1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CỘNG TÁC VIÊN THANH TRA CHUYÊN MÔN TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.65 MB, 105 trang )


Bảng 2.1: Các đơn vị hành chính, diện tích, dân số của huyện Xuân Trường

Huyện Xuân Trường, năm 2008

STT Tên xã



Diện tích (ha)



Dân số (N)



1



Xuân Hồng



1.098,98



16.865



2



Xuân Châu



592,22



6.905



3



Xuân Thượng



415,16



7.652



4



Xuân Thuỷ



336,16



6.097



5



Xuân Ngọc



516,38



6.822



6



Xuân Thành



506,63



6.833



7



Xuân Phong



565,69



9.619



8



Xuân Đài



509,74



7.191



9



Xuân Tân



895,09



9.011



10



Xuân Phú



693,54



9.191



11



Xuân Bắc



361,44



7.739



12



Xuân Phương



308,47



6.603



13



Xuân Trung



227,81



8.528



14



Thọ Nghiệp



844,44



11.474



15



Xuân Vinh



700,22



10.730



16



Xuân Kiên



359,21



8.201



17



Xuân Tiến



352,60



9.495



18



Xuân Ninh



907,64



13.522



19



Xuân Hoà



510,82



9.407



20



Xuân Hùng



585,91



6.802



11.288,15



178.687



Tổng số



(Nguồn: Thống kê của Phòng Thống kê huyện Xuân Trường)



43



2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1. Về văn hoá xã hội

Xuân Trường là quê hương của cố Tổng Bí thư Trường Chinh, một

vùng quê văn hiến và cách mạng. Từ xa xưa, nơi đây đã được mệnh danh là

vùng đất "Địa linh, nhân kiệt" có nhiều người học rộng, tài cao. Từ khi có

Đảng lãnh đạo, cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Xuân Trường đã nêu

cao truyền thống cách mạng, nỗ lực trước mọi gian khổ, khó khăn của những

ngày đầu giành chính quyền; chấp nhận mọi thách thức của chiến tranh ác

liệt với bao bom rơi, lửa đạn, chịu đựng biết bao hy sinh mất mát; vươn lên

trong vất vả, gian nan, phức tạp của giai đoạn đầu thời kỳ quá độ đi lên

CNXH; phấn đấu vượt qua những trăn trở, lo toan trong thực hiện công cuộc

đổi mới... Mọi lúc, mọi nơi các thế hệ cán bộ, đảng viên Xuân Trường đều đã

nêu cao lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tinh thần và ý chí cách mạng.

Nhiều người là con của quê hương Xuân Trường đã tích cực hoạt động, học

tập, rèn luyện, phấn đấu vươn lên, được giao giữ các cương vị trọng trách

trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước, điển hình là cố Tổng Bí thư Trường

Chinh, cố Bộ trưởng Y tế Đặng Hồi Xuân, nguyên Bộ trưởng Bộ Công nghiệp

Đặng Vũ Chư, Trung tướng Đặng Quốc Bảo, Trung tướng Bùi Đức Tạm,

Trung tướng Đặng Quân Thụy - nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt

Nam.... Có 8 người được phong tặng danh hiệu Anh hùng: Anh hùng Lao

động GS. Tiến Sỹ Đặng Vũ Khiêu, Anh hùng Tình báo Đinh Thị Vân, Anh

hùng Không quân Đặng Ngọc Ngự, Anh hùng Quân Y Phạm Gia Triệu, Anh

hùng Xe tăng Hoàng Thọ Mạc, Anh hùng Công an Đỗ Nguyên Sáu, Anh hùng

Hải Quân Đỗ Trực; Anh hùng Công binh Đỗ Mạnh Hùng; 121 bà mẹ được

phong tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 4 cá nhân được

tặng thưởng Huân chương Độc lập; nhiều gia đình được công nhận là Cơ sở

cách mạng, 4 cá nhân được công nhận là Lão thành cách mạng, 14.357 người

được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến các loại; 2984 liệt sỹ, 1945

thương bệnh binh; Huyện và 10 xã của huyện được phong tặng danh hiệu Anh

44



hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp. Trong công cuộc đổi

mới, Hợp tác xã nông nghiệp Xuân Phương đã được phong tặng danh hiệu

Anh hùng thời kỳ đổi mới, Huyện được Nhà nước tặng Huân chương Lao

động hạng Ba; nhiều tập thể, cá nhân được Đảng và Nhà nước, Chính phủ, các

cơ quan Trung ương, các Bộ, Ngành khen thưởng với nhiều hình thức.

