1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO-BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 116 trang )


Vietnam) khai giảng khoá đầu tiên vào năm 1945 và Trường Đại học Tổng

hợp Hà Nội (The University of Hanoi) thành lập năm 1956. Do đó, có thể

nói mô hình ĐHQGHN hiện nay không phải là mô hình đại học hoàn toàn

mới. Nhưng nó có ưu điểm mới nổi bật là được tổ chức và hoạt động theo

quy chế đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ ban hành với quyền tự chủ và

tính trách nhiệm cao trong nhiều lĩnh vực hoạt động, tạo động lực và cơ chế

thuận lợi để nhà trường phát huy các nguồn lực nhằm nâng cao chất lượng.

Do hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh chia cắt làm hai miền, nên các

trường đại học ở miền Bắc nước ta có quy mô nhỏ, phân tán và rất lạc hậu.

Mô hình GDĐH của nước ta thời kỳ này về cơ bản theo mô hình của Liên

Xô và các nước XHCN. Sau ngày thống nhất đất nước (1975), hệ thống

GDĐH nước ta từng bước được đổi mới và không ngừng phát triển nhằm

bám sát yêu cầu đào tạo và cung cấp NNL trình độ cao phục vụ công cuộc

xây dựng và phát triển đất nước. Sau khi Liên Xô và hệ thống XHCN ở

Đông Âu sụp đổ, hệ thống GDĐH của nước ta từng bước chuyển đổi theo

mô hình GDĐH ở các nước phát triển, điển hình nhất là mô hình GDĐH

của Hoa Kỳ. Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương tổ chức lại mạng lưới

trường đại học, xây dựng một số trường đại học trọng điểm làm nòng cốt,

tạo ra “quả đấm” mạnh, đột phá về chất lượng trong GDĐH. Trên cơ sở

một số trường đại học khoa học cơ bản, đa ngành ở Hà Nội và Thành phố

Hồ Chí Minh, Chính phủ thành lập hai ĐHQG (ĐHQGHN -1993 và

ĐHQG TP HCM - 1995). Mục tiêu chính của việc hình thành hai ĐHQG là

tạo cơ chế thuận lợi để nhà nước ưu tiên đầu tư về cán bộ, tài chính, cơ sở

vật chất, trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo,

nghiên cứu và triển khai ứng dụng KH&CN để từng bước phát triển

ĐHQG ngang tầm với các đại học có uy tín trong khu vực và quốc tế.5



5



Quy hoạch mạng lưới trường ĐH và CĐ 2001-2010



45



Theo bản Quy chế về tổ chức và hoạt động của ĐHQG ban hành theo

Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg ngày 12/2/2001 của Thủ tướng Chính phủ,

việc tổ chức và hoạt động của ĐHQG cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Có cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực và quy mô hợp lý, trong đó hướng

tập trung vào đào tạo những ngành khoa học, công nghệ và một số lĩnh vực

kinh tế, xã hội mũi nhọn;

- Có nội dung chương trình, giáo trình và phương pháp giảng dạy

tiên tiến;

- Có đội ngũ cán bộ khoa học mạnh và đồng bộ;

- Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với NCKH và triển khai ứng dụng,

giữa KHTN và KHXH-NV, giữa KH&CN để đào tạo NNL có chất lượng

cao và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước;

- Có quyền chủ động cao trong các hoạt động về đào tạo, NCKH,

công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế và tổ chức bộ máy.

2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của ĐHQG được quy định trong bản Quy chế nêu

trên, gồm có:

- Các trường đại học thành viên (Affiliated Colleges);

- Các viện nghiên cứu KH&CN (R&D Institutes);

- Các khoa trực thuộc (Faculties/Schools);

- Các trung tâm nghiên cứu KH&CN trực thuộc (R&D Centres);

- Các đơn vị phục vụ trực thuộc khác.

Sau hơn 10 năm hình thành trên cơ sở tập hợp của một số trường đại

học đã có sẵn, cả hai ĐHQG đều đã có sự tăng trưởng về quy mô, cơ cấu,

chất lượng đào tạo và nhiều mặt hoạt động khác. Sau khi được tổ chức lại

(Quyết định số 14/2001/QĐ-TTg ngày 12/2/2001 của Thủ tướng Chính

phủ), ĐHQGHN đã sớm ổn định và đi vào hoạt động theo quy chế mới.

