1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ GV TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 110 trang )


Tuy nhiên, trong các trường Cao đẳng, ĐH của Việt Nam một số cơ sở,

thậm chí một số cá nhân GV đã bắt đầu sử dụng đánh giá như một phương

tiện để học hỏi, để tiến bộ. Các phương thức tiến hành đánh giá khuyến khích

SV thông báo cho GV những gì họ học được, những khó khăn họ học tập và

nghiên cứu, điều đó giúp GV liên hệ tốt hơn với việc giảng dạy cũng như biết

được những hạn chế của mình. Đó chính là những dấu hiệu đáng mừng chứng

tỏ rằng các GV đã và đang sử dụng đánh giá công việc của họ cho sự tiến bộ

của chính bản thân họ.

Thực trạng đánh giá GV hiện nay là: đa số người được tham gia phỏng

vấn đều cho biết rằng đã không có một công tác đánh giá giảng dạy nào. Một

số ít đề cập đến việc đánh giá công tác giảng dạy qua ba hình thức:

*.Tự đánh giá: Một số GV vào cuối khóa học, dựa trên các kết quả đạt

được đối chiếu với mục đích đề ra của môn học và thực hiện những điều

chỉnh cần thiết để cải tiến.

*.Đánh giá của đồng nghiệp: Tại một số trường ĐH, Cao đẳng, việc

đánh giá của đồng nghiệp được thực hiện bởi một hội đồng các GV có kinh

nghiệm. Các thành viên của hội đồng này dự giờ các lớp học của các GV cần

được đánh giá. Dựa trên các kết quả quan sát, hội đồng đưa ra những khuyến

nghị cho các GV đó nhằm giúp họ nâng cao chất lượng giảng dạy. Hội đồng

này thiên về tư vấn hơn là để đánh giá. Một số trường còn có các thanh tra

chuyên kiểm tra thực trạng học tập và giảng dạy. Một phương thức đánh giá

chủ yếu được sử dụng tại nhiều trường là tự đánh giá dựa trên các nhận xét

của đồng nghiệp. Quá trình này bao gồm các bước: đầu tiên tất cả các GV

điền vào một mẫu tự đánh giá sau đó gửi lên khoa; tiếp theo, GV đọc bản tự

đánh giá trong cuộc họp và những người tham dự sẽ đóng góp ý kiến về bản

tự đánh giá đó; cuối cùng sẽ tiến hành bỏ phiếu cho các cá nhân được đề cử

cho các danh hiệu thi đua như: Lao động tiên tiến, Chiến sĩ thi đua cấp Bộ hay

cấp trường và giấy khen, bằng khen các cấp.



41



*.Ý kiến phản hồi của SV: Mặc dù đa số ý kiến được hỏi cho rằng

nguồn thông tin đánh giá giảng dạy từ ý kiến của SV là rất cần thiết, song

thực tế hiện nay SV chưa quen với việc nhận xét hiệu quả giảng dạy của GV.

Một số trường còn tổ chức diễn đàn cho SV phản hồi trực tiếp trên mạng hoặc

các buổi họp tập trung. Tuy nhiên, trong một số ý kiến phản hồi đã được lược

bớt đi những nhận xét thẳng thắn của SV về GV hoặc SV không giám nhận

xét thẳng thắn về các lỗi của GV và việc làm này cũng không mang lại hiệu

quả tốt.

Qua điều tra ý kiến của GV và cán bộ quản lí ở các trường ĐH, Cao

đẳng thì chiếm tỷ lệ 80% ý kiến đồng ý với việc đánh giá GV cần dựa vào

nguồn thông tin từ ý kiến của SV và mức độ cần thiết của nguồn thông tin này

được GV đánh giá ở mức độ rất cao.

Tóm lại, thực trạng việc đánh GV hiện nay ở các trường ĐH, Cao đẳng

còn mang tính hình thức, thiếu khách quan và đôi khi không chính xác. Do

vậy trong một chừng mực nào đó đánh giá GV đã không mang lại nhiều tác

dụng mà đôi khi còn kìm hãm sự phấn đấu vươn lên của đội ngũ GV.

