1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.75 MB, 119 trang )


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ

1.1. Vài nét tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề đƣợc rất nhiều tác giả quan tâm

nghiên cứu. Nhiều luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu vấn đề này:

- Một số giải pháp nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý

trƣờng Trung học cơ sở huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội - Đặng Văn

Trƣờng, 1999.

- Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ nữ ở Học viện chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh – Vũ Thị Xuân Mai, 2000.

- Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên

trƣờng Sỹ quan chỉ huy Kỹ thuật thông tin - Lê Đình Hùng, 2000

- Những giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ giảng

viên trƣờng Văn hoá nghệ thuật Khánh Hoà - Nguyễn Thị Kiều Linh, 2000.

- Các giải pháp chủ yếu phát triển đội ngũ giảng viên trƣờng Đại học sƣ

phạm Vinh trong giai đoạn mới - Phạm Công Lý, 2001.

- Các giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên

trƣờng phổ thông vùng cao Việt Bắc trong giai đoạn mới - Nguyễn Trƣờng

Sơn, 2002.

- Những biện pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên trƣờng Cao

đẳng Kinh tế Vinh - La Ngọc Viện, 2002.

- Những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên trƣờng Cao đẳng sƣ

phạm Hoà Bình trong giai đoạn 2006 -2010 - Nguyễn Thị Lệ Hƣờng, 2006.

Điều này cho thấy, để đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển chung của

ngành giáo dục hiện nay thì vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề vô

cùng quan trọng. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu là



6



xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý (phổ thông, đại học, chuyên nghiệp) và đội

ngũ giảng viên còn đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng thì còn

rất ít, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng

tại Viện Đại học Mở Hà Nội thì chƣa có đề tài nào nghiên cứu. Chính vì vậy,

trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tƣ tƣởng quý báu về vấn đề xây dựng

đội ngũ cán bộ mà các đề tài đi trƣớc đã đề cập đến chúng tôi chọn đề tài: “

Những biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng

của Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học

trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu với mong mỏi tìm ra đƣợc những

biện pháp hữu hiệu nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng,

ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội ngày một tốt hơn.

1.2. Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục

1.2.1. Khái niệm về quản lý

Có nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau.

Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức.

Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý

nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con ngƣời trong quá trình sản xuất - xã

hội để đạt đƣợc mục đích đã định.

Khi con ngƣời bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục

tiêu mà họ có không thể đạt đƣợc với tƣ cách là những cá nhân riêng lẻ, thì

quản lý xuất hiện nhƣ một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân

hƣớng tới những mục tiêu chung. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:

 Quản lý là biết chính xác điều mình muốn ngƣời khác làm và sau đó

thấy đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.

 Quản lý là những hoạt động cần thiết phải đƣợc thực hiện khi những

con ngƣời kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt đƣợc những



7



mục tiêu chung.

 Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các

nhóm cũng nhƣ các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của

một nhóm ngƣời, một tổ chức.

 Quản lý là một nghệ thuật, qua đó đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra thông

qua việc điều khiển, phối hợp, hƣớng dẫn, chỉ huy hoạt động của những ngƣời

khác…

Theo C. Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao

động cùng nhau, đƣợc thực hiện ở quy mô tƣơng đối lớn, đều cần đến mức độ

nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá

nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn thể

sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó. Một ngƣời chơi

vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần ngƣời chỉ huy” [31].

Nhƣ vậy, đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức,

điều khiển các hoạt động của con ngƣời theo những yêu cầu nhất định - đƣợc

gọi là hoạt động quản lý. Từ đó có thể nhận thấy lao động xã hội và quản lý

không tách rời nhau, quản lý là hoạt động điều khiển lao động chung. Xã hội

phát triển qua các phƣơng thức sản xuất thì trình độ tổ chức, điều hành tất yếu

cũng đƣợc nâng lên, phát triển theo những đòi hỏi ngày càng cao hơn. Khi lao

động xã hội đạt đến một trình độ và quy mô phát triển nhất định thì sự phân

công công việc tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một dạng hoạt động

đặc biệt, sẽ hình thành một bộ phận lao động trực tiếp và một bộ phận chuyên

hoạt động quản lý, tạo thành một mối quan hệ trong quản lý. Cùng với sự phát

triển của xã hội loài ngƣời, quản lý đã trở thành một khoa học và ngày càng

phát triển toàn diện.

