1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3 TIÊU CHUẨN VÀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ GIẢNG VIÊN THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 110 trang )


CHƯƠNG 3

TIÊU CHUẨN VÀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ GIẢNG VIÊN

THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I

3.1. Nguyên tắc khi xây dựng chuẩn và thực hiện đánh giá GV

3.1.1. Đánh giá giảng viên phải dựa vào cơ sở pháp lý

Việc đánh giá viên chức hàng năm được Nhà nước quy định tại Nghị

định 116/ 2003/ NĐ- CP ngày 10 /10 /2003 của Chính phủ. Quy chế đánh giá

công chức hàng năm ban hành theo quyết định số: 11/1998/TCCP-CCVC

ngày 05/12/1998 của Bộ Trưởng – Trưởng ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ

cũng đã quy định rõ đối tượng, nội dung, quy trình đánh giá, tổ chức thực

hiện và kèm theo là các biểu mẫu đánh giá.

Do đó, việc đánh giá GV với tư cách là một viên chức phải quán triệt

được các quan điểm và quy định nêu trên của Đảng và Nhà nước.

3.1.2. Đánh giá GV phải tác động vào các khâu, các yếu tố của quá trình

quản lý đội ngũ thông qua các tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng, đầy đủ

Phát triển đội ngũ GVlà một quá trình với nhiều khâu nhiều bước có quan

hệ chặt chẽ với nhau: đào tạo ,bồi dưỡng- sử dụng. Công tác đánh giá GV

cũng gồm một quy trình có nhiều khâu có quan hệ hữu cơ với công tác quản

lý các hoạt động khác trong nhà trường CĐ, ĐH. Vì vậy quy trình đánh giá

GV phải tác động vào tất cả các khâu của quá trình quản lý, vào các thành tố

của quá trình phát triển đội ngũ GV, vào các chủ thể tham gia quá trình này

Đồng thời, mỗi tiêu chuẩn chỉ tác động vào một khâu, một mặt hoạt động

nhất định của GV. Do đó các tiêu chí phải có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất

với nhau để tạo tác động tổng hợp, đồng bộ đến quá trình quản lý GV. Các

tiêu chuẩn đánh giá phải bao quát toàn bộ hoạt động theo chức trách của GV

với tư cách là: trí thức, nhà giáo, nhà khoa học và người công dân. Nguồn



61



thông tin đánh giá phải khái quát được đầy đủ nhiệm vụ cụ thể trong mô hình

hoạt động của GV

Muốn lập ra chuẩn đánh giá tốt, trước tiên cần phải biết yếu tố của chuẩn

đánh giá. Tiếp đến cần tìm căn cứ lập ra tiêu chuẩn đánh giá. Có căn cứ khoa

học mới có thể định ra tiêu chuẩn và các tiêu chí đánh giá khoa học khách

quan và hiệu quả

Hệ thống tiêu chí đánh giá là chỉ tập hợp của nội dung đánh giá cụ thể

của yêu cầu chuẩn chất lượng và số lượng hoạt động theo chức năng nhiệm vụ

của người GV. Nó chủ yếu là căn cứ vào tập hợp nội dung giá trị cần xem xét:

mục tiêu, nội dung, phương tiện, phương pháp để đạt được chuẩn đối với hoạt

động của người GV

Khi thiết kế hệ thống tiêu chí đánh giá GV, không những cần xem xét

các mimh chứng của tiêu chuẩn đánh giá GV, mà còn tuân thủ quy luật nội tại

của bản thân hệ thống tiêu chí. Trong hoạt động thực tiễn đánh giá GV, chúng

ta đã tổng kết hàng loạt nguyên tắc thiết kế hệ thống tiêu chí. Những nguyên

tắc này sẽ có tác động chỉ đạo trực tiếp đối với việc thiết kế hệ thống tiêu chí

đánh giá

3.1.3. Đánh giá GV phải góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ

Quy trình đánh giá GV ở CĐ, ĐH phải góp phần nâng cao chất lượng

đội ngũ; định hướng và làm động lực cho đội ngũ GV tự giác hoàn thiện mình

theo chuẩn. Hoạt động của GV trong trường CĐ, ĐH cũng như bất kỳ một

công việc chuyên môn nào khác, chịu áp lực của hai loại lợi ích: lợi ích cá

nhân và lợi ích tập thể. GV CĐ, ĐH là những người có trình độ chuyên môn

nghiệp vụ cao, được xã hội, nhà trường, SV tôn vinh và kính trọng, đồng thời

tạo mọi điều kiện để họ học tập, tu dưỡng và thăng tiến trong sự nghiệp của

mình. Mặt khác xã hội, nhà trường, SV cũng đòi hỏi GV có tinh thần trách

nhiệm cao, toàn tâm toàn ý với công việc của họ. Chính vì vậy việc đánh giá

GV cũng phải nhằm ủng hộ, thúc đẩy cho sự phát triển của cá nhân họ, đồng



62



thời cũng phải giúp cho sự tiến bộ của nhà trường. Đánh giá GV phải trở

thành động lực thúc đẩy sự tiến bộ và cải cách trong nhà trường khi các thông

tin đánh giá được sử dụng để ra cá quyết định về nhân sự.

3.1.4. Đánh giá GV phải có sự hợp tác của đối tượng đánh giá

Quy trình đánh giá GV phải phát huy vai trò chủ động, tích cực của GV,

làm họ tự giác tham gia vào quy trình đánh giá và tự đánh giá. Đánh giá trong

giáo dục về cơ bản là một hoạt động mang tính xã hội, có tầm quan trọng

hàng đầu đối với vấn đề chất lượng. Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận rằng việc

đánh giá thường xuyên có tác động tích cực tới việc nâng cao không ngừng

chất lượng của quá trình dạy và học. Do chất lượng là trách nhiệm của tất cả

mọi người, đặc biệt là người có liên quan trực tiếp tới hoạt động giảng dạy,

GV trở thành những người đóng vai trò chủ chốt trong việc đánh giá công

việc của chính họ. Vấn đề là làm sao cho GV tham gia vào việc đánh giá một

cách hợp lý và có hiệu quả, trong đó họ vừa là người được đánh giá vừa là

người hỗ trợ cho việc đánh giá.

3.1.5. Đánh giá GV phải thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế nhà trường

Đánh giá phải đảm bảo công bằng, dân chủ khách quan có tác dụng góp

phần hoàn thiện cá nhân GV trong việc đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển nhà

trường và xã hội. Quy trình đánh giá GV phải thiết thực, phù hợp với điều

kiện thực tế của từng trường. Để đáp ứng yêu cầu này khi xây dựng quy trình

cần chỉ ra các việc cần làm, nội dung và cách tiến hành các công việc một

cách cụ thể sao cho CBQL, GV có thể hiểu và thực hiện được. Các phương

pháp đánh giá được thiết kế sao cho phù hợp với trình độ, năng lực chuyên

môn nghiệp vụ của CBQL, GV, điều kiện cơ sở vật chất và các nguồn lực

khác của nhà trường. Các tiêu chí phải dựa trên cơ sở thực tế: điều kiện, hoàn

cảnh công tác của GV, điều kiện và nhu cầu của từng trường. Đánh giá GV

phải chú ý đến vấn đề tâm lí, truyền thống dân tộc và đặc thù nghề nghiệp của

nhà giáo. Tuy nhiên, cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế, giáo dục CĐ, ĐH



63



đang tiến hành thực hiện tiến trình hội nhập với nền giáo dục CĐ, ĐH tiên

tiến, cho nên việc đánh giá GV cũng cần phải tiếp cận với trình độ quốc tế, để

có thể tiếp thu ngay những kinh nghiệm đánh giá từ các nước có nền giáo dục

CĐ, ĐH phát triển.

3.1.6. Đánh giá GV cần được thực hiện một cách khách quan

Đánh giá GV phải xuất phát từ tuyên bố sứ mạng của nhà trường, do đó

nó cần được thực hiện liên tục và thường xuyên thể hiện trong kế hoạch chiến

lược, trong chương trình công tác hàng năm của nhà trường, của khoa. Để

đánh giá GV có kết quả tốt nhất khi nó được tiến hành thường xuyên liên tục

chứ không phải là “những hình ảnh rời rạc”. Khi xây dựng quy trình đánh giá

cần có sự đồng thuận cao của đội ngũ GV về nội dung, phương pháp, nguồn

thông tin đánh giá và sử dụng nguồn thông tin đánh giá…Nguồn thông tin

đánh giá cần phải đầy đủ, bao hàm được toàn bộ hoạt động của GV, thu thập

nguồn thông tin phong phú từ các chủ thể khác nhau và cần sử dụng cả 2

nhóm phương pháp đánh giá định tính và định lượng.