2.2. Khái quát về trường Cao đẳng Hàng hải I

2.2.1. Quá trình thành lập và phát triển của Trường

Vào những năm 1971-1972 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân

tộc ta đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, miền Bắc vừa xây dựng vừa chi viên

cho miền Nam. Cùng với cả nước ngành đường biển đã góp phần hông nhỏ

trong việc chi viện cho miền Nam. Trong bối cảnh đó để có đội ngũ thuyền

viên có đủ trình độ cần phải được đào tạo cơ bản. Xuất phát từ yêu cầu đó

Trường Cao đẳng Hàng hải I mà tiền thân là trường Công nhân kỹ thuật

Đường biển theo quyết định số 889 /QĐ – TC ngày 04 /5 /1972 của Bộ trưởng

Bộ Giao thông vận tải được thành lập. Nhiệm vụ chính của nhà trường lúc đó

là: Đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật cho 03 nghề chính là Thủy thủ, Thợ

máy và vô tuyến điện với lưu lượng bình quân từ 180 đến 200 học sinh trên



42



năm.Ban đầu trường đặt trụ sở tại xã Minh Đức - huyện Thủy Nguyên - Hải

Phòng ,đây là một huyện ngoại thành, cách trung tâm thành phố Hải Phòng

rất xa.

Trước tình hình mới, để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trường

đã được đổi tên thành: Trường Kỹ thuật và nghiệp vụ Hàng hải I theo quyết định

số: 747- QĐ / TCCB- LĐ ngày 27/4/1980 của Bộ Trưởng Bộ Giao thông vận

tải và Bưu điện.Ngày 02/ 12/ 1966 Trường đổi tên thành trường Trung học

Hàng hải I theo quyết định số 3199- QĐ/ TCC- LĐ của Bộ Trưởng Bộ Giao

thông vận tải .

Ngày 01/02/2007, Phó Thủ tướng - Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào

tạo đã ra Quyết định số : 661/QĐ – BGDĐT về việc thành lập trường Cao

đẳng Hàng hải I trên cở sở Trường Trung học Hàng hải I. Đến nay trường đã

đào tạo trên 20 ngành nghề với lượng học sinh sinh viên chính quy năm

khoảng 9.000 người. Với những thành tích đã đạt được trong 40 mươi năm

qua trường xứng đáng là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực tin cậy phục vụ

cho sự nghiệp phát triển kinh tế của ngành Hàng hải Việt Nam, đáp ứng yêu

cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.[35]

Có thể thấy quá trình hình thành và phát triển của nhà trường gắn liền

với quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước nói chung và của ngành

Hàng hải nói riêng.

2.2.2. Định hướng mục tiêu phát triển của Trường

Trường Cao đẳng Hàng hải 1 đã xác định một cách rõ ràng sứ mạng

của mình “Kế hoạch chiến lược phát triển Trường Cao đẳng Hàng hải I đến

năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020” đó là: “Xây dựng và phát triển Trường

Cao đẳng Hằng hải I theo hướng đa ngành, đa nghề, phát triển thế mạnh về

đào tạo các ngành phục vụ Hàng hải, phấn đấu trở thành Trường Đại học

Hàng hải vào năm 2020. Xây dựng trường thành một trung tâm đào tạo Cao

đẳng, Đại học hàng đầu của cả nước, tiến tới đạt chuẩn khu vực và quốc tế



43



nhằm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Hàng hải đủ về số lượng, đáp ứng

được yêu cầu về chất lượng, theo tiêu chuẩn quy định của của Bộ luật STCW

95 của Tổ chức Hàng hải Quốc tế. Các ngành nghề khác mà Trường đang

đào tạo.”[17, tr.10]

Để đạt được mục tiêu đó Đảng ủy- Ban Giám hiệu và tập thể cán bộ

GV của trường đã xây dựng các kế hoạch, chỉ tiêu cho từng giai đoạn củ thể

như:

- Kế hoạch ngắn hạn ( giai đoạn 2011- 2013)