Theo Harold Koontz (ngƣời Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu

nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt đƣợc mục đích



8



của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trƣờng trong

đó con ngƣời có thể đạt đƣợc mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật

chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tƣ cách thực hành thì quản lý là một

nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”[28].

Quản lý là cách thức tốt nhất để đạt đƣợc mục tiêu chung. Vì vậy, nhiệm

vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn

chế xung đột và tạo nên môi trƣờng thuận lợi để hƣớng tới mục tiêu. Ở khía

cạnh này, quản lý là một nghệ thuật. Đó là “bí quyết” làm việc với con ngƣời,

bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi đối phó với

những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức.

Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể đƣợc khám phá trên sự đúc kết

kinh nghiệm thực tế. Các nhà quản lý chỉ có thể thực hiện sứ mệnh của mình

tốt hơn khi vận dụng những kinh nghiệm đã đƣợc đúc kết, khái quát hoá thành

những nguyên tắc, phƣơng pháp và kỹ năng quản lý cần thiết. Đó chính là

khoa học, khoa học quản lý. Vì thế, quản lý vừa là nghệ thuật nhƣng lại vừa là

khoa học.

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ

chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý hay tổ chức quản lý)

lên khách thể (đối tƣợng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế

v.v.. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các

phƣơng pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự

phát triển của đối tƣợng”[ 25].

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định

hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt đƣợc những

mục tiêu nhất định”[6].

Theo Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là sự tác động có hƣớng đích của chủ

thể quản lý đến đối tƣợng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay



9



đổi trạng thái của đối tƣợng quản lý, đƣa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối

cùng, phục vụ lợi ích của con ngƣời”[6].

Hoạt động quản lý có thể đƣợc miêu tả qua sơ đồ sau:



Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý



Công cụ quản lý

Chủ thể quản





Khách thể

quản lý



Mục tiêu

quản lý



Phƣơng pháp quản lý



Ngƣời quản lý phải thực hiện 4 nhóm chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức,

chỉ đạo, kiểm tra.

- Chức năng kế hoạch hoá: Đƣa mọi hoạt động của nhà trƣờng vào công

tác kế hoạch với mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định cụ thể các điều

kiện để thực hiện mục tiêu.

- Chức năng tổ chức: Hình thành và phát triển tổ chức tƣơng xứng với

nhiệm vụ, mục tiêu dài hạn hoặc ngắn hạn.

- Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, động viên, thúc đẩy, giám sát, điều chỉnh

và phối hợp các lực lƣợng trong Nhà trƣờng tích cực hăng hái và chủ động

làm việc theo sự phân công và kế hoạch đã định.

- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra, xem xét tình hình thực hiện công việc

đối chiếu với yêu cầu để có sự đánh giá đúng. Kiểm tra thực chất là quá trình



10



thiết lập mối liên hệ nghịch trong quản lý giúp chủ thể quản lý điều khiển tối

ƣu hệ thống quản lý của mình.

Ngoài 4 chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý còn có một

chức năng quan trọng là: thông tin quản lý.

Thông tin quản lý là nguồn lực của tổ chức, là căn cứ để ra các quyết

định quản lý, là yếu tố quan trọng đảm bảo cho kết quả của quyết định quản

lý… Thông tin là yếu tố cơ bản và đầu tiên để thực hiện các chức năng quản

lý. Vì vậy, trong các chức năng quản lý, thông tin là chức năng trung tâm. Các

chức năng quản lý có quan hệ mật thiết với nhau và tạo thành chu trình quản

lý. Chu trình quản lý có thể đƣợc mô tả nhƣ sơ đồ 2.

Sơ đồ 1.2: Quá trình quản lý



Lập kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin quản lý



Tổ chức



Chỉ đạo

1.2.2. Khái niệm về biện pháp

Theo từ điển tiếng Việt [14]: Biện pháp là cách hành động, lựa chọn

sao cho phù hợp với mục đích.

Theo từ điển từ và ngữ tiếng Việt của tác giả Nguyễn Lân thì biện pháp

là: Cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thực hiện một chủ trƣơng.



11



1.2.3. Khái niệm về quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã

hội, đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dƣới mọi chế độ xã hội. Với nhiều cách tiếp

cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra khái niệm quản lý giáo dục nhƣ

sau:

Theo M.I Kônzacôvi: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế

hoạch, có ý thức và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến

tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành

nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật

chung của xã hội cũng nhƣ những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát

triển thể lực và tâm lý trẻ em”[29].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ

thống, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận

hành theo đƣờng lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các chính sách

của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình

dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến

lên trạng thái mới về chất” [32].