Quy mô về cơ cấu tổ chức và cơ cấu lĩnh vực khoa học và đào tạo đã từng

bước được đổi mới và phát triển với mục tiêu xây dựng ĐHQGHN thành

46



một trong những đại học đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao hàng đầu, có

vai trò làm nòng cốt trong hệ thống GDĐH của đất nước, từng bước theo

kịp các đại học nghiên cứu tiên tiến trong khu vực và dần đạt trình độ quốc

tế .

Đến nay, ĐHQGHN có tổng số 29 đơn vị trực thuộc, bao gồm ba hệ

thống chính: các đơn vị đào tạo, các đơn vị NC-TK và các đơn vị sản xuất,

dịch vụ:

- Các đơn vị đào tạo bao gồm: 5 trường đại học thành viên

(ĐHKHTN, ĐH KHXH&NV, ĐH Ngoại ngữ, ĐH Công nghệ, ĐH Kinh

tế), 5 khoa trực thuộc (Luật, Sư phạm, Quản trị kinh doanh, Sau đại học,

Quốc tế).

- Các đơn vị nghiên cứu và triển khai: 3 viện NC-TK (Viện CNTT,

Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Viện Vi sinh vật và Công nghệ

sinh học), 5 trung tâm NCKH (TT Tài nguyên và môi trường, TT nghiên

cứu về Phụ nữ, TT Đảm bảo chất lượng và NCPT giáo dục, TT Đào tạo,

Bồi dưỡng GV lý luận chính trị, TT Công nghệ đào tạo và hệ thống việc

làm.

- Các đơn vị phục vụ, sản xuất và dịch vụ: TT Thông tin thư viện, TT

Nội trú sinh viên, Nhà xuất bản ĐHQGHN, Nhà in ĐHQGHN, Tạp chí

khoa học, Bản tin ĐHQGHN, TT thực nghiệm giáo dục sinh thái và môi

trường Ba Vì, TT Phát triển hệ thống, TT Hỗ trợ Nghiên cứu Châu Á, Ban

Quản lý các Dự án xây dựng tại Hòa Lạc.

2.1.2. Sứ mệnh và mục tiêu phát triển của ĐHQGHN

2.1.2.1. Sứ mệnh của ĐHQGHN

Xây dựng và phát triển mô hình trung tâm đại học và nghiên cứu

khoa học đa ngành, đa lĩnh vực; đào tạo NNL chất lượng cao, trình độ cao

và đào tạo, nhân tài cho đất nước; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và

chuyển giao công nghệ có giá trị khoa học, thực tiễn cao, góp phần tăng

47



cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đất nước trong tiến trình hội

nhập quốc tế; tiêu biểu cho trí tuệ Việt Nam đóng vai trò nòng cốt và đầu

tầu đổi mới trong hệ thống GDĐH Việt Nam; là trung tâm giao lưu quốc tế

về khoa học, giáo dục, văn hóa của cả nước.

2.1.2.2. Mục tiêu phát triển

a. Mục tiêu chiến lược đến 2010:

Phấn đấu trở thành đại học định hướng nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh

vực ngang tầm các đại học tiên tiến trong khu vực Châu á, trong đó có một

số lĩnh vực và nhiều ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế.

b. Mục tiêu trung hạn đến 2010

 Mục tiêu chung:

Phát huy mọi nguồn lực, tạo những bước đột phá về chất lượng đào

tạo và NCKH, phát triển ĐHQGHN ngang tầm các đại học tiên tiến trong

khu vực Đông Nam Á; trong đó mỗi ngành, chuyên ngành khoa học cơ bản

công nghệ cao và kinh tế - xã hội mũi nhọn đạt trình độ quốc tế; nâng cao

vị thế và uy tín trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam và trên thế giới.

 Các mục tiêu cụ thể:

- Cung cấp NNL chất lượng cao, trình độ cao và nhân tài, trong đó

chất lượng đào tạo một số ngành khoa học cơ bản, công nghệ cao, kinh tế

xã hội mũi nhọn đạt trình độ quốc tế và bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng ngày

càng tốt yêu cầu sự nghiệp CNH-HĐH và phát triển KH&CN. Tăng quy

mô, cơ cấu đào tạo tài năng, chất lượng cao, đào tạo quốc tế và đào tạo

SĐH, áp dụng rộng rãi và hiệu quả các phương pháp đào tạo tiên tiến.