- Kế hoạch trung hạn ( giai đoạn 2013- 2015)

- Kế hoạch dài hạn ( giai đoạn 2015- 2020)

Ứng với từng giai đoạn đó là các kết quả phải đạt được tương ứng để

đến năm 2020 trường trở thành trường Đại học nằm trong topten 02 trường

đại học có đào tạo Hàng hải, nghiên cứu khoa học hàng đầu của khu vực

Đông Nam Á.[18]

2.2.3. Đội ngũ giảng viên của Trường

2.2.3.1.Số lượng giảng viên

Để đáp ứng nội dung chương trình, mục tiêu yêu cầu đào tạo của trường,

đội ngũ giảng viên trong thời gian qua đã được cải thiện về số lượng và chất

lượng. Hiện nay toàn trường có 256 GV có trình độ đại học và trên đại học,

nhiều GV có hai bằng đại học hoặc đang theo học cao học. Trình độ thực tế

của ĐNGV của trường hiện nay được thống kê như sau:

- Đại học: 130 giảng viên, chiếm 50.78%

- Đang học Cao học: 73 giảng viên, chiếm 28.52%

- Thạc sĩ: 53 giảng viên, chiếm 20.70% ( có 03 giảng viên đang

NCS)

- Tiến sĩ: 01, chiếm 0.39%

- Học hàm PGS: 0 giảng viên, chiếm 0%.



44



Bảng 2.1: Trình độ đội ngũ giảng viên của trường hiện nay

Trình độ



Số lượng



Tỉ lệ %



Đại học



130



50.78



Cao học



73



28.52



Thạc sĩ



53



20.70



Tiến sĩ



1



0.39



PGS



0



0.00



256



100



Tổng số



Ghi chú



03 GV đang làm

nghiên cứu sinh



( Nguồn : Phòng Tổ chức- Hành chính, Trường CĐHH1)

2.2.3.2.Cơ cấu giảng viên theo khoa

Bảng 2.2: Cơ cấu ĐNGV theo khoa

STT



Khoa



Số lượng



1



Điều khiển tàu biển



79



2



Khai thác máy tàu biển



35



3



Cơ điện



47



4



Hợp tác Quốc tế- Khoa học



Ghi chú



9



công nghệ

5



Tổ môn Kinh tế- Kế toán



10



6



Tổ môn Cơ sở Cơ bản



27



7



Tổ môn Tiếng anh



25



8



Xưởng- Đội tàu



26



Tổng



256



( Nguồn : Phòng Tổ chức- Hành chính, Trường CĐHH1)



45



2.2.3.3. Cơ cấu giảng viên theo trình độ học vấn

Trong giai đoạn hiện nay, khi sự thay đổi công nghệ luôn đòi hỏi sự

thay đổi nhiều về kỹ năng, kỹ xảo trong thực hành và cách thức học tập của

sinh viên thì trình độ học vấn của ĐNGV là một trong những yêu cầu và tiêu

chuẩn phản ánh chất lượng đội ngũ giảng viên. Hiện tại trình độ học vấn của

ĐNGV trong trường được thể hiện qua bảng sau.

Bảng 2.3: Trình độ học vấn của GV tại các khoa trong trường

S

T

T



Khoa



1



Điều khiển tàu biển



2



Giáo



Tiến





Khai thác máy tàu



Tỉ lệ

%



Th





3

4



Tỉ lệ

%



Đại

Học



Tỉ lệ

%



18.99



10



12.66



54



68.35



9



25.71



16



45.71



10



28.57



13



28.26



10



21.74



23



50.00



3



33.33



1



11.11



4



44.44



4



40.00



3



30.00



3



30.00



5



Cơ điện



Cao

Học



15



biển



Tỉ lệ

%



18.52



15



55.56



7



25.93



Hợp tác Quốc tếKhoa học công



1



11.11



nghệ

5



Tổ môn Kinh tếKế toán



6



Tổ môn Cơ sở Cơ

bản



7



Tổ môn Tiếng anh



3



12.50



15



62.50



6



25.00



8



Xưởng- Đội tàu



0



0.00



3



11.54



23



88.46



53



20.70



73



28.52



130



50.78



Tổng



1



0.39



( Nguồn : Phòng Tổ chức - Hành chính, Trường CĐHH1)