2.1.2.2. Phát triển kinh tế

Kể từ khi tách huyện đến nay, dưới sự lãnh đạo của huyện uỷ,

UBND, huyện Xuân Trường đã có nhiều cố gắng, từng bước vươn lên đạt

những thành tựu quan trọng về các mặt, tạo tiền đề phát triển mạnh về kinh

tế - xã hội trong những năm tiếp theo, hoà nhập cùng tỉnh Nam Định trong

xu thế hội nhập kinh tế khu vực và hợp tác quốc tế.

Qua 11 năm (1997- 2008) kinh tế của huyện có bước tăng trưởng

khá, năm sau cao hơn năm trước. Tổng sản phẩm trong nước theo giá trị gia

tăng (GDP theo giá CĐ 1994) tăng bình quân 10,00% (cùng thời kì này cả

tỉnh tăng 10,5%), trong đó, giá trị gia tăng ngành công nghiệp - tiểu thủ công

nghiệp và xây dựng tăng bình quân khoảng 17%/năm; ngành nông lâm

nghiệp tăng 4,00%; ngành dịch vụ tăng khoảng 9,51%. Nhưng do nền kinh tế

của huyện đang ở điểm xuất phát thấp, nên sự tăng trưởng trên chưa làm thấy

đổi lớn tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện, vì thế GDP bình quân

đầu người tăng theo giá hiện hành năm 2008 mới đạt 4400,000/vụ (bốn

nghìn bốn trăm đồng/6 tháng) bằng khoảng 89% mức trung bình toàn tỉnh.

Như vậy, cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo chiều hướng tiến bộ, nhưng

còn chậm và nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Tỷ trọng nông nghiệp

giảm từ 62,4% năm 1997 xuống còn 51% năm 2008. Tỷ trọng các ngành

công nghiệp, trong cơ cấu GDP tăng dần từ 20,4% năm 1997 lên 27% năm

2008. Tương ứng thời kì trên tỷ trọng dịch vụ - du lịch tăng từ 17,2% lên

22%. Cơ cấu kinh tế đang được chuyển dịch theo hướng đa ngành, đa thành

phần và phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, hiệu quả kinh tế cao hơn

trước tạo ra những tiền đề quan trọng cho phát triển các năm tiếp theo.

45



Bảng 2.2: Dự báo tốc độ phát triển kinh tế huyện Xuân trường đến năm 2010

Đơn vị: tỷ đồng, %

Nhịp độ tăng trƣởng (%)

Chỉ tiêu



1997



2002



2005



2010

1998-2002 2003-2005 2006-2010



1. Tổng GDP (giá 1994)



293,0



410,8



521,1



839,2



6,93



8,00



10,00



- Công nghiệp + Xây dựng



57,4



109,7



163,8



359,2



14,02



14,00



17,00



181,0



211,3



230,7



280,7



3,16



3,00



4,00



- Khối dịch vụ



54,6



90



126,5



199,3



10,36



11,79



9,51



2. Cơ cấu (Giá CĐ 1994)



100,0



100,0



100,0



100,0



- Công nghiệp



19,6



26,7



31,4



42,8



- Nông, lâm nghiệp



61,8



51,4



44,3



33,5



- Khối dịch vụ



18,6



21,9



24,3



23,7



3. Dân số



171,2



176,8



183,0



189,0



0,81



0,86



0,70



4. GDP/ng, 103đ giá 94



1711



2310



2848



4440,0



6,07



7,08



9,07



-



3180



4300



6700



- Nông, lâm nghiệp



- GDP/ng, 103đ giá hiện hành



(Nguån: Thèng kª cña Phßng KÕ Ho¹ch huyÖn Xu©n Tr-êng)

