1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG (TTHTCĐ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.77 MB, 114 trang )


Việc tăng cƣờng đầu tƣ và quản lý các Kominkan (trong đó có việc Bộ

luật Giáo dục – Xã hội của Nhật Bản ra đời năm 1949 khẳng định Kominkan

là một bộ phận của hệ thống giáo dục ngƣời lớn) đã khiến số Kominkan ở

Nhật Bản phát triển rất nhanh chóng : năm 1947 có 3.534 trung tâm, năm

1963 có 19.410 trung tâm, năm 1993 có 17.562 trung tâm, năm 2002 có

17.947 trung tâm. Đến năm 2006, ở Nhật Bản có 18.000 Kominkan hoạt động

dƣới sự bảo trợ của Nhà nƣớc trung ƣơng và địa phƣơng, phủ khắp 90% tổng

số thị trấn, làng xã của nƣớc Nhật (ngoài ra còn có 76.883 Kominkan do ngƣời

dân tự thành lập với quy mô nhỏ hơn và thƣờng nằm ở vùng nông thôn). Ở

Nhật Bản, các Kominkan đóng vai trò là nơi hội họp, là địa điểm học tập, nơi

liên kết các cá nhân hoặc các nhóm với nhau, nơi mà ngƣời dân có thể đến để

phát triển bản thân, phát triển cộng đồng và tìm hiểu và khám phá về cộng

đồng (xin xem cấu trúc mô hình quản lý Kominkan ở Sơ đồ 1.1) .

Kết quả nghiên cứu về mô hình trung tâm học tập cộng đồng Kominkan ở Nhật Bản đã đề xuất đƣợc các nguyên tắc cơ bản để phát triển và

quản lý các trung tâm này là:

- Phải đảm bảo sự tự do và bình đẳng;

- Phải đƣợc miễn phí;

- Với tƣ cách là cơ sở giáo dục, Kominkan phải tổ chức các hoạt động

giảng dạy hoặc tập huấn (nếu không, nó chỉ đơn thuần là phòng họp);

- Phải có đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên;

- Phải đƣợc đặt ở nơi gần và thuận tiện đối với ngƣời dân;

- Phải đƣợc cung cấp đầy đủ các trang thiết bị phù hợp.



1.1.1.2. Trung tâm học tập cộng đồng ở Thái Lan

Thái Lan là một nƣớc có nhận thức sớm về vai trò của giáo dục không

chính quy và cũng có cơ sở hạ tầng của giáo dục không chính quy tƣơng đối

tốt. Năm 1998, Thái Lan đã có 35.000 Trung tâm đọc sách. Hiện nay, các cơ

13



sở giáo dục không chính quy của Thái Lan đƣợc tổ chức theo hệ thống từ

Trung ƣơng tới địa phƣơng gồm các Trung tâm nguồn ở cấp vùng (gồm 7

Trung tâm), các Trung tâm giáo dục không chính quy cấp tỉnh (gồm 76 Trung

tâm), các Trung tâm giáo dục không chính quy cấp huyện (gồm 877 Trung

tâm) và Trung tâm học tập cộng đồng ở cấp xã (gồm 8.577 Trung tâm).

Với cách tổ chức hệ thống nhƣ vậy, các TTHTCĐ ở Thái Lan đƣợc hỗ

trợ điều phối các hoạt động về tài chính, đƣợc điều phối về cán bộ quản lý,

nhân viên, giáo viên và đƣợc tập huấn cán bộ, hỗ trợ học liệu từ các Trung tâm

nguồn, các Trung tâm giáo dục không chính quy cấp tỉnh và cấp huyện.

TTHTCĐ tổ chức ở cấp xã đƣợc đánh giá là thực sự cần thiết để cung cấp kiến

thức và thông tin cho mọi ngƣời dân sống trong cộng đồng.