Bảng số liệu cho thấy ở thời điểm hiện tại tỷ lệ GV có trình độ học vấn

sau ĐH chỉ chiếm 21.09%. Tỷ lệ GV có trình độ ĐH còn chiếm ở mức độ

cao, đây là một hạn chế lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Các khoa

thuộc lĩnh vực đào tạo chính của trường như khoa Điều khiển tàu biển, Khai



46



thác máy tàu biển, Cơ điện bước đầu đã có nhiều GV có trình độ Thạc sĩ,

nhưng vẫn chưa có GV là Tiến sĩ, đặc biệt như Xưởng - Đội tàu chưa có GV

nào là Thạc sĩ. Đây là một điều khó cho việc các GV giúp đỡ nhau trong

chuyên môn nghiệp vụ , khi mà ở các khoa chưa có những GV có trình độ

chuyên sâu về chuyên môn cũng như về nghiệp vụ sư phạm.

Để công tác đánh giá GV được khách quan và thực sự mang lại hiệu

quả, được các GV coi như là một nhiệm vụ thường nhật khi chúng ta lấy được

thông tin từ đồng nghiệp của GV. GV cũng chỉ nâng cao được chuyên môn

nghiệp vụ khi bên cạnh họ có những người bạn, những người thầy sẵn sàng

chia sẻ ở mọi lúc, mọi nơi.

Trường Cao đẳng Hàng hải I là một trường kỹ thuật do đó cơ cấu

chuyên môn của đội ngũ giảng viên đang tập trung vào một số chuyên ngành

nhất định điều đó thể hiện tính đặc thù của một trường chuyên ngành. Tuy

nhiên, trước nhu cầu lao động đa dạng cho phát triển kinh tế địa phương, đất

nước và từng bước tham gia vào phân công lao động quốc tế thì việc đa dạng

ngành nghề, loại hình đào tạo đang là hướng phát triển của tất cả các cơ sở

đào tạo. Điều đó cho thấy trong những năm tiếp theo Trường cần phải có kế

hoạch thích hợp nhằm chuyển dịch từ đào tạo chuyên ngành sang đào tạo đa

ngành. Đảm bảo cho ngành nghề đào tạo thích ứng nhanh với nhu cầu lao

động của xã hội. Bước đi thích hợp cho sự chuyển dịch này là mở rộng các

nghề lân cận, các chuyên ngành đang đào tạo, vừa tiết kiệm, vừa tạo sự

chuyển tiếp hợp lý, trừ những ngành mở mới mang tính đặc thù do yêu cầu

của thị trường lao động từng giai đoạn. Điều đó cũng là một khó khăn trong

công tác đánh giá GV đối với một trường kỹ thuật mà quy mô đào tạo luôn

được đa dạng hóa.

2.2.3.4. Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo giới tính

Trường Cao đẳng Hàng hải I là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho Cục

Hàng hải Việt Nam chủ yếu với các chuyên ngành đào tạo phục vụ cho lĩnh



47



vực Hàng hải, năm 2007 trường mở thêm đào tạo Kế toán doanh nghiệp. Lực

lượng GV chủ yếu là GV nam, đội ngũ GV nữ chiếm rất thấp (qua bảng 2.4).

Đây cũng là một điều khó cho công tác đánh giá GV .

Bảng 2.4: Cơ cấu ĐNGV theo giới tính

STT



Năm 2007



Năm 2008



Năm 2009



Năm 2010



Nam



Nữ



Nam



Nữ



Nam



Nữ



Nam



Nữ



170



65



179



65



180



68



186



70



72.34



27.66



73.36



26.64



72.58



27.4



72.66



27.34



%



%



%



%



%



%



%



%



Số

lượn

g

Tỷ lệ



( Nguồn : Phòng Tổ chức- Hành chính, Trường CĐHH1 )

2.2.3.5. Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo độ tuổi

Tính liên tục, tính kế thừa được phản ánh qua độ tuổi của ĐNGV. Tỷ lệ,

cơ cấu hợp lý giữa các độ tuổi GV sẽ đảm bảo tính liên tục và kế thừa trong

công tác chuyên môn. Cơ cấu độ tuổi phản ánh những biến động về chất

lượng ĐNGV. Đây là một trong những yếu tố cần thiết giúp cho nhà trường

cũng như các khoa có kế hoạch xây dựng, kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi

dưỡng GV.