3.2. Biện pháp đánh giá GV theo hướng chuẩn hóa

3.2.1. Xây dựng tiêu chuẩn và phổ biến thống nhất trong cán bộ GV

3.2.1.1. Xác định chức trách, nhiệm vụ của GV

Chức trách và nhiệm vụ của GV phần lớn được các trường xác định dựa

trên hai nhiêm vụ đó là giảng dạy và NCKH.

Tỷ lệ giữa hai nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu cũng dao động tùy

thuộc vào từng trường CĐ, ĐH. Trong một số trường CĐ, ĐH nghiên cứu tỷ

lệ GV tham gia giảng dạy CĐ, ĐH và nghiên cứu nhiều hơn ở một số trường

CĐ,ĐH khác.

Tuy nhiên, đã có nhiều nhà nghiên cứu phê phán quan niệm như trên về

trách nhiệm của GV và cho rằng các trường CĐ, ĐH chưa quan tâm đúng

mức tới quá trình học tập và tiến bộ của SV. Hơn nữa, GV các trường CĐ,

ĐH ngày càng mở rộng môi trường làm việc của mình vượt khỏi phạm vi nhà



64



trường, Với các trường CĐ, ĐH khác, với các địa phương khác, thậm chí với

các đồng nghiệp ở nước ngoài.

Tất cả các yếu tố nêu trên cần được tính đến khi xác định các loại hình

công việc thuộc chức trách của GV. Chúng tôi có chung một quan điểm về

cách xác định đầy đủ chính xác công việc của GV được cấu thành từ 4 yếu tố

chính: Giảng dạy; NCKH;Dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng; Bổn phận

công dân với tư cách là một nhà khoa học.

Cách xác định công việc của GV theo mô hình 4 phần này cũng chỉ mang

tính ước lệ và tương đối, bởi lẽ khó phân biệt rạch ròi giữa giảng dạy, nhất là

giảng dạy CĐ, ĐH và sau ĐH và nghiên cứu, giữa nghiên cứu và dich vụ phục

vụ cộng đồng và với thực hiện nghĩa vụ công dân. Cũng có một số công trình

nghiên cứu chỉ xem xét 3 yếu tố: Giảng dạy, NCKH, phục vụ cộng đồng.

*. Giảng dạy

Công tác giảng dạy CĐ, ĐH trong giai đoạn hiện nay được xem xét rộng

hơn việc đơn thuần truyền đạt kiến thức cho SV. Bản chất của việc giảng dạy

là sáng tạo ra những tình huống mà ở đó việc học diễn ra một cách phù hợp,

công việc mà GV cần làm là sắp xếp các tình huống đó để có thể tiến hành

giảng dạy một cách có hiệu quả, nói cách khác dạy và học là 2 mặt của một

vấn đề, do vậy nó phải được xem xét đồng thời.

*.Hoạt động nghiên cứu

Hoạt động nghiên cứu trong chức trách của GV bao gồm tất cả các hoạt

động phát hiện hoặc tích hợp các kiến thức có thể đóng góp cho kho tàng kiến

thức của nhân loại, hoặc cho chính bản thân GV, giúp họ có được những hiểu

biết rộng hơn, sâu hơn về chuyên ngành đang giảng dạy, hoặc tạo ra những

kiến thức tổng hợp, liên môn kích thích nhu cầu nghiên cứu sâu hơn về những

vấn đề liên quan.

*.Dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng



65



Ngoài hai hoạt động giảng dạy và nghiên cứu các nhà quản lý giáo dục

CĐ, ĐH thấy cần phải đưa vào phạm vi chức trách của GV một loại hình công

việc nữa. Nếu xem giảng dạy- nghiên cứu- phục vụ cộng đồng là trách nhiệm

của một trường CĐ, ĐH, thì 3 nhiệm vụ này cũng là nhiệm vụ của từng GV.

Trong điều kiện hiện nay, ngoài trường CĐ, ĐH của mình, GV với trình độ

chuyên môn, nghiệp vụ , kinh nghiệm của bản thân có thể tham gia vào nhiều

hoạt động hữu ích khác ở các trường CĐ, ĐH khác, thuộc các khu vực kinh

tế- xã hội khác. Những hoạt động này cũng cần được xem xét và đánh giá

trong thành tích hoạt động chung của GV.