- Phát triển quy mô và nâng cao chất lượng khoa học, giá trị thực tiễn

của các hoạt động KH&CN ngang tầm khu vực, quốc tế, trước hết là đối

với các ngành khoa học cơ bản, công nghệ cao, các NCKH liên ngành, đa

ngành. Gắn kết chặt chẽ NCKH công nghệ với đào tạo, phát triển KT- XH.



48



- Từng bước hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính, thực hiện cơ chế

quản lý đại học tiên tiến, hiện đại, tin học hóa toàn bộ công tác quản lý,

điều hành.

- Đa dạng hóa các nguồn lực, quản lý và sử dụng có hiệu quả các

nguồn lực, tăng tỷ trọng nguồn thu bổ sung, hiện đại hóa cơ sở vật chất

hiện có đáp ứng cơ bản yêu cầu về đào tạo, NCKH, chuyển giao công nghệ.

Hoàn thành 70 % kế hoạch xây dựng cơ sở ĐHQGHN tại Hòa Lạc.

- Mở rộng, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế nhằm tăng cường năng

lực đào tạo, NCKH, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế quốc tế

của ĐHQGHN.

- Phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, quản lý cả về số

lượng, chất lượng và đồng bộ về cơ cấu, trong đó đội ngũ cán bộ khoa học

đầu ngành có trình độ ngang tầm khu vực và tiếp cận được trình độ quốc tế.

- Cơ bản hoàn chỉnh cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, kết hợp chặt chẽ

đào tạo, NCKH và dịch vụ. Thành lập thêm một số cơ sở đào tạo, nghiên

cứu, dịch vụ (trường đại học, viện nghiên cứu, khoa, trung tâm, doanh

nghiệp dịch vụ trực thuộc) về một số lĩnh vực.

2.1.3. Khái quát về đội ngũ cán bộ

2.1.3.1. Cán bộ khoa học (GV và NCV)

a. Tổng số CBVC của ĐHQGHN hiện nay là 2.387 người, trong đó

1.611 CBKH (1.418 GV và 193 NCV), trong đó có 266 GS, PGS (chiếm

16,5%), 555 TS, TSKH (chiếm 34, 45%). Đội ngũ CBKH tập trung phần

lớn ở 13 đơn vị đào tạo và nghiên cứu chủ yếu: 5 trường đại học thành

viên, 5 khoa trực thuộc và 3 viện nghiên cứu. Qua khảo sát tình hình đội

ngũ CBKH ở những đơn vị đào tạo và nghiên cứu của ĐHQGHN, có thể

rút ra một số nhận xét như sau:

b. Một số đặc điểm của đội ngũ CBKH:



49



- Nhìn tổng quát, đội ngũ CBKH của ĐHQGHN được đánh giá là

mạnh cả về số lượng và chất lượng so với các trường đại học trong nước

(64,9% có trình độ trên đại học, trong đó có gần 35 GS, 210 PGS, 19

TSKH, 486 TS, 541 ThS); nhiều cán bộ khoa học đầu ngành có uy tín cao

không chỉ trong nước mà cả trên thế giới.

- Phần lớn được đào tạo cơ bản, có kiến thức chuyên môn sâu, có

năng lực và kinh nghiệm trong công tác đào tạo và NCKH.

- Song đội ngũ CBKH của ĐHQGHN trong tình trạng thiếu đồng bộ

về cơ cấu chuyên môn, trình độ, lứa tuổi và phân bố không đều giữa các

đơn vị, lĩnh vực, ngành học,...

- Tình trạng thiếu và nguy cơ hẫng hụt đội ngũ cán bộ đầu ngành

đang trở nên gay gắt, đặc biệt là đối với lĩnh vực ngoại ngữ và một số

ngành công nghệ cao, kinh tế, xã hội mũi nhọn.

- Độ tuổi bình quân của cán bộ khoa học đầu ngành cao, nhất là các

cán bộ đầu ngành thuộc lĩnh vực khoa học Xã hội và Nhân văn .

- Số lượng cán bộ khoa học đầu ngành là nữ ngày càng ít. (Hiện nay

ở ĐHQGHN, tất cả các nữ GS. đã hết tuổi công tác).