Quản lý giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ

hoạt của giáo dục, nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng

và Nhà nƣớc đã xác định.

Quản lý giáo dục đƣợc biểu hiện thông qua quản lý mục tiêu đào tạo,

chƣơng trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ, dạy và

học, quản lý đội ngũ cán bộ giảng dạy, quản lý ngƣời học và chất lƣợng giáo

dục - đào tạo…

Theo C. Mác và Ănghen: “Một quy luật của tiến bộ xã hội là thế hệ sau

phải lĩnh hội cả những kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trƣớc đã tích luỹ

và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó”.



12



Thực hiện quy luật này là chức năng của giáo dục nói chung và quản lý giáo

dục nói riêng. Quản lý giáo dục có hai chức năng là [31]:

- Ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế - xã

hội.

- Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế-xã hội.

Chính vì vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành các nhà trƣờng

để giáo dục, vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế.

Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp, phƣơng pháp nhằm đảm

bảo cho sự vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục,

đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lƣợng cũng nhƣ

chất lƣợng.

Từ những khái niệm về quản lý giáo dục và đặc trƣng của quản lý giáo

dục nêu trên, có thể khái quát về quản lý giáo dục nhƣ sau:

- Quản lý giáo dục là tổ chức, điều hành phối hợp các lực lƣợng giáo

dục nhằm thúc đẩy công tác giáo dục thế hệ trẻ theo đúng nguyên lý giáo dục,

đúng mục tiêu đào tạo và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội.

- Quản lý giáo dục với đặc trƣng cơ bản là quản lý con ngƣời nên đòi

hỏi tính khoa học và tính nghệ thuật cao trong quá trình quản lý. Hiệu quả của

quản lý giáo dục đƣợc đo bằng kết quả thực hiện các mục tiêu quản lý, trong

đó mục tiêu giáo dục là cơ bản. Hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục đƣợc xác

định là [32]:

+ Đảm bảo quyền học sinh vào các lớp học, cấp học, các ngành học

đúng tiêu chuẩn và chỉ tiêu.

+ Đảm bảo chất lƣợng và hiệu quả đào tạo.

+ Phát triển tập thể sƣ phạm: Đủ và đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ và đời sống.



13



+ Xây dựng, sử dụng bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho

dạy và học.

+ Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể,

quần chúng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo.

+ Phát triển và hoàn thiện các mối quan hệ gia đình và xã hội để làm tốt

công tác giáo dục thế hệ trẻ, để thực hiện các mục tiêu đề ra đảm bảo sự ổn

định và phát triển của hệ thống Giáo dục và Quản lý giáo dục.

1.2.4 Khái niệm về chức năng và phòng ban chức năng

1.2.4.1. Khái niệm về chức năng : Theo từ điển Bách khoa thì chức năng là

"Kết quả đối với một hệ thống xã hội của một hiện tƣợng, sự kiện, yếu tố, thể

chế xã hội có tác dụng góp phần vào sự vận hành , sự duy trì hệ thống xã hội

đó" [15].

Theo từ điển tiếng Việt thì chức năng: “Toàn thể những việc thƣờng

xuyên mà một đoàn thể, một tổ chức, một cá nhân thực hiện vì nhiệm vụ của

mình để giữ vai trò trong xã hội” [14].

1.2.4.2. Phòng ban chức năng:

Theo quyết định số 153/2003/QĐ-TTg của Thủ tƣớng chính phủ về

việc ban hành “Điều lệ trƣờng đại học” đã ghi [7]:

Điều 40. Các phòng chức năng

1. Các phòng có nhiệm vụ tham mƣu và giúp việc cho Hiệu trƣởng trong

quản lý, tổng hợp, đề xuất ý kiến, tổ chức thực hiện mảng công việc chủ yếu

của trƣờng: hành chính- tổng hợp, tổ chức – cán bộ, đào tạo đại học và sau đại

học, khoa học và công nghệ, công tác chính trị và quản lý ngƣời học, kế

hoạch - tài chính, quan hệ quốc tế, thanh tra.