Hiện tại ĐNGV của trường có cơ cấu theo độ tuổi như sau:

Bảng 2.5: Cơ cấu ĐNGV theo độ tuổi

Tổng

số



Dưới 30

Số

lượng



256



82



Tỷ lệ

32.03



Từ 30-44

Số

lượng

112



Tỷ lệ

43.75



Từ 45-60

Số

lượng

61



Tỷ lệ

23.83



Trên 60

Số

lượng

1



Tỷ lệ

0.39



( Nguồn : Phòng Tổ chức- Hành chính, Trường CĐHH1)

Bảng thống kê độ tuổi cho thấy sự bất hợp lý cho quá trình chuyển tiếp

thế hệ. Số người trong độ tuổi dưới 45 chiếm tới 75,78%. Đây là lực lượng



48



cán bộ giảng viên trẻ năng động và có tính sáng tạo cao, tiếp thu nhanh cái

mới, tuy nhiên kinh nghiệm quản lý và giảng dạy còn hạn chế. Tỷ lệ độ tuổi

này tập trung trong giai đoạn ngắn vì vậy sự chuyển tiếp mềm thế hệ là không

thích hợp. Như vậy, sẽ có những giai đoạn trên một phần tư số người nghỉ

chế độ cùng một lúc gây ra tình trạng hẫng hụt nguồn lực. Hiện tượng này

được gọi là hiện tượng "Chuối chín cả buồng". Số liệu cũng phản ánh thực

trạng việc tiếp nhận người một cách khá ồ ạt nhằm đáp ứng việc tăng quy

mô đào tạo vào giai đoạn 2003-2008 (lưu lượng đào tạo tăng từ 1450

HS/2003 lên trên 7.300 HS,SV/ 2008) . Để khắc phục tình trạng này cần phải

đặt biệt quan tâm đến độ tuổi khi tiếp nhận cán bộ, giảng viên bên cạnh các

tiêu chí khác như trình độ, kinh nghiệm, giới tính…

Đây là một khó khăn nữa trong công tác đánh giá GV của trường khi

mà độ tuổi của GV có sự bất hợp lý như trên. Để đảm bảo và từng bước nâng

cao chất lượng đào tạo với một trường kỹ thuật thì công tác đánh giá GV của

trường cần phải được tiến hành một cách nghiêm túc với sự tham gia của tất

cả các lực lượng đào tạo đặc biệt là tranh thủ sự cống hiến của các GV cao

tuổi ,những người có bề dày kinh nghiệm trong giảng dạy lý thuyết cũng như

trong giảng dạy thực hành trước khi các GV đó về nghỉ hưu.

2.3. Thực trạng đánh giá GV của trường Cao đẳng Hàng hải I

2.3.1. Công tác quản lý GV của trường Cao đẳng Hàng hải I

Coi trọng xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ, là yếu tố quyết định

thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển Nhà trường trước mắt

cũng như lâu dài, đây là sứ mạng chung cho các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực

nhằm cung ứng nhân lực chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng tốc độ phát triển

kinh tế đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế. Nhận thức rõ vai tro quyết

định của yếu tố con người nên nhiều năm Trường Cao đẳng Hàng hải I đã

dành sự quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng bồi dưỡng , đặc biệt là

công tác quản lý đội ngũ GV của trường.



49



Kế hoạch tổng thể quản lý phát triển đội ngũ GV của trường Cao đẳng

Hàng hải I được xây dựng dựa trên sự tính toán và phát triển quy mô đào tạo

các loại hình trong thời gian từ 5 đến 10 năm thậm trí là 15 năm căn cứ theo

số lượng SV, về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu loại hình, trình độ đào tạo, về cơ

sở vật chất,…Ngoài ra hàng năm cần tính đến số cán bộ nghỉ hưu để xác định

số lượng và chất lượng GV cần tuyển dụng.