2.1.3.2. Cán bộ quản lý (CBQL)

Cán bộ quản lý trong các trường đại học hầu hết là từ đội ngũ GV,

chưa được quy hoạch, đào tạo-bồi dưỡng kiến thức về quản lý. Vì vậy,

trước những thay đổi, biến động hoặc phát triển về cơ cấu tổ chức, đội ngũ

CBQL chưa kịp thời đáp ứng được yêu cầu công tác. Đó là tình trạng

chung của hầu hết các trường đại học ở nước ta hiện nay.

ĐHQGHN có 3 cấp quản lý hành chính: 1) Đại học Quốc gia Hà

Nội; 2) trường đại học, viện nghiên cứu, khoa, trung tâm, đơn vị trực thuộc;

3) khoa/phòng chuyên môn/phòng thí nghiệm/trung tâm nghiên cứu trực

thuộc trường đại học, viện nghiên cứu, khoa trực thuộc. Ở mỗi cấp quản lý

này, đặc biệt là cấp ĐHQGHN và đơn vị trực thuộc cần phải có đội ngũ

CBQL mang tính chuyên nghiệp cao hơn. Do đó, cán bộ được bổ nhiệm

50



vào các chức vụ quản lý ở các cấp này cần được quy hoạch và đào tạo-bồi

dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ quản lý. Tuy vậy, trên thực tế, công tác

này chưa được quan tâm đúng mức. Do đó, khi có nhu cầu bổ nhiệm cán bộ

vào một chức danh lãnh đạo, quản lý, các đơn vị thường bị động, dẫn đến

chất lượng cán bộ được bổ nhiệm chưa cao.

Một số nhận xét về CBQL:

 Đội ngũ CBQL ở ĐHQGHN hiện nay phần lớn xuất thân từ CBGD,

hầu hết chưa được đào tạo-bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý. Vì vậy,

năng lực, tư duy và kinh nghiệm quản lý còn nhiều hạn chế.

 Nói chung, đội ngũ CBQL thiếu đồng bộ, không mang tính chuyên

nghiệp, thường xuyên biến động.

 Việc sử dụng, bố trí CBQL nhìn chung chưa hợp lý. Chính sách chế

độ đãi ngộ chưa phù hợp; do vậy, phần đông CBQL chưa an tâm

công tác.

2.1.3.3. Cán bộ hành chính, phục vụ (xem phụ lục)

2.2. Thực trạng công tác đào tạo-bồi dưỡng cán bộ, giảng viên của

ĐHQGHN

2.2.1. Đặc điểm nguồn nhân lực ở ĐHQGHN

2.2.1.1. Đặc điểm chính về nguồn nhân lực

- Số lao động đang làm việc tại ĐHQGHN hiện nay được đào tạo từ

nhiều nguồn khác nhau và từ những giai đoạn khác nhau:

+ Từ năm 1986 trở về trước: Số này đã được đào tạo cách đây từ 15

năm trở lên. Nguồn đào tạo là các trường đại học, cao đẳng, trung học

chuyên nghiệp, dạy nghề trong nước và nguồn từ các nước XHCN Đông

Âu và Liên Xô cũ. Số có học vị chủ yếu được đào tạo ở trong nước thời kỳ

kế hoạch hoá tập trung hoặc đào tạo ở các nước XHCN cũ. Họ được đào

tạo rất cơ bản. Một bộ phận trong số này hiện nay đang giữ các vị trí trọng

trách trong nghiên cứu, đào tạo và quản lý KH&CN. Tuy nhiên, do hạn chế

51



từ đào tạo trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung và ít được cập nhật kiến

thức mới nên gặp khó khăn trong công việc. Bên cạnh đó, mặt hụt hẫng lớn

nhất của phần lớn số người được đào tạo trong thời kỳ này là ngoại ngữ

(Anh ngữ).

+ Từ sau năm 1986: nguồn đào tạo chủ yếu là từ các trường đại học,

cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trong nước. Số người được

đào tạo từ nước ngoài đã giảm đi nhiều vì các nước XHCN Đông Âu và

Liên Xô cũ cắt nguồn viện trợ đào tạo. Trong thời gian này, có một số

người được cử đi đào tạo ở các nước phát triển. Số người có trình độ SĐH

được đào tạo trong nước nhiều hơn giai đoạn trước. Ngoài đào tạo TS khoa

học, TS, còn mở rộng đào tạo ThS.

