1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.75 MB, 123 trang )


hòa những hoạt động cá nhân, sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung,

tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của

cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp

thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình,

nhưng một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” [26;tr.96].

Cũng theo nguồn Cẩm nang quản lý của tác giả Nguyễn Hoàng Phương

các nhà quản lý học Việt Nam cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về

thuật ngữ quản lý:

Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm

việc với con người

- Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát

công việc và những nổ lực của con người nhằm đạt được những mục tiệu đặt ra.

- Quản lý là vận dụng khai thác các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng)

kể cả nguồn lực đạt đến kết quả kỳ vọng.

- Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá

trình xã hội để chúng phát triển hợp quy luật, đạt được mục đích đã đề ra và

đúng ý chí của người quản lý.

- Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo kiểm tra công

việc của các thành viên thuộc hệ thống đơnvị và việc sử dụng các nguồn lực

phù hợp để đạt được mục đích đã định. [26;tr.96].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế

hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách

thể của chủ thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”. [27;tr.96]

Nhóm tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì cho rằng:

Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý

đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và

đạt được mục đích dự kiến của tổ chức” [17;tr.95]



8



Như vậy, một cách tổng quát nhất quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một

hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, nguyên tắc tương ứng

cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của nhà quản lý nhằm

đạt được mục đích đặt ra từ trước.

Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau:

- Lập kế hoạch

- Tổ chức

- Lãnh đạo, chỉ đạo

- Kiểm tra

Các chức năng này có mối liên hệ mật thiết với nhau, có thể khái quát

thành sơ đồ:

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ các chức năng quản lý

Lập kế hoạch

(1)



Tổ chức

(2)



Lãnh đạo, chỉ đạo

(3)



Kiểm tra

(4)



9



1.1.1.2. Quản lý nhà truờng

Quản lý nhà trường là quản lý mọi hoạt động giảng dạy và học tập, cơ

sở vật chất và tất cả các lĩnh vực liên quan đến hoạt động QL, giảng dạy và

học tập trong một trường học để tạo điều kiện cho nhà trường phát triển.

Như vậy các lĩnh vực cần phải được quản lý trong nhà trường bao gồm:

1. Quản lý giảng viên

2. Quản lý cán bộ

3. Quản lý cơ sở vật chất

4. Quản lý tài chính

5. Quản lý trang thiết bị dạy học

6. Quản lý các hoạt động xã hội của giảng viên và sinh viên.

7. Quản lý sinh viên.

1.1.1.3. Quản lý giáo dục

Bàn về vai trò của quản lý Karl Marx đã viết” một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự

điều khiển bản thân, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. Như vậy, hoạt động

quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Quản lý là hoạt động

chăm sóc, giữ gìn và sửa sang, sắp xếp để cho cộng đồng theo sự phân công

hợp tác lao động được ổn định và phát triển. Giáo dục là bộ phận của kinh tế xã hội, hệ thống giáo dục, mạng lưới nhà trường là bộ phận kết cấu hạ tầng xã

hội. Do vậy, quản lý giáo dục là quản lý một loại quá trình kinh tế xã hội

nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sự phân hóa xã hội để tái sản xuất sức lao

động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội. Bản

chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm

lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối

tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ

sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển.



10



Quản lý giáo dục đã được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa ra

một số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau:

- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan

là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công

tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội”. Như vậy theo tác giả

Đặng Quốc Bảo thì với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác

giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Tuy nhiên, trọng

tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều

hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc

dân. [16;tr.95]

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống

những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý

nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,

thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà

tiêu điểm tụ hội là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo

dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [27;tr.96].

Trong thực tế cho thấy, quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý

thức, kế hoạch, tổ chức và hợp quy luật của các cơ quan quản lý giáo dục tới

các khâu của hệ thống giáo dục nhằm làm cho các cơ sở giáo dục vận hành

bình thường và đạt tới các mục tiêu giáo dục đề ra.

Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt

khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản sau:

- Chủ thể quản lý giáo dục;

- Khách thể quản lý giáo dục,

- Mục tiêu quản lý giáo dục

Ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và

công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) quản lý giáo dục.