2.2. Thực trạng về giáo dục THCS của huyện Xuân Trƣờng

2.2.1. Khái quát chung về tình hình phát triển Giáo dục và Đào tạo huyện

Xuân Trường

2.2.1.1. Qui mô trường, lớp, học sinh

Trên địa bàn huyện, các trường Mầm non và Tiểu học, THCS

được phân bố đều ở các xã, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 trung

tâm hướng nghiệp dạy nghề, 3 trung tâm Tin học, tạo điều kiện cho học



46



viên đi học. Các trường Mầm non đều là các trường bán công; các trường

Tiểu học, THCS đều là các trường công lập, có 4 trường THPT công lập, 1

trường THPT dân lập. Qui mô phát triển các cấp học năm 2007- 2008

được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.3: Qui mô các cấp học của huyện Xuân Trường năm học 2007 - 2008

STT



Các chỉ số



Tổng



1

2

3



Số trường

Số lớp

Số học sinh



75

1248

47898



20

351

14210



38,37



40,48



4



Tỷ lệ HS/lớp%



Mầm non Tiểu học



THCS



THPT



29

448

13882



21

317

13400



5

132

6406



30,98



42,20



48,53



(Nguồn: Thống kê của Phòng GD&ĐT huyện Xuân Trường)

2.2.1.2. Chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học, ngành học

* Giáo dục Mầm non

Trong những năm qua, ngành học mầm non có nhiều tiến bộ. 100%

trường Mầm non tổ chức nuôi ăn bán trú. Vì vậy, chất lượng nuôi dạy được

nâng cao rõ rệt. Thành tích huy động trẻ đến trường hàng năm đều đạt hiệu

quả cao hơn năm trước, các lớp lẻ dần được thu hẹp, trường quy hoạch theo

khu tập trung. Số trẻ được nuôi tại trường năm học 2007 - 2008 tăng 21% so

với năm học 2006 - 2007, trong đó lớp nuôi ăn đạt gần 90%. Chất lượng giáo

dục có nhiều chuyển biến tích cực: trẻ được khám bệnh định kỳ 2 lần/năm và

được theo dõi biểu đồ tăng trưởng sức khoẻ, tỷ lệ suy dinh dưỡng hàng năm

giảm 4%. Các chuyên đề trọng tâm như "Làm quen với Toán", "Giáo dục

dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm" được triển khai đồng bộ trong

toàn huyện và đạt kết quả tốt. Phong trào làm đồ dùng giảng dạy phục vụ cho

đổi mới phương pháp đạt nhiều kết quả đáng khích lệ.



47



* Giáo dục Tiểu học

Công tác giáo dục toàn diện là một trong những mặt mạnh của cấp

Tiểu học trong huyện. 100% số trẻ 6 tuổi được huy động vào lớp 1. Công tác

phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi cũng như các tiêu chuẩn giáo dục

