1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGÔ THÌ NHẬM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 111 trang )


thực hiện với sự ủng hộ tham gia của các lực lượng trong và ngoài nhà trường.

Hoạt động góp phần củng cố các kiến thức mà học sinh đã được tiếp thu trong

giờ chính khóa, góp phần trong việc phát triển toàn diện, hình thành nhân

cách, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGÔ

THÌ NHẬM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1.



Một số đặc điểm về trƣờng trung học phổ thông Ngô Thì Nhậm,

huyện Thanh trì, thành phố Hà nội



2.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Thanh trì

Thanh trì là một huyện nằm phía Đông Nam Hà nội, một vùng đất có

bề dày lịch sử và văn hóa. Là một trong những huyện ngoại thành Hà nội có

vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp và nghề thủ

công của thành phố. Ngay sau những năm đổi mới, dưới sự quan tâm của

Đảng đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và phát triển, nhận thức

của nhân dân ngày càng được nâng cao.

Tuy nhiên nền kinh tế của huyện còn gặp không ít những khó khăn,

kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, kết hợp với buôn bán nhỏ và phát triển không

đồng đều. Những năm gần đây tốc độ đô thị hóa nhanh chóng một phần thúc

đẩy nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, tuy nhiên một phần lớn dân chưa

thích nghi với điều kiện mới, vì vậy chưa kịp chuyển đổi nghề nghiệp rơi vào

tình trạng thất nghiệp, thất học nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội. Sự phân hóa giàu

nghèo càng rõ rệt hơn.

Do mức thu nhập của nhân dân còn thấp, trình độ dân trí chưa cao, nên

việc huy động cộng đồng tham gia vào công cuộc xã hội hóa giáo dục còn hạn

chế, phần lớn người dân còn ỷ lại, khoán trắng việc giáo dục cho nhà trường,

chưa quan tâm thích đáng đến con em mình. Những điều trên ảnh hưởng



35



không nhỏ đến kết quả giáo dục toàn diện cho học sinh đóng tại địa bàn huyện

Thanh trì nói chung, học sinh trường THPT Ngô Thì Nhậm nói riêng.

2.1.2. Phát triển giáo dục huyện Thanh trì

Được sự quan tâm đúng mức của Thành phố Hà nội, sự chỉ đạo sát

sao của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà nội về cơ sở vật chất, chất lượng cán bộ

giáo viên, giáo dục phổ thông huyện Thanh trì từng bước phát triển vững chắc,

đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ. Cán bộ giáo viên trường THPT Ngô

Thì Nhậm cũng như các trường khác đóng trên địa bàn huyện luôn kế thừa và

phát huy được những kết quả đã đạt được những năm trước. Qui mô giáo dục

ổn định và có xu thế phát triển vững chắc, đội ngũ cán bộ giáo viên liên tục

được tập huấn, đào tạo bổ xung đủ số lượng, đồng bộ về loại hình và có chất

lượng cao. Cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường theo hướng chuẩn hóa,

hiện đại. Chất lượng giáo dục ngày càng tăng, tỷ lệ học sinh khá giỏi về học

lực, tốt về đạo đức tăng, số học sinh đạt học sinh giỏi tăng về số lượng hàng

năm. Tỷ lệ lên lớp, tốt nghiệp ổn định mức cao. Các hoạt động ngoại khóa của

học sinh được nâng dần về số và chất lượng. Công tác quản lý có nhiều đổi

mới phù hợp với tình hình trường lớp và đặc điểm kinh tế xã hội huyện Thanh

trì.

Các cán bộ giáo viên đều có lập trường tư tưởng vững vàng, có sức khỏe,

phẩm chất đạo đức tốt, chuyên môn nghiệp vụ khá, tâm huyết với nghề. Đội

ngũ giáo viên luôn được tập huấn, đội ngũ kế cận liên tục được lựa chọn, trau

dồi về đạo đức, giỏi về chuyên môn và có năng lực lãnh đạo.

Tuy nhiên vẫn, còn một số khó khăn làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất

lượng giáo dục của huyện. Đó là chất lượng học sinh đại trà không đồng đều,

thiết bị dạy học còn thiếu. Một số trường còn có những giáo viên chưa đáp

ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo

dục toàn diện. Một số giáo viên chưa xác định gắn bó lâu dài với trường nên



36



một phần ảnh hưởng đến việc định hướng phát triển cho giáo viên trong việc

nâng cao chất lượng toàn diện cho giáo viên nhà trường.