- Đặc trưng nổi bật của số người được đào tạo trong thời kỳ này (thời

kỳ chuyển đổi kinh tế) là tiếp cận với trào lưu đào tạo của nhiều nước phát

triển trên thế giới, cụ thể là ham muốn có nhiều bằng cấp cao hơn, nắm bắt

nhu cầu thị trường đối với người lao động trí thức (coi trọng ngoại ngữ mà

chủ yếu là tiếng Anh, Nhật, Trung Quốc và kiến thức về máy vi tính).

Nhược điểm của họ là chịu tác động quá lớn của yếu tố thị trường, ham

muốn làm giàu nên chưa đủ độ say mê theo nghĩa “hy sinh cho khoa học”.

Yếu tố thị trường cũng khiến một số không nhỏ trong số họ tìm cách làm

việc “chân trong, chân ngoài”, tạo nên hiện tượng “chảy chất xám ngầm”

trong xã hội.

Kể từ khi thành lập ĐHQGHN, thì nguồn đào tạo đầu vào của

ĐHQGHN đã được bổ sung một nguồn đó là những sinh viên tốt nghiệp từ

các Trường Đại học thành viên được giữ lại và được chuyển tiếp sinh đào

tạo ThS hoặc TS trong và ngoài nước. Đó là những cán bộ có năng lực và

nếu như được bố trí, phân công công việc hợp lý họ hoàn toàn có thể phát

triển được tốt trong tương lai.

Trong những năm vừa qua, để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất

nước cũng như mục tiêu đưa ĐHQG thành một trong những trường hàng

52



đầu Việt Nam, đứng ngang với tầm khu vực, ĐHQG nói chung và

ĐHQGHN nói riêng đã có những chủ trương, chính sách và kế hoạch cụ

thể, chiến lược để đào tạo và quản lý đào tạo cán bộ của mình. Có thể nói

tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo đội ngũ cán bộ là bước đi quan trọng

nhất và quyết định cho sự thành công của ĐHQGHN với một đội ngũ cán

bộ đạt chất lượng cao cả về phương diện kiến thức lẫn phương diện kỹ

năng nghề nghiệp mới đảm bảo cho một hệ thống vận hành thông suốt, chặt

chẽ mang tính chuyên nghiệp cao, đáp ứng những yêu cầu của một đại học

mang tầm khu vực.

Chỉ trong 5 năm trở lại đây, quy mô của ĐHQGHN đã phát triển

nhanh chóng. Nếu trước đây quy mô chỉ gói gọn trong 3 trường đại học là

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn (cả 2 cùng tách ra từ Trường Đại học tổng hợp cũ) và trường Đại

học Sư phạm ngoại ngữ cùng 1 vài Khoa trực thuộc như Khoa Luật, Khoa

Kinh tế thì cho đến năm 2007, ĐHQGHN đã có 5 trường đại học, 5 khoa

trực thuộc và nhiều viện và trung tâm trực thuộc khác. Số cán bộ cũng vì

thế mà tăng lên đáng kể: năm 2004 tính riêng số cán bộ của 3 trường đại

học là ĐHKHTN, ĐHKHXH&NV, ĐHNN, 5 khoa trực thuộc là Khoa

Luật, Kinh tế, Sư phạm và Công nghệ là 1453 cán bộ thì cho đến năm

2007, con số này là 1853. Ngoài ra, do có nhiều Trường đại học, Khoa và

một số Viện, Trung tâm mới được thành lập đã nâng tổng số cán bộ của

toàn ĐHQGHN lên thành 2387 cán bộ.

Tuy nhiên, có một điều dễ nhận thấy trong cơ cấu cán bộ của

ĐHQGHN là số lượng PGS tăng lên nhưng số lượng GS thì lại giảm đi, số

lượng ThS và Cử nhân tăng lên nhưng số lượng tiến sĩ lại giảm đi, thêm

vào đó là có những cán bộ vẫn ở trình độ cao đẳng hoặc đang theo học tại

chức. Như vậy có thể thấy rằng mặc dù số lượng cán bộ tăng lên nhưng

chất lượng cũng là điều đáng phải bàn đến. Điều này càng khẳng định đầu



53



tư nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ là yêu cầu cấp bách đặt ra

đối với ĐHQGHN trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay.