được giữ vững và ngày càng nâng cao. Phòng GD&ĐT đã chủ động trong

công tác bồi dưỡng giáo viên, lựa chọn giáo viên và trang thiết bị dạy học cho

các lớp phục vụ cho đổi mới giáo dục phổ thông và nâng cao chất lượng giáo

dục toàn diện. Vấn đề dạy 2 buổi/ngày được các trường quan tâm, tận dụng tối

đa cơ sở vật chất. Có 5 trường đạt 100% số lớp học 2 buổi/ngày là Xuân Bắc,

Xuân Ngọc, Xuân Hùng A, Xuân Phú B, Xuân Tân B. Hiện đang tiếp tục mở

rộng các lớp bán trú. Năm học 2007 - 2008 thi học sinh giỏi Tiểu học, toàn

huyện có 620 giải. Toàn đoàn đạt giải nhì Tỉnh với 95 em, trong đó có 5 lớp

có 20/48 giải Nhất cả tỉnh, thi tốt nghiệp đạt 99,97% trong đó khá, giỏi chiếm

93,93%. Năm học 2007 - 2008 vừa qua, có hơn 100 em học sinh giỏi cấp

huyện, tỉnh. Hội giảng giáo viên được triển khai khắp cả huyện với 26 giáo

viên, 4 giáo viên thi Tỉnh đều đạt loại giỏi. Tiêu biểu cho phong trào Hội

giảng là các trường Xuân Hồng A, Xuân Ngọc, Xuân Hùng A, Xuân Hùng B,

Thọ Nghiệp B.... Phong trào làm đồ dùng dạy học được xếp thứ nhất trong

cuộc thi tỉnh.

* Giáo dục Trung học cơ sở

Các trường đã thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức cho học sinh thông

qua việc dạy tốt môn giáo dục công dân, thông qua hoạt động đội thiếu niên

tiền phong, thông qua các hoạt động ngoại khoá. Toàn huyện không có học sinh

mắc tệ nạn xã hội. Chất lượng trí dục có nhiều tiến bộ, việc thực hiện cuộc vận

động "Hai không" đã góp phần cho chất lượng thực sự đi vào chiều sâu. Năm

học 2007 - 2008 số lượng học sinh huy động vào lớp 6 đạt 99,5%, cao hơn mức

bình quân của tỉnh 0,5%. Số lượng học sinh bỏ học giảm còn 0,1%. Công tác

phổ cập giáo dục tiếp tục được giữ vững ở cả 20 xã, các tiêu chuẩn được nâng

48



lên. Phòng GD&ĐT chỉ đạo các trường chủ động, tích cực đổi mới phương

pháp giảng dạy trên cơ sở đổi mới trang thiết bị dạy học. Phong trào Hội giảng,

Hội học, giao lưu trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ giữa các trường, các miền đã

tạo nên một khí thế mới trong dạy và học trong toàn huyện. Việc bồi dưỡng học

sinh giỏi được tất cả các trường quan tâm, tiêu biểu là các trường THCS Xuân

Trường, THCS Xuân Đài, THCS Xuân Hoà.... Đoàn thi học sinh giỏi tỉnh hàng

năm đạt nhiều giải cao, thi tốt nghiệp đạt 99,92%.

* Giáo dục Trung học phổ thông

Chất lượng giáo dục toàn diện luôn được chú trọng, cả về mũi nhọn và

đại trà. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là cuộc vận động "Học tập

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" được triển khai tích cực và có

hiệu quả. Các trường làm tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh, vì vậy

hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp thi đỗ vào đại học, cao đẳng, trung học

chuyên nghiệp và các trường nghề ngày càng cao.

* Giáo dục thường xuyên và giáo dục khác:

Công tác giáo dục thường xuyên, hàng năm được quan tâm thích đáng

các chỉ tiêu huy động học viên đều tăng so với kế hoạch. Huyện đã thành lập

20/20 Trung tâm học tập cộng đồng, bước đầu hoạt động có hiệu quả. Công

tác xoá mù chữ và chống tái mù được duy trì với nhiều hình thức và biện pháp

phong phú. Các hoạt động chuyên môn như hội giảng, hội học, thi học viên

giỏi, đóng góp ý kiến cho chương trình bổ túc THCS được quan tâm.

2.2.12. 3. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Theo thống kê của Phòng GD&ĐT toàn huyện Xuân Trường có 1987

cán bộ giáo viên, công nhân viên, trong đó cán bộ quản lý có 195 người,

1650 giáo viên; hành chính phục vụ, y tế là 142 người; tỷ lệ Đảng viên là

56,87%. Đại đa số giáo viên và cán bộ quản lý có trình độ đạt chuẩn và trên

chuẩn (tỷ lệ đạt 97,8%). Số lượng giáo viên đủ nhưng cơ cấu chủng loại chưa



49



đồng đều, cấp trung học còn thiếu giáo viên Vật lý, Địa lý, Hoá học, Công

nghệ, Tin học, Nhạc hoạ.