11



Quản lý giáo dục có những đặc điểm sau:

- Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý

- Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối

liên hệ ngược

- Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi)

- Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật

- Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng

- Quản lý giáo dục gắn với việc điều hành quá trình đào tạo con người, đặc

biệt là lao động sư phạm của các nhà giáo. Đặc thù lao động của người giảng

viên mà đối tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm tâm

sinh lý lứa tuổi hết sức phức tạp.

- Người học vừa là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể

của hoạt động giáo dục, do đó kết quả giáo dục không chỉ phụ thuộc vào bản

thân nhà giáo mà còn phụ thuộc vào thái độ của người học. Đây chính là đặc

điểm khác biệt của quản lý giáo dục với các lĩnh vực quản lý khác.

- Mặt khác phương tiện lao động của giảng viên chủ yếu là phương tiện

tinh thần bằng lời, bằng tấm gương, bằng thái độ, bằng điểm tựa, bằng cảm

hóa… Thời gian lao động của người giảng viên cũng khác, nó không được tách

bạch, rạch ròi với thời gian không lao động sư phạm. Với bất kỳ lúc nào, ngay cả

khi nghỉ ngơi, giải trí hay làm việc gia đình…. Người giảng viên vẫn có thể nghĩ

về công việc sư phạm của mình. Vì vậy, trong công tác quản lý giáo dục cần tạo

điều kiện thuận lợi về môi trường sư phạm và đáp ứng nhu cầu chính đáng về vật

chất và tinh thần cho giảng viên, đặc biệt là tạo điều kiện để nâng cao tiềm lực

cho đội ngũ nhà giáo để họ có động lực lao động tốt nhất.

- Quản lý giáo dục được gắn liền với quyền lực nhà nước trong việc

điều hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục, thông qua việc xây dựng, ban

hành và chấp hành các văn bản như luật, điều lệ và các quy định, quy chế



12



chuyên môn sư phạm. Do đó quản lý giáo dục có tính chất kết hợp chặt chẽ

giữa quản lý hành chính nhà nước với quản lý chuyên môn sư phạm.

- Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù là hình thành và phát triển

nhân cách cho người học, nên quản lý giáo dục phải chú ý phòng ngừa, ngăn

chặn những sai sót trong công việc tạo ra “phế phẩm” trong giáo dục.

- Quản lý giáo dục gắn liền với phát triển quan điểm quần chúng, xã hội

bởi vì hoạt động giáo dục là hiện tượng của xã hội, do đó cần kết hợp nhân tố

bên trong và bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong có tính chất quyết định.

Nhà trường và hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục phải chủ động phối hợp

chặt chẽ và đồng bộ gia đình và các lực lượng xã hội trong việc điều hành và

điều chỉnh các hoạt động giáo dục và đào tạo

- Quản lý giáo dục là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó khai

thác được các nhân tố tích cực của học sinh, sinh viên và người học trên cơ sở

đó phát huy và lan tỏa những nhân tố tích cực từ học sinh, sinh viên và các

người học tới các khối dân cư khác nhau trong cộng đồng xã hội.

1.1.2. Giảng viên, đội ngũ, đội ngũ giảng viên

1.1.2.1. Giảng viên

Theo Luật Giáo dục năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, khóa XI, kỳ họp thứ 7 công bố thì giảng viên là nhà giáo

làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học chuyển giao công nghệ trong

các trường cao đẳng, đại học.

1.1.2.2. Giảng viên cơ hữu

Đội ngũ giảng viên cơ hữu là đội ngũ được tuyển dụng làm việc chính

thức ở trường Cao đẳng, Đại học. Đội ngũ giảng viên cơ hữu phải giảng dạy

theo đúng định mức do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

Ngoài ra, giảng viên cơ hữu còn là những nhà giáo thực hiện nhiệm vụ

giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tham gia công tác

quản lý đào tạo.



13



Đội ngũ giảng viên cơ hữu phải hoàn thành nhiệm vụ theo hệ thống, mục

tiêu giáo dục, cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục sinh viên theo sự giàng

buộc của những nguyên tắc có tính chất hành chính của ngành giáo dục và

của nhà nước.