Nhận thức của xã hội tuy đã được nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp

với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục đào tạo. Chất lượng đầu vào còn

thấp so với Thành phố Hà nội và chưa đồng đều giữa các trường đóng trên địa

bàn huyện. Kiến thức xã hội, kiến thức về kỹ năng sống còn hạn chế và ít

được chú trọng, học sinh ít được tham gia các hoạt động xã hội, sinh hoạt tập

thể nên ảnh hưởng đến kết quả giáo dục toàn diện của học sinh.

Nhận thức của phụ huynh và học sinh về nghề nghiệp còn hạn chế,

thường chỉ quan tâm đến mục tiêu trước mắt là lên lớp, ít chú ý tới mục tiêu

lâu dài là sự phát triển toàn diện cho học sinh, vì thế các hoạt động ngoài học

tập chưa được chú ý và đầu tư thích đáng.

2.1.3. Đặc điểm trƣờng THPT Ngô Thì Nhậm

Trường THPT Ngô Thì Nhậm là một trong 2 trường THPT đóng trên

địa bàn huyện Thanh Trì, Hà nội. Đây là một trường lớn với bề dày thành tích

30 năm xây dựng và trưởng thành. Trường có 1600 học sinh bao gồm13 lớp

10, 13 lớp 11 và 12 lớp 12. Tổng số giáo viên và cán bộ công nhân viên là 94

người.

Đội ngũ các Thầy Cô giáo có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình, trách

nhiệm với công việc được giao, trình độ tương đối đồng đều, 100% đạt chuẩn

và trên chuẩn. Tuy nhiên đội ngũ giáo viên trường đa số là trẻ nên kinh

nghiệm trong giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh còn có một số hạn

chế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học đã được

nhà nước đầu tư, song chưa đáp ứng với yêu cầu dạy và học, cũng như yêu

cầu công tác đổi mới phương pháp giáo dục toàn diện cho học sinh.

Phụ huynh học sinh của trường quan tâm đến tình hình học tập và rèn

luyện của con em còn hạn chế. Một số phụ huynh còn ỷ lại và thiếu trách

nhiệm trong việc cùng nhà trường giáo dục học sinh. Nhiều phụ huynh không



37



hiểu và quan tâm đến HĐGDNGLL của nhà trường nên các em không có cơ

hội để giao lưu, học hỏi, tự khẳng định bản thân.

Học sinh của trường đa số có nề nếp học tập và có đạo đức tốt, tuy

nhiên chất lượng đầu vào lớp 10 thường thấp. Một số học sinh ở các vùng lân

cận thường nhập trường khi nguyện vọng 1 của các em không đạt, vì thế nề

nếp lớp thường ít nhiều ảnh hưởng. Một số học sinh còn đua đòi, a dua với

bạn bè, chơi với những phần tử xấu, và đem những quan điểm đi ngược lại

với truyền thống từ bên ngoài xã hội vào nhà trường, gây khó khăn trong quá

trình giáo dục đạo đức học sinh.

Bảng 2.1: Kết quả xếp loại về hạnh kiểm và học lực của học sinh

Xếp loại đạo đức

Số



Tốt



HS



SL



Khá

%



1592 1065 66,90



Yếu



TB



Kém



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



384



24,12



87



5,46



56



3,52



0



0



Xếp loại học lực

Số



Giỏi



Khá



Yếu



TB



Kém



HS



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



1592



78



4,90



677



42,53



694



43,59



138



8,67



5



0,31



(Nguồn: Theo báo cáo tổng kết năm học 2009- 2010 của trường), [5, tr.4]

Qua bảng số liệu xếp loại học lực và đạo đức của trường THPT Ngô Thì

Nhậm, chúng tôi thấy tỷ lệ học sinh xếp loại đạo đức trung bình và yếu chiếm

khoảng 10 %, học sinh xếp loại học lực trung bình, yếu và kém chiếm hơn

50% số học sinh toàn trường. Điều đó cho thấy nhà trường không chỉ cần phải

nâng cao chất lượng các giờ học chính khóa của các môn học mà còn phải cần

phải đẩy mạnh các hoạt động GDNGLL hơn nữa để giúp học sinh có điều

kiện nắm chắc các kiến thức mình đã học trên lớp, nâng cao chất lượng tự học,



38



tự rèn luyện, giảm tỷ lệ học sinh có đạo đức và học lực trung bình kém. Có

như vậy nhà trường mới đạt được những kết quả tốt trong các năm tiếp theo.