2.2.1.4. Về đầu tư tài chính

Trong những năm gần đây, ngân sách chi cho giáo dục ngày càng

tăng, ngoài số tiền chi cho xây dựng cơ bản thì ngân sách chi cho con người

và chi thường xuyên như sau:

Bảng 2.4: Ngân sách chi cho giáo dục của huyện Xuân Trường (2004 - 2008)

Hạng mục chi



2004



Tổng số tiền được cấp (tỷ đồng) 19,285



2005



2006



2007



2008



27,321



31,432



37,656



41,593



Chi thường xuyên (%)



6,2



7,6



10,28



13,99



20



Chi cho con người (%)



93,8



92,4



89,72



86,01



80



(Nguồn: Thống kê của Phòng GD&ĐT huyện Xuân Trường, năm 2008)

2.2.1.5. Về cơ sở vật chất và trường chuẩn

Các cấp học đảm bảo đủ phòng học cho học sinh. Phòng GD&ĐT rất

chú ý đến công tác xây dựng cơ sở vật chất cho các trường học, như tu sửa, xây

dựng mới, các công trình phụ trợ.... Kết hợp với nguồn ngân sách của huyện, của

tỉnh và được sự đóng góp, ủng hộ nhiệt tình của nhân dân, 100% trường học ở

các xã được kiên cố hoá với nhiều nhà cao tầng, nhà mái bằng kiên cố, với tổng

giá trị các công trình lên đến hàng chục tỷ đồng, 16 trường Tiểu học được EAST

tài trợ và vốn đối ứng của địa phương đã đưa các công trình vệ sinh, nước sạch

vào sử dụng có hiệu quả. Nhiều phòng học mới như Mầm non Xuân Kiên, Xuân

Ngọc, Xuân Thuỷ, Xuân Trung, Tiểu học Xuân Hồng A, Xuân Đài, Xuân Phong,

Thị trấn Xuân Trường; THCS Xuân Tân, Thọ Nghiệp, Xuân Phương đang được

xây dựng. Các trường đã dành một phần kinh phí mua sắm trang thiết bị dạy học,

sách tham khảo, sách chuyên môn cho giáo viên, xây dựng các thư viện đạt

chuẩn. Trường THCS Xuân Ngọc là trường đầu tiên của huyện được công nhận

50



đạt chuẩn Quốc gia. Riêng các trường Tiểu học 100% được cấp bằng công nhận

Trường chuẩn Quốc gia giai đoạn 1996 - 2000, trường Tiểu học Xuân Bắc được

công nhận đạt chuẩn Quốc gia mức độ II, 5 trường THCS và 5 trường Mầm non

được công nhận đạt chuẩn Quốc gia mức độ I.

2.2.2. Thực trạng về giáo dục THCS của huyện Xuân Trường

2.2.2.1. Qui mô trường, lớp, học sinh, giáo viên

Mạng lưới trường lớp đảm bảo cân đối giữa các vùng miền trong

huyện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và củng cố

chất lượng phổ cập giáo dục. Số trường học trong 5 năm vẫn giữ nguyên,

nhưng số lớp học giảm dần do số lượng học sinh giảm dần theo các năm. Số

lượng học sinh và lớp học giảm dần thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.5: Số lượng học sinh, số lớp học trong 5 năm

STT

1

2

3

4

5



Năm học

2003 - 2004

2004 - 2005

2005 - 2006

2006 - 2007

2007 - 2008



Số học sinh

15.297

15.280

14.384

13.709

13.400



Số lớp

345

342

339

326

317



Số trƣờng

21

21

21

21

21



(Nguồn: Thống kê của Phòng GD&ĐT huyện Xuân Trường)