1.1.2.3. Giảng viên thỉnh giảng

Đội ngũ giảng viên thỉnh giảng là đội ngũ được mời từ các trường cao

đẳng, đại học khác tham gia giảng dạy tại trường là các trường ngoài công

lập, các viện nghiên cứu, hoặc từ các doanh nghiệp. ĐNGV thỉnh giảng phải

giảng dạy theo đúng thời lượng đã thỏa thuận trong hợp đồng mời giảng.

Đội ngũ giảng viên thỉnh giảng cũng phải hoàn thành nhiệm vụ giảng

dạy và các yêu cầu khác của nhà trường đề ra.

1.1.2.4. Đội ngũ

Đội ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng, nghề nghiệp

thành một lực lượng. Như vậy đội ngũ được cấu thành bởi các yếu tố sau:

- Là một tập hợp người

- Cùng một lý tưởng, một mục đích

- Cùng làm việc theo chung một kế hoạch

- Gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần.

1.1.2.5. Đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là tập hợp các nhà giáo làm cùng chức năng nhiệm

vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tham gia công tác

quản lý đào tạo ở các trường Cao đẳng, Đại học.

1.1.3. Phát triển đội ngũ giảng viên

1.1.3.1. Phát triển

Phát triển là sự thay đổi, sự tăng lên về số lượng. Trong triết học, theo

phép biện chứng duy vật thì phát triển là khái niệm dùng để khái quát quá

trình vận động từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp, từ hoàn thiện đến

hoàn thiện hơn.



14



1.1.3.2. Phát triển đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là nguồn lực cơ bản của các trường Cao đẳng, Đại

học. Phát triển đội ngũ giảng viên chính là phát triển nguồn lực trong nhà

trường, là tạo ra sự tăng trưởng cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Tùy

theo cách tiếp cận khác nhau về phát triển đội ngũ giảng viên dẫn đến những

quan niệm về phát triển đội ngũ giảng viên.

Theo tác giả Nguyễn Quang Truyền về phát triển đội ngũ giảng viên:

Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,

loại hình, đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối giáo dục của Đảng và ngày

càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đủ sức thực hiện chất

lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo.

Như vậy, phát triển đội ngũ giảng viên là phải tăng số lượng, không

ngừng nâng cao chất lượng và có cơ cấu hợp lý để nhằm mục đích thực hiện

mục tiêu đào tạo của nhà trường. Phát triển đội ngũ giảng viên thực hiện được tốt

khi gắn kết việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý với các yếu tố chính sách

đãi ngộ vật chất, tinh thần cho người giảng viên, tạo động lực điều kiện môi

trường sư phạm để người giảng viên đóng góp, gắn bó lâu dài với nhà trường.

1.3 .Nhiệm vụ, quyền hạn của đội ngũ giảng viên

1.2.1. Nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên

Theo Luật Giáo dục 2005 thì Nhà giáo có những nhiệm vụ sau đây:

- Giáo dục giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ

và có chất lượng chương trình giáo dục

- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và

điều lệ nhà trường.

- Giữ gìn phẩm chất, uy tín danh dự nhà giáo; tôn trọng nhân cách của

người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền lợi, lợi

ích chính đáng của người học



15



- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình

độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học,

nêu gương tốt cho người học.

Như vậy, người giảng viên có rất nhiều nhiệm vụ:

Phải chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính

sách, pháp luật của nhà nước, thực hiện đầy đủ các quy chế của Bộ Giáo dục

và Đào tạo, quy chế tổ chức hoạt động của trường và các quy định khác do

Hiệu trưởng ban hành.

Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình Bộ Giáo dục và Đào tạo,

nhà trường đã quy định. Viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy,

học tập theo sự phân công của nhà trường, khoa bộ môn.

Chịu sự giám sát của cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp

đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng

chuyển giao công nghệ theo sự phân công của nhà trường, khoa, bộ môn.

Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách

của người học,bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người học, hướng dẫn

người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức,

tác phong, lối sống.

Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy

để nâng cao chất lượng đào tạo.

1.2.2. Quyền hạn của người giảng viên

Được bố trí giảng dạy theo đúng chuyên môn được đào tạo, xác định

nội dung các giáo trình giảng dạy phù hợp với quy định chung của Bộ Giáo

dục và Đào tạo.

