công nghệ; tiến tới đổi mới mục tiêu, phương pháp,

chương trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo..." thì Nhà nước

cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý chung trong đó có hoạt động thanh

tra, kiểm tra GD&ĐT.

1.2.2. Cộng tác viên thanh tra (CTVTT)

1.2.2.1. Cơ cấu tổ chức của cơ quan thanh tra giáo dục

Nghị định 85/2006/NĐ - CP của Chính phủ quy định hệ thống tổ chức

của Thanh tra giáo dục gồm:

1) Thanh tra Bộ GD&ĐT

Thanh tra Bộ GD&ĐT là cơ quan thanh tra nhà nước có chức năng

thanh tra chuyên ngành về giáo dục, do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT trực tiếp

quản lý, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ về công tác tổ

chức và nghiệp vụ thanh tra.

Thanh tra Bộ GD&ĐT có Chánh thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và

các Thanh tra viên.

20



Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh được

thực hiện theo quy định tại Luật Thanh tra và quy định của pháp luật về bổ

nhiệm cán bộ, công chức. Cơ cấu và biên chế của Thanh tra Bộ GD&ĐT do

Bộ trưởng quyết định sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra. Thanh tra Bộ

GD&ĐT có con dấu riêng.

2) Thanh tra Sở GD&ĐT

- Thanh tra Sở GD&ĐT là cơ quan thanh tra nhà nước có chức năng

thanh tra chuyên ngành về giáo dục, do Giám đốc Sở GD&ĐT trực tiếp quản

lý, đồng thời chịu sự chỉ đạo công tác, hướng dẫn nghiệp vụ của Thanh tra

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Thanh tra Sở thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước

của Sở GD&ĐT; chỉ đạo hoạt động thanh tra giáo dục ở cấp huyện (quận).

Thanh tra Sở có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và các Thanh

tra viên. Việc bổ nhiệm Chánh Thanh tra, Phó Chánh thanh tra, Thanh tra

viên thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra. Thanh tra Sở GD&ĐT có

con dấu riêng.

Giám đốc Sở GD&ĐT quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ

chức của Thanh tra Sở.

3) Thanh tra GD&ĐT cấp Huyện (Quận) và cấp tương đương

- Công tác thanh tra cấp Huyện (Quận) và cấp tương đương do

Trưởng phòng GD&ĐT trực tiếp phụ trách, chịu sự chỉ đạo về tổ chức và

nghiệp vụ của thanh tra Sở GD&ĐT, thực hiện thanh tra chuyên ngành đối

với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến

lĩnh vực GD&ĐT. Giám đốc Sở bổ nhiệm các cộng tác viên thanh tra khối

trực thuộc để kiêm nhiệm làm công tác thanh tra trong phạm vi hệ thống giáo

dục của một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trưởng phòng GD&ĐT

bổ nhiệm CTVTT thuộc quyền quản lý của mình.



21



Trên đây là các cơ quan thanh tra thuộc hệ thống cơ quan quản lý

nhà nước về GD&ĐT, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về

GD&ĐT.

1.2.2.2. Đội ngũ cán bộ thanh tra giáo dục

Đội ngũ thanh tra giáo dục Việt Nam hiện nay bao gồm:

- Các thanh tra chuyên trách gọi là Thanh tra viên các cấp (theo quy

định của Luật Thanh tra): là công chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch

thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Thanh tra viên được cấp trang

phục và thẻ Thanh tra viên. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Thanh tra viên được quy

định tại Điều 31 Luật Thanh tra.

- Ngoài Thanh tra viên giáo dục đã quy định trên, đối với nước ta còn

có Cộng tác viên thanh tra (CTVTT) được bổ nhiệm theo quy định của Thanh

tra nhà nước và Thanh tra Bộ GD&ĐT. Lực lượng này chủ yếu là các cán bộ,

giáo viên có đủ uy tín và năng lực làm công tác thanh tra ở cơ quan Sở

GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và ở các cơ sở giáo dục (trường học) được bổ nhiệm

để làm nhiệm vụ thanh tra theo từng vụ việc. CTVTT có nhiệm vụ và quyền

hạn do các tổ chức thanh tra giao theo quy định của Luật Thanh tra. Tiêu chuẩn,

chế độ của CTVTT được quy định tại Điều 32 của Luật Thanh tra.

1.2.2.3. Trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của cộng tác viên thanh tra

chuyên môn

1) Trách nhiệm của cộng tác viên thanh tra chuyên môn

Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ của mình,

cộng tác viên khi tiến hành tham gia Đoàn thanh tra, bản thân phải chịu về

việc thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng Đoàn thanh tra, Thủ

trưởng cơ quan thanh tra đã trưng tập cộng tác viên.

Khi tiến hành thanh tra, CTVTT phải tuân thủ pháp luật và chịu trách

nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ được giao.



22



CTVTT, có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ

vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây

thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

2) Nhiệm vụ của cộng tác viên thanh tra chuyên môn khi tham gia đoàn thanh tra

- Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan thanh

tra, và trưởng đoàn thanh tra.

- Kiến nghị trưởng đoàn thanh tra áp dụng các biện pháp, nhiệm vụ và

quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra.

- Kiến nghị và xử lý về những vấn đề khác liên quan đến nội dung thanh tra.

- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với trưởng đoàn thanh

tra, Thủ trưởng cơ quan thanh tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính

chính xác, trung thực khách quan của nội dung đã báo cáo.

3) Quyền hạn của cộng tác viên thanh tra chuyên môn

Khi được trưng tập vào đoàn thanh tra, cộng tác viên chuyên môn có

các quyền sau:

- Được tiến hành thanh tra, kiểm tra trong phạm vi được phân công

phụ trách theo kế hoạch đã duyệt.

- Yêu cầu các cơ quan, đơn vị được thanh tra cử người giúp việc thanh tra.

- Yêu cầu các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông

tin, tài liệu cần thiết cho việc thanh tra.

- Yêu cầu đối tượng cung cấp tài liệu, hồ sơ chuyên môn của cá nhân,

báo cáo bằng văn bản hoặc lời nói về các nội dung thanh tra, ghi lại, sao

chụp lại các tài liệu, hiện trạng bằng các phương tiện kỹ thuật.

- Dự các tiết dạy hay các hoạt động giáo dục khác.

- Có quyền lập biên bản kết luận, đánh giá đối tượng được thanh tra và

kiến nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết các vấn đề qua kết luận của thanh tra.

- Có quyền kiến nghị với hiệu trưởng, đình chỉ các tiết dạy khi thấy

giáo viên cố ý dạy trái với chương trình của Bộ hay không còn đủ tư cách

23



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

×