- Sự giảm đi về số lượng các cán bộ có trình độ cao và thay vào đó là

sự tăng lên của các cán bộ có trình độ thấp hơn có thể giải thích là do: thứ

nhất, những cán bộ lão thành của các thế hệ trước đã về hưu, thứ hai, tiêu

chí đánh giá và trao danh hiệu có thay đổi so với trước kia, thứ ba, do mở

rộng quy mô nên tạm thời ĐHQGHN cần phát triển về số lượng trước nhất,

sau đó sẽ đào tạo bổ sung đáp ứng yêu cầu.

2.2.1.2. Một số khó khăn và thách thức về nguồn nhân lực

Nằm trong tình trạng chung của cả nước hiện nay, nguồn nhân lực

KH&CN của ĐHQGHN đang đứng trước một số khó khăn và thách thức

sau đây:

 CBKH trình độ cao, nhất là CBKH đầu đàn, đầu ngành đều đã cao

tuổi. Trong khi đó, đội ngũ CBKH trẻ chưa đủ điều kiện kế tục và

gánh vác trách nhiệm của đội ngũ CBKH đầu đàn. Thực trạng này

dẫn tới “sự hẫng hụt đội ngũ” về thế hệ, sự “khủng hoảng” thiếu đội

ngũ CBKH đầu đàn, đầu ngành ở hầu hết các các cơ sở đào tạo và

nghiên cứu;

 Số lượng và chất lượng đội ngũ không tương xứng với quy mô và

lĩnh vực đào tạo và NCKH của ĐHQGHN;

 Cơ cấu đội ngũ CBKH thiếu đồng bộ về lĩnh vực, ngành, chuyên

ngành, tuổi và giới tính;

 Cơ chế, chính sách tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ cán bộ chưa phù

hợp với sự chuyển đổi nền kinh tế và nền GDĐH trong thời kỳ đổi

mới toàn diện. Vì vậy, việc tuyển dụng và sử dụng, đào tạo-bồi

dưỡng CBKH đang gặp nhiều khó khăn. Tình trạng “chảy máu chất

xám” đang diễn ra phổ biến trong các cơ sở đào tạo và nghiên cứu

ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển mọi mặt của ĐHQGHN;



54



 Công tác tuyển dụng, sử dụng, quản lý và đào tạo-bồi dưỡng cán bộ ở

nhiều đơn vị trực thuộc chưa thực sự được quan tâm, chưa có chính

sách phù hợp để phát huy nguồn lực CBKH trong nhà trường, do đó

hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực KH&CN thấp, ảnh hưởng đến chất

lượng đào tạo và NCKH của ĐHQGHN.

2.2.2. Thực trạng công tác đào tạo-bồi dưỡng cán bộ giảng viên ở

ĐHQGHN

2.2.2.1. Các hình thức đào tạo-bồi dưỡng

Hướng tới mục tiêu 85% cán bộ có trình độ sau đại học trong đó

60% là TS, thông thạo về nghiệp vụ và chuyên môn, thông thạo ngoại ngữ,

tin học, các đơn vị đào tạo và nghiên cứu trực thuộc tổ chức các khóa đào

tạo-bồi dưỡng dưới nhiều hình thức: bồi dưỡng thường xuyên ngắn hạn lấy

chứng chỉ, đào tạo dài hạn cấp học vị sau đại học, các khóa tập huấn nghiệp

vụ khác. Thời gian thực hiện có thể từ vài tuần, dưới 1 tháng, từ 1 đến 3

tháng, 6 tháng, 1 năm hoặc dài hơn nữa. Các hình thức đào tạo trên có một

số đặc điểm như sau:

a. Về chuyên môn

- Tổ chức các lớp chuyên đề ngắn hạn, các lớp tập huấn chuyên môn

như nghiệp vụ sư phạm, sử dụng phương tiện hiện đại trong giảng dạy đại

học…hoặc các khóa học dài hạn đào tạo học vị SĐH như Cao học, Nghiên

cứu sinh, kinh phí được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

- Gửi cán bộ đi học các lớp tập huấn ngắn hạn do ĐHQGHN, các tổ

chức trong nước và nước ngoài về chuyên môn, tổ chức.

- Gửi cán bộ đi học ở nước ngoài theo chỉ tiêu của Bộ Giáo dục và

Đào tạo hay trong các chương trình hợp tác song phương.

- Đào tạo tại chỗ do những người có trình độ và kinh nghiệm đối với

người mới vào nghề hoặc có trình độ thấp hơn.

- Đào tạo qua các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế.

55



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

×