Lựa chọn phương pháp giảng dạy và phương tiện giảng dạy nhằm phát

huy năng lực cá nhân, đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo.



16



Được tham gia nghiên cứu khoa học, đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao

trình độ chuyên môn nghiệp vụ, được thi nâng bậc, chuyển ngạch giảng viên

theo quy định của pháp lệnh cán bộ công chức.

Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất và tinh thần theo các chế độ

chính sách cho nhà giáo, được hưởng các chế độ ngày nghỉ các ngày lễ, nghỉ

các ngày tết, nghỉ hè theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Được ký các hợp đồng giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở

giáo dục, nghiên cứu khoa học ngoài trường theo quy định của Bộ Luật lao

động và quy chế thỉnh giảng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Tham gia thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường.

Được nhà nước xét tặng các danh hiệu: Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú,

Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục” và các danh hiệu thi đua khác.

Các yếu tố tác động đến phát triển đội ngũ giảng viên:

Trên thực tế có rất nhiều yếu tố tác động đến phát triển đội ngũ giảng

viên, đặc biệt là hiện nay chúng ta đang hoạt động theo cơ chế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa, có sự cạnh tranh quyết liệt của các nước có nền giáo

dục tiên tiến trên thế giới song chủ yếu tập trung vào một số yếu tố cơ bản sau:

- Quan điểm chỉ đạo, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giảng

viên. Đây có thể coi là một yếu tố quan trọng nhất bởi vì nó đảm bảo thông

suốt tư tưởng chỉ đạo, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức đoàn thể

trong xã hội nêu cao tinh thần trách nhiệm, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong

việc xây dựng phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền

giáo dục và đào tạo nước nhà trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo

- Nguồn kinh phí dành cho phát triển đội ngũ giảng viên

- Chính sách sử dụng, đãi ngộ đối với giảng viên

- Yếu tố vùng miền, môi trường.



17



1.3. Các yêu cầu về việc phát triển đội ngũ

1.3.1. Đảm bảo số lượng

Phát triển đội ngũ giảng viên là quá trình chuẩn bị lực lượng để đáp

ứng với sự phát triển của nhà trường. Trong đó phải chú ý đảm bảo đủ số

lượng giảng viên giảng dạy tương ứng với sự quy đổi số lượng sinh viên. Căn

cứ vào số giảng viên hiện có, xây dựng kế hoạch phát triển lực lượng giảng

viên qua từng thời kỳ, từng giai đoạn, phù hợp với sự phát triển, quy mô đào

tạo của nhà trường.

1.3.2. Đảm bảo chất lượng

Yêu cầu phát triển đội ngũ đảm bảo về số lượng phải đi đôi với đảm

bảo nâng cao về chất lượng. Phải xây dựng được một cơ cấu trình độ hợp lý,

mỗi chuyên ngành đào tạo cần phải có cơ cấu hợp lý ở các trình độ Tiến sĩ,

Thạc sĩ tạo động lực cho sự phát triển, phân bố đồng đều ở các ngành, các

chuyên ngành đào tạo.

Về nghiệp vụ sư phạm: đảm bảo cân đối, hài hòa, mỗi bộ môn chuyên

môn đều phải có giảng viên có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm vững vàng nhằm

tạo điều kiện, giúp đỡ, bồi dưỡng cho lớp giảng viên trẻ, còn thiếu kinh

nghiệm và phương pháp sư phạm.

Phẩm chất nghề nghiệp: Xây dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất đạo

đức và lương tâm nghề nghiệp. Giảng viên có trình độ chuyên môn cao, phong

cách giảng dạy và quản lý tiên tiến tiến, hiện đại. Theo nghị quyết số 14/NQ-CP

ngày 02 tháng 11 năm 2005 về đổi mới toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam

giai đoạn 2006 – 2020 của Chính phủ đảm bảo đến năm 2015 có ít nhất 87%

giảng viên có trình độ Thạc sĩ, 29% có trình độ Tiến sỹ. Đến năm 2020 có ít nhất

95 % giảng viên có trình độ Thạc sỹ, và 40% có trình độ Tiến sỹ.



18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

×