*. Trách nhiệm công dân

Yếu tố thực từ trong chức trách GV là nghĩa vụ công dân, hay trách

nhiệm xã hội của GV. Ngoài các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ mà theo đó

GV được nhận phần lương, thù lao, thưởng tương xứng (thông qua giảng dạy,

nghiên cứu và dịch vụ), GV cần tham gia các hoạt động xã hội công ích.

Như vậy ta đã xác định được một cách tương đối toàn diện các loại

hình công việc thuộc chức trách GV và đó cũng là trọng tâm của sự tự đánh

giá cũng như đánh giá bên ngoài.Đương nhiên việc đánh giá mức độ hoàn

thành các loại hình công việc trên tùy thuộc vào năng lực của từng GV cũng

như từng lĩnh vực mà GV giảng dạy. Tỷ trọng của từng nhiệm vụ của GV

phải phụ thuộc vào những yếu tố sau:

- Theo chức danh của GV như GV, GVC, GVCC. Ví dụ GV tỷ trọng

phân bố trọng trách cho việc NCKH tất nhiên phải ít hơn GVC…

- Theo mục tiêu của từng trường, từng lĩnh vực của GV công tác.

- Theo năng lực của từng GV. Như chúng ta đã biết, có những GV

mạnh cả về giảng dạy và nghiên cứu, Có những GV mạnh về nghiên cứu

nhưng hạn chế về giảng dạy hoặc ngược lại… Vì vậy, để phát huy thế mạnh

của từng GV,nhà trường và cá nhân GV cần xác định tỷ trọng phù hợp để có

thể phát huy hết thế mạnh của đội ngũ hiện có.



66



Do đó việc đưa ra mức tối thiểu tỷ lệ phần trăm cho từng chức danh

GV và tương ứng với từng nhiệm vụ của họ là rất khó. Người GV chỉ thức sự

hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình khi họ tham gia và thực hiện đủ các nhiệm

vụ của họ. Nếu thiếu đi một nhiệm vụ hoặc phân bổ nhiệm vụ không cân đối

sẽ tạo nên "hình ảnh không cân đối" của người GV.Qua việc khảo sát ở các

trường ĐH, CĐ trên thành phố Hải Phòng: ĐH Hàng hải, ĐH Hải Phòng, ĐH

Dân lập Hải Phòng, Cao Đẳng Bách nghệ và hiện tại của trường Cao đẳng

Hàng hải I, tác giả xin nêu mức quy định tỷ lệ tối thiểu của mỗi nhiệm vụ GV

như sau:

Bảng 3.1: Minh họa về tỷ lệ tối thiểu của mỗi nhiệm vụ GV

Nhiệm vụ chủ yếu



GV



GV chính



GV cao cấp



Giảng dạy



65%



55%



45%



Các hoạt động NCKH



25%



30%



40%



5%



10%



10%



5%



5%



5%



Dịch vụ chuyên môn phục vụ

nhà trường, cộng đồng

Trách nhiệm công dân với tư

cách là nhà khoa học



3.2.1.2. Căn cứ theo quy định pháp lí về nhiệm vụ của giảng viên

Nền kinh tế muốn phát triển bền vững thì chất lượng giáo dục CĐ, ĐH

phải đi trước một bước. Mục tiêu của giáo dục CĐ, ĐH “là đào tạo người học

có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và

năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe,

đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Để các trường CĐ, ĐH có thể

đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thì chất lượng của đội ngũ GV đóng vai

trò chủ chốt. Đội ngũ GV phát triển theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã



67



hội hóa để thực hiện các chức năng nghề nghiệp với vai trò nhà giáo, nhà

khoa học và người công dân tốt. Muốn thực hiện được chức năng này đòi hỏi

người GV phải có năng lực nghề nghiệp toàn diện trong đó cần có một số

năng lực mới đáp ứng trong giai đoạn hiện nay.

Để xây dựng hệ mục tiêu đánh giá, cần căn cứ theo Quy định chung của

Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ của từng chức danh GV. Đây là một căn cứ có tính

pháp lí quy định nhiệm vụ của GV. Như vậy xây dựng hệ mục tiêu đánh giá

cần lấy các nhiệm vụ của GV làm căn cứ xác định các tiêu chí trong việc xây

dựng quy định đánh giá đối với GV.