Trong 5 năm số lớp học ở cấp THCS của huyện Xuân Trường giảm

28 lớp do số học sinh giảm từ năm học 2003-2004 đến 2007-2008 là 1.897

em. Số lớp học giảm nhưng hạng trường và số trường không đổi. Ta có thể mô

hình hoá số lượng học sinh, số lớp học ở các trường THCS của huyện Xuân

Trường trong các năm học từ 2003 - 2004 đến 2007 - 2008 bằng biểu đồ sau:



51



18000



Số học sinh, số lớp



16000



15297



15280

14348



14000



13709



13105



12000

10000



Sè líp

Sè häc sinh



8000

6000

4000

2000



345



342



339



326



317



0

2003 - 2004



2004 - 2005



2005 - 2006



2006 - 2007



2007 - 2008



Năm học



Biểu đồ 2.1: Số lớp, Số học sinh giảm từ đầu năm học 2003 - 2004 đến 2007 - 2008



(Nguồn: Thống kê của Phòng GD&ĐT huyện Xuân Trường)

Số học sinh giảm dần là do huyện Xuân Trường đã thực hiện tốt các

chính sách về dân số, tỷ lệ sinh con hàng năm giảm, do đó số lượng học sinh

giảm dần, dẫn đến số lớp học giảm dần.

Các trường THCS của huyện đều được đặt ở vị trí trung tâm của các

xã, thuận tiện giao thông, đảm bảo về cảnh quan, môi trường sư phạm. Diện

tích đất của các nhà trường đều đảm bảo 15m2/1 học sinh trở lên, có sổ đỏ của

UBND huyện cấp. Có 1 trường hạng I, 5 trường hạng II, còn lại chủ yếu là

trường hạng III. Số lượng học sinh, giáo viên ở các trường THCS được thể hiện

như sau:



52



Bảng 2. 6: Qui mô lớp, học sinh, giáo viên, CBQL, văn phòng các trường THCS

huyện Xuân Trường Năm học 2007 - 2008

Tên xã



Số lớp Số phòng Số HS

học



Tỷ lệ



Số GV



hs/lớp



Số



Tỷ lệ



HC



CBQL GV/lớp phục vụ



Xuân Thượng



9



12



341



37,89



18



2



2,00



2



Xuân Thành



10



13



397



39,70



21



2



2,10



3



Xuân Châu



11



14



420



38,18



26



3



2,36



3



Xuân Phong



15



18



658



43,87



34



2



2,26



3



Xuân Hồng



28



33



1219



43,54



57



3



2,03



3



Xuân Ngọc



13



16



558



42,92



29



3



2,23



3



Xuân Thuỷ



9



12



356



39,56



18



2



2,00



3



Xuân Tân



13



17



552



42,46



27



3



2.07



3



Xuân Đài



13



17



493



37,92



26



2



2.00



3



Xuân Phú



18



21



733



40,72



40



3



2,22



3



Thọ Nghiệp



24



27



1072



44,67



40



3



1,16



3



Xuân Bắc



13



16



530



40,77



26



2



2.00



2



Xuân Trung



12



15



524



43,67



27



3



2,25



3



Xuân Phương



11



13



411



37,36



22



2



2,00



2



Xuân Vinh



19



21



820



43,16



35



2



1,84



3



Xuân Ninh



24



27



1027



42,79



38



3



1,58



3



Xuân Hùng



10



13



369



36,90



21



2



2,10



2



Xuân Hoà



17



20



802



47,18



33



3



1.94



3



Xuân Kiên



16



19



643



40,19



27



2



1.68



2



Xuân Tiến



20



23



862



43,10



30



3



1,50



3



Xuân Trường



12



15



613



51,08



24



3



2.00



3



317



391



13400



42,3



619



52



1,95



56



Tổng



(Nguồn: Thống kê của Phòng GD&ĐT huyện Xuân Trường, năm 2008)

Qua bảng trên ta thấy số lượng giáo viên và CBQL được bố trí tương

đối phù hợp với các lớp học của các trường.



53



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

×