Các của TTHTCĐ ở Thái Lan thực hiện 3 chức năng chủ yếu là:

- Giáo dục cơ sở (xóa mù chữ, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở),

- Giáo dục nghề nghiệp (mở lớp huấn luyện kỹ năng ngắn ngày và giáo

dục nghề cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông);

- Thông tin, tƣ vấn (qua các hoạt động và qua tài liệu).

Kết quả nghiên cứu về mô hình TTHTCĐ ở Thái Lan đã khẳng định các

nguyên tắc cơ bản để điều hành và quản lý hoạt động của TTHTCĐ là:

- TTHTCĐ là của dân, do dân và vì dân. Ngƣời đứng đầu trung tâm phải

có định hƣớng cụ thể để phát triển trung tâm, đảm bảo để mọi ngƣời đều có cơ

hội học tập.

- TTHTCĐ hoạt động theo cơ chế mở. Mọi ngƣời trong cộng đồng có

thể đến học bất cứ lúc nào.

- TTHTCĐ phải trở thành cầu nối thông tin giữa mọi ngƣời, gắn đƣợc

việc học chữ với việc thực hành trong cuộc sống hàng ngày.

- TTHTCĐ phải có mạng lƣới liên kết với các cơ sở giáo dục, với các tổ

chức xã hội, các cơ sở sản xuất và các chuyên gia trên các lĩnh vực.

(Xin xem mô hình quản lý và tác động của TTHTCĐ ở Thái Lan tại Sơ đồ 1.2)

14



Sơ đồ 1.2: MÔ HÌNH QUẢN LÝ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TTHTCĐ Ở THÁI LAN

Trung tâm nguồn

(cấp vùng)

Trung tâm

GDKCQ cấp huyện

Các giáo viên,

Cộng tác viên



Các tổ chức

xã hội



Trung tâm

học tập

cộng đồng

Các



Các CSGD



chuyên gia



tại cộng đồng



Các cơ sở

liên kết khác



Các thành viên

trong cộng đồng



1.1.1.3. Trung tâm học tập cộng đồng ở Ấn Độ

Từ năm 1988, Chính phủ Ấn Độ đã quyết định thành lập hàng loạt các

Jana Shikshan Nilayams (viết tắt là JSNs - tiếng Ấn Độ có nghĩa là Trung tâm

học tập) trong cả nƣớc với mô hình cứ 4-5 làng (khoảng 5.000 dân) có một

Trung tâm nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho giáo dục sau xoá mù chữ và

GDTX. Tới những năm 1990-1991, chính sách giáo dục quốc gia của Ấn Độ

đề ra thêm nhiều chƣơng trình để đẩy mạnh giáo dục sau xóa mù chữ và

GDTX, trong đó có chƣơng trình thành lập các Trung tâm GDTX (Continuing

Education Centres - CECs). Các Trung tâm GDTX này không chỉ phục vụ cho

những ngƣời mới biết chữ mà cho cả trẻ em, thanh niên thất học và tất cả

thành viên trong cộng đồng có nhu cầu học tập suốt đời.

Các Trung tâm GDTX (CECs) ở Ấn Độ thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu

là: Mở các lớp buổi tối để củng cố kỹ năng biết chữ; Tổ chức đọc sách hoặc

cho mƣợn sách; Tổ chức thảo luận những vấn đề của cộng đồng; Tổ chức

huấn luyện ngắn ngày về kỹ thuật sản xuất và đời sống; Tổ chức các hoạt động

thể thao, văn hóa, giải trí; Tổ chức thông tin tuyên truyền ...

15



Về mặt tổ chức và quản lý, các Trung tâm GDTX (CECs) của Ấn Độ

đƣợc thành lập theo quy mô cấp xã (dân số khoảng 1500-2000 ngƣời trong đó

có khoảng 500 ngƣời mới biết chữ), và chủ yếu do cộng đồng tự cam kết

thành lập và quản lý.