2.2.



Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp



tại trƣờng THPT Ngô Thì Nhậm, thành phố Hà nội.

2.2.1. Khái quát về tiến hành khảo sát:

Chúng tôi tiến hành khảo sát bằng phiếu thăm dò cho các đối tượng

sau đây: Ban giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm và Cán bộ Đoàn số lượng là 40

người, Giáo viên bộ môn: 40 người, Phụ huynh học sinh: 80 người, Học sinh:

240 trong đó mỗi khối là 80 em.

Nội dung khảo sát bao gồm: Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên,

phụ huynh học sinh, và học sinh về vai trò, các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt

động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Thực trạng tổ chức và quản lý hoạt động

GDNGLL ở trường THPT Ngô Thì Nhậm hiện nay.

2.2.2. Kết quả khảo sát.

2.2.2.1. Thực trạng nhận thức về tác dụng của hoạt động giáo dục ngoài giờ

lên lớp đối với học sinh

Lấy ý kiến của các Thầy Cô trong nhà trường và học sinh ở cả 3 khối

chúng tôi thu được các kết quả không giống nhau.

Biểu đồ 2.1: Tác dụng của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối

với việc phát triển nhân cách học sinh.



39



7



36.



7



46.



40



16.



20



85



60



15



40



80



6



Tỷ lệ %



60



Tỷ lệ %



100



0



20



0



Tác dụng

tốt



Ít tác

dụng



0



Không

tác dụng



Ý kiến học sinh



Ít tác dụng Không tác

dụng



0



Ý kiến của giáo viên



10



Tỷ lệ %



100



Tác dụng

tốt



80

60

40



0



Tác dụng tốt



Ít tác dụng



0



0



20



Không tác

dụng



Ý kiến của CBQL, GVCN, CBĐ



Thực trạng nhận thức của học sinh cho thấy: Có 46,7% số em học sinh

cho biết hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có tác dụng tốt đến sự hình

thành và phát triển nhân cách của học sinh. Có tới 36,7% số học sinh cho rằng

HĐGDNGLL có tác dụng ít, và đặc biệt có tới 16,7 % số em cho rằng

HĐGDNGLL không có tác dụng lên sự hình thành và phát triển nhân cách

của học sinh. Trong số 53,4% số học sinh cho rằng HĐGDNGLL có tác dụng

ít, hoặc không tác dụng lên việc hình thành và phát triển nhân cách của học



40



sinh có tới 10% số em khối 12, 30% số em khối 11 và 60% số em khối 10.

Chúng tôi cho rằng các em khối 10 có thể ít được tham gia HĐGDNGLL ở

trường THCS và nhận thức các vấn đề còn chưa toàn diện và sâu sắc nên chưa

nhận thức rõ tác dụng của hoạt động này. Khối 11 các em đã được tham gia

vào các HĐGDNGLL từ năm trước, tuy nhiên do đặc điểm nhận thức chưa

toàn diện nên vẫn còn 30% số em cho rằng HDGDNGLL ít ảnh hưởng đến

nhân cách học sinh.

Kết quả đánh giá thực trạng nhận thức của CBQL, GVCN, CBĐ cho

thấy 100% cho rằng HĐGDNGLL ảnh hưởng tốt đến việc hình thành và phát

triển nhân cách của học sinh THPT, trong khi đó có tới 15% số GVBM có ý

kiến chỉ ảnh hưởng ít. Chúng tôi cho rằng kết quả này là hợp lý và phù hợp

với các nghiên cứu của các tác giả trước đó, thể hiện nhận thức đa dạng của

GVBM. Đa số các GVBM đều thấy HĐGDNGLL tạo nên phong trào thi đua

sôi nổi, tạo tâm trạng tốt cho học sinh. Nếu hoạt động này tổ chức thường

xuyên, hiệu quả sẽ là môi trường thuận lợi cho việc xây dựng tinh thần đoàn

kết, là nhịp cầu để Thầy trò xích lại gần nhau, giáo viên hiểu học sinh hơn,

qua đó chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao. Tuy nhiên 15% số

GVBM cho rằng HĐGDNGLL chỉ ảnh hưởng ít tới học sinh. Các giáo viên

này đều nhấn mạnh vai trò chủ đạo của những giờ học chính khóa, chưa hiểu

hết được vai trò tác dụng của HĐGDNGLL trong quá trình phát triển nhân

cách học sinh. Không có GVBM nào nghĩ HĐGDNGLL là không có tác dụng.