Việc xây dựng kế hoạch tổng thể quản lý phát triển đội ngũ GV là tạo

ra cho trường một đội ngũ GV đủ cả về số lượng và chất lượng, đồng bộ về cơ

cấu trình độ và độ tuổi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo các loại hình và

nâng cao dần chất lượng theo mục tiêu đề ra của nhà trường.

Bên cạnh việc ban hành Quy chế bắt buộc cán bộ- GV trẻ phải tự

nâng cao trình độ trong thời gian 5 năm kể từ ngày được ký hợp đồng lao

động, Quy chế còn quy định chế độ đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc để nâng

cao trình độ tin học, ngoại ngữ đối với cán bộ - GV có độ tuổi dưới 50. Bên

cạnh đó Trường còn có cơ chế khuyến khích cán bộ GV nâng cao trình độ

cụ thể như sau:

- GV tham gia học Cao học và nghiên cứu, thời gian đi học được tính

vào giờ lên lớp theo tiêu chuẩn.

- Cấp 100% học phí cho các đối tượng học Cao học, học sỹ quan vận

hành không hạn chế các hạng tàu.

- Hỗ trợ kinh phí hàng tháng cho đối tượng nghiên cứu sinh , thưởng

100 triệu đồng cho nghiên cứu sinh hoàn thành luận án Tiến sĩ, cũng như đi

du học ở nước ngoài.

- Tập thể, cá nhân có đề tài NCKH cấp Trương đều được Hiệu trưởng

hỗ trợ kinh phí ngay trong thời gian nghiên cứu. Nếu đạt kết quả thiết thực sẽ

được khen thưởng.[36]

Công tác quản lý việc đánh giá GVcũng luôn được nhà trường coi

trọng.



50



2.3.2. Các nội dung đánh giá GV của trường Cao đẳng Hàng hải I

Trong thực tại chung của các trường Cao đẳng, ĐH trường Cao đẳng

Hàng hải I cũng chưa xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá GV, do đó việc

đánh giá GV chưa thực sự đạt yêu cầu, chưa bao quát hết các nhiệm vụ, chức

năng của GV, mà việc đánh giá đó vẫn mang tính tạm thời, không đồng bộ.

Trong thời gian qua Trường đã đánh giá GV theo một số nội dung sau:

Trường Cao đẳng Hàng hải I quy định về tiêu chuẩn đánh giá GV theo

tiêu chuẩn các danh hiệu thi đua sau:

- Danh hiệu Lao động tiên tiến: Trong năm học cá nhân phải đạt đủ 04

điểm sau:

1)Là cá nhân tích cực, gương mẫu trong đơn vị; chấp hành tốt chủ

trương, chính sách, nội quy, quy chế, tích cực tham gia các công tác đoàn thể;

thực hiện đúng các quy định về thi đua, khen thưởng;

2)Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;

3)Luôn có ý thức cải tiến phương pháp làm việc, áp dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật để nâng cao hiệu quả lao động, tích cực tham gia NCKH;

4) Tích cực học tập nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp

vụ, văn hóa, ngoại ngữ;

- Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Cơ sở, GV phải đạt đủ 03 điểm sau:

1) Là cá nhân xuất sắc trong số những cá nhân đạt danh hiệu Lao động

tiên tiến; có nhiều đóng góp xây dựng đơn vị; không vi phạm Nôi quy, quy

chế; có nhiều đóng góp xây dựng đơn vị; có Bản đăng ký phấn đấu đạt danh

hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Cơ sở, có bản khai thành tích;

2) Trong năm học có sáng kiến cải tiến, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, hoặc

NCKH; có thành tích trong học tập nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn,

nghiệp vụ ;

3) Trong năm học phải có ít nhất một trong những thành tích sau đây:

- Là tấm gương tiêu biểu cho toàn đơn vị học tập.



51



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

×