Theo cách tiếp cận như trên chúng ta có thể xác định các tiêu chí trong

mỗi vai trò mà người GV cần phải thực hiện. Với mỗi vai trò GV cần phải

thực hiện những chức năng khác nhau, mỗi chức năng lại có những nhiệm vụ

hoặc công việc khác nhau. Những công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể trong từng

chức năng chính là các tiêu chí mà GV cần thực hiện. Với mỗi vai trò GV cần

phải thực hiện những chức năng khác nhau, mỗi chức năng lại có những

nhiệm vụ hoặc công việc khác nhau.Những công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể

trong từng chức năng chính là các tiêu chí mà GV cần thực hiện.

Trên cơ sở phân tích chức năng, nhiệm vụ cụ thể của GV, chúng tôi đưa

ra 3 lĩnh vực dựa vào 4 nhiệm vụ mà GV phải thực hiện làm căn cứ quản lý

chất lượng hoạt động nghề nghiệp của GV CĐ, ĐH, đây chính là căn cứ đánh

giá GV.

Việc xác định trong số đánh giá giữa các nhiệm vụ cũng cần phải dựa

theo khung pháp lí quy định cho từng nhiệm vụ theo từng chức danh GV.

Trên bảng 3.2 là khối lượng giờ làm việc và tỷ lệ giữa các nhiệm vụ quy định

cho từng chức danh GV. Vì vậy, khi quy định về đánh giá GV cần bám sát tỷ

lệ này để đánh giá GV thì mới tạo công bằng và khoa học trong đánh giá.



68



Bảng 3.2. Phân bổ khối lượng công tác của GV theo quy định của Bộ

Giảng viên



Phó giáo sư và

giảng viên chính



Giáo sư và giảng

viên cao cấp



Giảng dạy



900 giờ



900 giờ



900 giờ



Nghiên cứu khoa học



500 giờ



600 giờ



700 giờ



Hoạt động chuyên môn

và các nhiệm vụ khác



360 giờ



260 giờ



160 giờ



Nhiệm vụ



Bảng 3.3. Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy của GV

Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy

Chức danh giảng viên



Quy định

Môn Giáo dục thể chất, Quốc

chung cho các phòng-An ninh ở các trường

môn

không chuyên



Giáo sư và giảng viên cao cấp



360



500



Phó giáo sư và giảng viên

chính



320



460



Giảng viên



280



420



Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy của GV để thực hiện các nhiệm

vụ cụ thể của GV được quy định như bảng 3.3.[6]

3.2.1.3. Căn cứ vào mục tiêu cụ thể của trường Cao đẳng Hàng hải I

Trong bối cảnh mới, mỗi trường CĐ, ĐH cần chọn cho mình một

hướng đi thích hợp theo sứ mệnh và mục tiêu chiến lược đã đề ra. Theo mục

tiêu chiến lược của mỗi trường, nhà quản lý cũng như GV cần phải định

hướng và cụ thể hóa nhiệm vụ của mình để hướng tới mục tiêu chung đồng

thời phù hợp với mục tiêu cá nhân, trên cơ sở sử dụng có hiệu quả khả năng

của từng thành viên trong nhà trường cho lợi ích chung và lợi ích bản thân.



69



Trong sứ mạng của Trường Cao đẳng Hàng hải I đã xác định một cách

rõ ràng “Kế hoạch chiến lược phát triển Trường Cao đẳng Hàng hải I đến năm

2015, tầm nhìn đến năm 2020” đó là: “Xây dựng và phát triển Trường Cao

đẳng Hằng hải I theo hướng đa ngành, đa nghề, phát triển thế mạnh về đào

tạo các ngành phục vụ Hàng hải, phấn đấu trở thành Trường Đại học Hàng

hải vào năm 2020. Xây dựng trường thành một trung tâm đào tạo Cao đẳng,

Đại học hàng đầu của cả nước, tiến tới đạt chuẩn khu vực và quốc tế nhằm

đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Hàng hải đủ về số lượng, đáp ứng được

yêu cầu về chất lượng, theo tiêu chuẩn quy định của của Bộ luật STCW 95

của Tổ chức Hàng hải Quốc tế. Các ngành nghề khác mà Trường đang đào

tạo.”[17] Với đặc trưng là một trường Cao đẳng kỹ thuật, đội ngũ GV của

trưởng ngoài việc có kiến thức về lý thuyết thì họ phải có kiến thức chuyên

sâu về thực hành.