1.1.1.4. Trung tâm học tập cộng đồng ở Myanmar

Mô hình trung tâm học tập cộng đồng bắt đầu đƣợc xây dựng tại

Myanmar từ năm 1994 với sự giúp đỡ của UNDP, UNESCO và các tổ chức

phi chính phủ khác. Tính đến năm 2007, Myanmar đã có 480 Trung tâm.

Mục đích của các TTHTCĐ tại Myanmar là: Khuyến khích sự tham gia

của cộng đồng trong việc hạn chế tỷ lệ bỏ học và nâng cao tỷ lệ đến trƣờng

tiểu học của trẻ em; Tập trung vào hoạt động tăng thu nhập và nâng cao chất

lƣợng cuộc sống của ngƣời dân; tạo cơ hội cho ngƣời dân đƣợc tiếp cận với

thông tin. Ở Myanmar, TTHTCĐ có thể vừa là một trung tâm thông tin, trung

tâm huấn luyện nghề nghiệp vừa là một câu lạc bộ để trao đổi, thảo luận, một

thƣ viện, nơi đọc sách báo hoặc trung tâm văn hoá, vui chơi, giải trí của cộng

đồng, có vai trò to lớn trong việc tạo cơ hội học tập tiếp tục cho trẻ em và

ngƣời lớn.

Về măt tổ chức và quản lý, TTHTCĐ tại Myanmar đƣợc xác định là

một cơ sở giáo dục tại làng xã, nằm ngoài hệ thống giáo dục chính quy, đƣợc

nhân dân địa phƣơng thành lập và quản lý, nhằm cung cấp cho nhân dân

những cơ hội học tập đa dạng để cải thiện chất lƣợng cuộc sống và phát triển

cộng đồng.

1.1.1.5. TTHTCĐ ở các nước khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Trong khuôn khổ Chƣơng trình Châu Á - Thái Bình Dƣơng về Giáo dục

cho mọi ngƣời (APPEAL), Dự án phát triển TTHTCĐ đã đƣợc triển khai từ

năm 1998. Đến năm 2005, chƣơng trình phát triển TTHTCĐ của UNESCO đã

đƣợc triển khai tại 20 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng .

Ở các quốc gia này, TTHTCĐ đã phát huy vai trò phục vụ cho các đối

tƣợng ngƣời lớn, thanh thiếu niên thuộc mọi đối tƣợng trong cộng đồng thông

16



qua các hoạt động xóa mù chữ và GDTX. TTHTCĐ giúp ngƣời học có đƣợc

thông tin chủ yếu và những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho sự phát triển của

cá nhân, gia đình và xã hội.

Tóm lại, nghiên cứu sự phát triển mô hình tổ chức và quản lý của các

TTHTCĐ trên thế giới chúng tôi thấy TTHTCĐ ở các nƣớc dù có tên gọi khác

nhau nhƣng đều thể hiện rõ là một cơ chế có hiệu quả để thực hiện xoá mù

chữ và GDTX và có vai trò quan trọng trong các hoạt động giáo dục, y tế,

nông nghiệp, phát triển cộng đồng - nhất là ở nông thôn. Đúng nhƣ “ Khuyến

nghị của Hội đồng quốc tế về giáo dục cho thế kỷ 21 gửi UNESCO 1996” đã

khẳng định: “Rõ ràng cộng đồng địa phƣơng bao giờ cũng giữ vai trò quan

trọng hàng đầu đối với bất kỳ một chiến lƣợc cải cách nào.Vì vậy, một trong

những giải pháp quan trọng để phát triển cộng đồng và để cộng đồng tham gia

vào quá trình cải cách giáo dục cần thiết phải xây dựng và phát triển các cơ sở

giáo dục cộng đồng” [31-Tr.19]. TTHTCĐ đã và đang đƣợc phát triển ngày

càng rộng khắp ở các nƣớc nhƣ một hệ thống cơ sở tổ chức học tập cho cộng

đồng phù hợp với xu thế giáo dục mới. Sự ra đời và phát triển của mô hình

TTHTCĐ ở Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó.