2. Đứng đầu các phòng là Trƣởng phòng do Hiệu trƣởng bổ nhiệm, miễn

nhiệm. Giúp việc Trƣởng phòng có các Phó trƣởng phòng do Hiệu trƣởng bổ

nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Trƣởng phòng. Tuổi khi bổ nhiệm



14



Trƣởng phòng và Phó trƣởng phòng không quá 55 tuổi đối với nam và 50 đối

với nữ. Nhiệm kỳ của Trƣởng phòng, Phó trƣởng phòng theo nhiệm kỳ của

Hiệu trƣởng và có thể đƣợc bổ nhiệm lại. Trong trƣờng hợp cần thiết Hiệu

trƣởng có thế lấy phiếu tín nhiệm đối với Trƣởng phòng.

Ngoài phòng, ban chức năng trong luận văn, chúng tôi còn mở rộng

thêm đến các Trung tâm vì các Trung tâm tại Viện Đại học Mở Hà Nội ngoài

các chức năng quản lý còn có các hoạt động mang tính hành chính.

1.3. Khái niệm và yêu cầu về đội ngũ cán bộ quản lý

1.3.1. Khái niệm về cán bộ quản lý

1.3.1.1. Khái niệm về cán bộ quản lý [5] :

Cán bộ quản lý (CBQL) là các cá nhân thực hiện những chức năng và

nhiệm vụ quản lý nhất định của bộ máy quản lý.

Mỗi CBQL nhận trách nhiệm trong bộ máy quản lý bằng một trong hai

hình thức : tuyển cử và bổ nhiệm.

1.3.3.2. Phân loại CBQL :

Phân loại CBQL nhằm mục đích bố trí, sử dụng hợp lí và có biện pháp

nâng cao trình độ cho cán bộ. Tuỳ theo tiêu thức và mục đích có thể phân loại

một cách tƣơng đối nhƣ sau [5] :

- Cán bộ lãnh đạo là ngƣời đứng đầu một tổ chức, có quyền ra quyết

định, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý và chịu trách nhiệm về quyết

định của mình. Hoạt động của cán bộ lãnh đạo là giải quyết những vấn đề

chung đảm bảo cho sự phát triển của cả hệ thống.

- Cán bộ chuyên môn – chuyên gia là những ngƣời có trình độ chuyên

sâu về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, tham gia hoạt động trong bộ máy

quản lý. Họ có nhiệm vụ soạn thảo các quyết định quản lý và chịu trách

nhiệm về mặt chuyên môn.



15



- Nhân viên nghiệp vụ là bộ phận cấu thành của đội ngũ cán bộ quản lý

ở mọi cấp, mọi khâu khác nhau. Họ là những ngƣời tinh thông nghiệp vụ với

nhiệm vụ chủ yếu là hoạt động tác nghiệp chuẩn bị các thông tin đầy đủ,

chính xác cho các chuyên gia và cán bộ lãnh đạo trong việc ra các quyết định

quản lý.

Ngoài ra, ngƣời ta cũng có thể chia làm ba loại : cán bộ cấp cao (cấp

chiến lƣợc), cán bộ cấp trung gian (cấp chiến thuật) và cán bộ cấp cơ sở (cấp

tác nghiệp).

Nội hàm khái niệm cán bộ quản lý và cán bộ lãnh đạo có những điểm

giống nhau: cả cán bộ quản lý và cán bộ lãnh đạo đều là chủ thể ra quyết định,

điều khiển hoạt động của tổ chức; ngƣời cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện

chức năng quản lý và cán bộ quản lý cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo

nên khó có thể phân biệt rạch ròi đâu là ngƣời lãnh đạo, đâu là ngƣời quản lý.

Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn đồng nhất

với nhau. Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hƣớng cho

khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, “làm

thức tỉnh” hành vi của đối tƣợng, định hƣớng hoạt động của đối tƣợng và xã

hội. Còn hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những

thiết chế có tính pháp lệnh đƣợc quy định từ trƣớc.

Cán bộ quản lý còn đƣợc hiểu với nghĩa tƣơng đƣơng nhƣ thuật ngữ

Manager tiếng Anh, đó là ngƣời điều hành, nhà quản lý. Họ là những ngƣời

có chức trách và nhiệm vụ điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt

động chuyên môn trong một khâu, một công đoạn, một chƣơng trình, dự án…

Cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) "ngƣời làm công việc lãnh đạo,

quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục từ bộ, cục, vụ, viện ở trung ƣơng

đến các sở, phòng, ban, cơ sở giáo dục thuộc ngành giáo dục và đào tạo" [24].



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

×