Với cách tiếp cận như trên cho nên khi đăng ký hoặc giao nhiệm vụ

cho GV cần dựa trên những tiêu chí động và những tiêu chí đánh giá có tính

thực tiễn cao, dựa vào những mảng công việc có thật và thường xuyên của

mọi GV. Căn cứ theo mục tiêu của nhà trường đặc thù môn học và năng lực

giảng dạy và nghiên cứu của GV để xây dựng mục tiêu đánh giá cho trường

Cao đẳng Hàng hải I là rất phức tạp.

Để xây dựng kết quả mong muốn từ các loại hình công việc thuộc chức

trách của một GV, cần làm rõ mục tiêu mà cá nhân và tổ chức mong muốn đạt

tới. Mọi hoạt động của một GV đều hướng tới một mục tiêu kép: cho bản thân

và cho toàn trường. Đối với bản thân, người GV bao giờ cũng đạt mục tiêu

hàng đầu là sự phát triển nghề nghiệp, tích lũy kinh nghiệm và tự thể hiện

mình. Kết quả mong muốn của từng GV cũng như của toàn trường là chất

lượng công việc của họ,hay có thể dùng các từ khác như giá trị, công sức,

hiệu quả, ảnh hưởng của từng GV tới sứ mạng của trường CĐ, ĐH cũng như

sự thăng tiến của từng GV.Chất lượng hay sự xuất sắc là một phạm trù phức



70



hợp, nhiều chiều được xem xét trong một bối cảnh nhất định trong mối liên hệ

chặt chẽ giữa các thành viên.Do vậyđể đánh giá hoạt động của các GV phạm

trù chất lượng được xây dựng thành các tiêu chí và được cụ thể hóa bằng

các chỉ số (định tính hoặc định lượng ).Ví dụ: Các trường cần đưa ra các

tiêu chuẩn cho hoạt động giảng dạy được xem là có chất lượng. Mỗi tiêu

chuẩn có thể được cụ thể hóa bằng một chỉ số.

3.2.1.4. Phổ biến thống nhất trong cán bộ giảng viên

Đánh giá GV chỉ thực sự mang lại hiệu quả thiết thực khi mỗi cán bộ

GV tự nguyện tham gia vào công tác đánh giá đồng nghiệp và đánh giá bản

thân.Với thực tế đội ngũ GV của trường Cao đẳng Hàng hải I như hiện nay thì

việc phải phổ biến tới họ, để các GV đó hiểu được chức trách, nhiệm vụ của

một GV thì phải làm những gì, căn cứ vào đâu mà họ phải thực hiện như vậy.

Với bất kỳ một trường Cao đẳng nào thì đội ngũ GV cũng bao gồm

các chức danh như GV, GVC, GVCC. Riêng trường Cao đẳng Hàng hải I

đội ngũ GV rất đa dạng vậy thì việc xác định tỷ trọng phân bố trọng trách

cho đội ngũ GV là rất khó do đó cần phải có sự thống nhất của tất cả cán

bộ GV trong trường.

3.2.2. Hoàn thiện bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp của GV phù hợp với điều kiện

trường Cao đẳng Hàng hải I

Theo cách tiếp cận như trên ta có thể xác định các tiêu chí trong mỗi

tiêu chuẩn ứng với vai trò (hay lĩnh vực hoạt động) mà GV cần phải thực

hiện. Với mỗi vai trò GV cần phải thực hiện các chức năng khác nhau, trong

đó mỗi chức năng lại cụ thể hóa thành những nhiệm vụ và các công việc cụ

thể khác nhau. Những công việc hoặc nhiệm vụ trong từng chức năng chính là

tiêu chí mà mỗi GV cần phải thực hiện.

Trên cơ sở phân tích chức năng nhiệm vụ ở trên chúng ta có thể đưa ra

4 lĩnh vực sau dựa vào 4 nhiệm vụ mà GV phải thực hiện làm căn cứ quản lí

chất lượng nghề nghiệp và tiêu chí đánh giá. Xây dựng chuẩn đánh giá theo



71



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

×