Cán bộ quản lý nhà trường, các GVCN, các cán bộ Đoàn đều nhất trí

HĐGDNGLL có tác dụng tốt đến việc hình thành nhân cách học sinh. Tất cả

lực lượng này đều tham gia chỉ đạo, lên kế hoạch và thực hiện các

HĐGDNGLL, chính vì vậy các Thầy Cô đều hiểu rất rõ vai trò, tác dụng của

HĐGDNGLL lên việc hình thành và phát triển nhân cách, cũng như kết quả

đào tạo toàn diện cho học sinh của mình bậc THPT.



41



2.2.2.2. Thực trạng về hiểu biết hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở

trường THPT Ngô Thì Nhậm

Đánh giá sự hiểu biết về bản chất HĐGDNGLL chúng tôi sử dụng một

mẫu câu hỏi chung cho các đối tượng phỏng vấn gồm: CBQL, GVCN, CBĐ,

GVBM và các em học sinh. Kết quả phỏng vấn được thể hiện ở các bảng sau:

Bảng 2.2: Thực trạng hiểu biết về bản chất hoạt động giáo dục ngoài

giờ lên lớp của CBQL, GVCN, CBĐ, GVBM

TT



Các hoạt động



CBQL, GVCN, CBĐ



GVBM (n=40)



(n=40)

Số lƣợng



Tỷ lệ (%)



Số lƣợng



Tỷ lệ (%)



1



HĐ xã hội



0



0



2



5,0



2



HĐ ngoại khóa



0



0



3



7,5



3



HĐ giáo dục



0



0



3



7,5



4



HĐ vui chơi giải trí



0



0



4



10,0



5



Tất cả các HĐ kể trên



40



100



28



70,0



Số liệu cho thấy nhận thức về HĐGDNGLL ở các giáo viên là khác nhau,

100% CBQL, GVCN, CBĐ cho rằng HĐGDNGLL là một hoạt động xã hội,

có tính chất ngoại khóa, mang tính giáo dục và định hướng cao, sử dụng các

hình thức của hoạt động vui chơi giải trí để làm cho hoạt động trở nên hấp

dẫn và đạt hiệu quả giáo dục cao, và có 70% số GVBM cho rằng đây là hoạt

động xã hội, ngoại khóa, giáo dục và vui chơi giải trí. Tuy vậy vẫn còn 5% số

GVBM cho rằng HĐGDNGLL là hoạt động xã hội, 7,5% cho là hoạt động

ngoại khóa hoặc là hoạt động giáo dục, 10% cho HĐGDNGLL chỉ là hoạt

động vui chơi giải trí đơn thuần. Điều này đòi hỏi nhà trường cần có biện

pháp để tăng cường nhận thức cho đội ngũ giáo viên bộ môn nói riêng và các

thành viên nhà trường nói chung về HĐGDNGLL cho học sinh.



42



Bảng 2.3: Thực trạng hiểu biết của các em học sinh về bản chất hoạt

động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Các hoạt động



Tổng



Lớp 10



Lớp 11



Lớp 12



(n= 240)



TT



(n=80)



(n=80)



(n=80)



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



1



HĐ xã hội



15



6,25



6



7,5



5



6,25



4



5,0



2







56



23,33



20



25,0



19



23,75



17



21,25



ngoại



khóa

3



HĐ giáo dục



21



8,75



8



10,0



6



7,5



7



8,75



4



HĐ vui chơi



80



33,34



34



42,5



28



35,0



18



22,5



68



28,33



12



15,0



22



27,5



34



42,5



giải trí

5



Tất cả các HĐ

kể trên



Nhận thức của học sinh về HĐGDNGLL ở các khối là khác nhau, trong

240 học sinh tham gia điều tra,chỉ có 28,33% cho rằng HĐGDNGLL là tổng

hợp của hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục và hoạt

động vui chơi giải trí. Có 6,25 % học sinh cho rằng HĐGDNGLL chỉ đơn

thuần là hoạt động xã hội, 23,3% coi đơn thuần là hoạt động ngoại khóa, 8,7%

cho là hoạt động giáo dục đơn thuần và 33,3% coi HĐGDNGLL là hoạt động

vui chơi giải trí. Kết quả trên cho thấy nhiều học sinh vẫn chưa nhận thức

được tham gia HĐGDNGLL chính là cơ hội tốt nhất để các em rèn luyện kỹ

năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự hoàn thiện mình, giúp các em nâng

cao hiểu biết về cuộc sống, tự tin vào bản thân mình. Khi các em xác định

HĐGDNGLL là tổng thể của các hoạt động đoàn thể, giáo dục, ngoại khóa và

vui chơi giải trí, thì các em sẽ tự tổ chức cho mình những buổi HĐGDNGLL



43



có chất lượng hơn, hiệu quả hơn, hình thức phong phú hơn và mang tính giáo

dục cao. Chính sự hiểu biết phiến diện về bản chất HĐGDNGLL nên cần phải

nâng cao nhận thức cho học sinh về HĐGDNGLL.

2.2.2.3. Thực trạng về các hình thức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

đã được thực hiện ở trường THPT Ngô Thì Nhậm

Kết quả phỏng vấn sự tham gia học sinh trong các hình thức

HĐGDNGLL cho thấy như sau:

Bảng 2.4: Số lƣợng, tỷ lệ học sinh tham gia các hình thức hoạt động

giáo dục ngoài giờ lên lớp.

TT



Các hình thức hoạt động







Không



SL



%



SL



%



1



Câu lạc bộ bộ môn



48



20,0



192



80,0



2



Tham quan dã ngoại



194



80,8



46



19,2



3



Trò chơi trí tuệ



56



23,3



184



76,7



4



Sinh hoạt dƣới cờ



240



100



0



0



5



Sinh hoạt lớp



240



100



0



0



6



Các cuộc thi tìm hiểu



240



100



0



0



7



Làm báo tƣờng, nội san



212



83,3



28



16,7



8



Cắm trại



232



96,7



08



3,3



9



Liên hoan văn nghệ



225



93,8



15



6,2



10



Hoạt động thể thao



240



100



0



0



11



Hoạt động tình nguyện



34



14,2



206



85,8



12



Hoạt động truyền thông phòng



46



19,2



194



80,8



chống tệ nạn xã hội

Trong 12 HĐGDNGLL trường THPT Ngô Thì Nhậm tổ chức, chỉ có 4

hình thức có tỷ lệ học sinh tham gia là 100%, đó là sinh hoạt dưới cờ, sinh



44



hoạt lớp, các cuộc thi tìm hiểu và hoạt động thể thao. Tỷ lệ học sinh tham gia

tham quan dã ngoại là 80,8%, làm báo tường nội san là 83,3&, cắm trại là

96,7% và liên hoan văn nghệ là 93,8%. Còn lại các hoạt động khác như: câu

lạc bộ bộ môn, trò chơi trí tuệ, hoạt động tình nguyện, hoạt động truyền thông

phòng chống tệ nạn xã hội chỉ có khoảng 20% số học sinh tham gia. Kết quả

trên cho thấy những hoạt động gắn liền với qui định bắt buộc của nhà trường

có số học sinh tham gia là 100%. Các hoạt động phù hợp với tính cách của

học sinh THPT như tham quan dã ngoại, làm báo tường, cắm trại, liên hoan

văn nghệ thu hút được một tỷ lệ lớn các em tham gia. Tuy nhiên vẫn có 1020% học sinh không tham gia các hoạt động này do thiếu các điều kiện tham

gia. Các hoạt động khác như câu lạc bộ bộ môn, hoạt động tình nguyện, hoạt

động xã hội tỷ lệ các em tham gia thấp. Điều này đòi hỏi Nhà trường phải

tăng cường giáo dục nhận thức, đổi mới phương pháp và biện pháp quản lí

HĐNGLL để thu hút được đại bộ phận học sinh tham gia.

Bảng 2.5: Tác dụng của các hình thức hoạt động giáo dục ngoài giờ

lên lớp đối với học sinh



TT



Các hình thức hoạt động



Rất tốt



Tốt



Chƣa tốt



SL



%



SL



%



SL



%



26



54,2



18



37,5



04



8,3



ngoại 123



63,4



37



19,1



34



17,5



1



Câu lạc bộ bộ môn (n=48)



2



Tham



quan







(n=194)

3



Trò chơi trí tuệ (n=56)



52



92,8



4



7,2



0



0



4



Sinh hoạt dƣới cờ (n=240)



164



68,3



52



21,7



24



10



5



Sinh hoạt lớp (n= 240)



124



51,7



78



32,5



38



15,8



6



Các



hiểu 145



60,4



72



30,0



23



9,6



cuộc



thi



tìm



(n=240)



45



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

×