1.1.2. Vấn đề nghiên cứu, phát triển mô hình TTHTCĐ ở Việt Nam

Mô hình Trung tâm học tập cộng đồng của Việt Nam bắt đầu đƣợc thử

nghiệm từ năm 1997 do Viện Khoa học giáo dục Việt Nam thiết kế với sự hỗ

trợ kinh nghiệm của một số tổ chức nƣớc ngoài nhƣ UNESCO Bangkok, hiệp

hội các câu lạc bộ UNESCO Nhật Bản và UNICEF Việt Nam. Sự nỗ lực của

các tổ chức xã hội (trƣớc hết là Hội Khuyến học Việt Nam) và ngành Giáo dục

– Đào tạo, đặc biệt là sự thừa nhận vai trò, vị trí nhƣ một cơ sở giáo dục nằm

trong hệ thống giáo dục quốc dân (Luật Giáo dục - 2005) đã làm cho hệ thống

TTHTCĐ phát triển rất nhanh. Từ 10 TTHTCĐ đƣợc thử nghiệm trong những

năm 1997-2000 tại một số tỉnh đại diện cho các vùng miền trong cả nƣớc

17



(gồm: Hà Nội, Hoà Bình, Lai Châu, Thái Bình, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Kon

Tum và Lao Cai), năm 2001 cả nƣớc đã có 125 TTHTCĐ, đến năm 2005 có

5.331 TTHTCĐ và tại thời điểm tháng 6/2009 đã có 9.551 TTHTCĐ (chiếm

86,41% so với tổng số 11.059 xã, phƣờng, thị trấn của cả nƣớc). Mô hình

TTHTCĐ đã đƣợc thực tiễn chấp nhận và đƣợc triển khai đều khắp trên cả

nƣớc trong đó có 29 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ 100% và 39 tỉnh, thành phố đạt tỷ

lệ trên 95% đơn vị cấp xã đã thành lập TTHTCĐ.

Về mặt tổ chức và quản lý, mô hình TTHTCĐ của Việt Nam đƣợc thiết

kế và phát triển trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới

(nhƣ đã trình bày ở trên), đồng thời có sự kế thừa và phát huy các yếu tố tích

cực của các mô hình thiết chế văn hoá - giáo dục tại cộng đồng đã có từ trƣớc

đây ở trong nƣớc (nhƣ Nhà Rông, Đình làng,..). Do đó, TTHTCĐ đang đƣợc

xây dựng và phát triển ở Việt Nam vừa có sự phù hợp với những điều kiện,

hoàn cảnh mới và mang ý tƣởng của thời đại, vừa có yếu tố truyền thống. (Xin

xem sơ đồ quản lý TTHTCĐ ở địa phương tại Sơ đồ 1.3)

Sau hơn mƣời năm phát triển, hệ thống TTHTCĐ ở Việt nam đã đƣợc

đánh giá là một mô hình cơ sở giáo dục mới với những điểm mạnh, điểm yếu

và đang đứng trƣớc những cơ hội và thách thức khá rõ rệt. Cụ thể là:

i) TTHTCĐ ở nƣớc ta đã khẳng định những điểm mạnh chủ yếu sau:

+ Đã tạo ra cơ hội học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời cho ngƣời dân

ngay tại cộng đồng do đƣợc tổ chức ngay tại cơ sở làng xã, với phƣơng châm

“cần gì, học nấy”;

+ Góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân ở cộng đồng

cả về nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, thực hiện dân quyền, ổn định và

nâng cao chất lƣợng dân số và cải thiện môi trƣờng dân cƣ;

+ Góp phần phát triển cộng đồng bền vững thông qua việc đào tạo, bồi

dƣỡng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế địa phƣơng, thực hiện các mục

tiêu phát triển văn hóa - xã hội của địa phƣơng và nâng cao nhận thức, kỹ năng

của ngƣời dân trong việc thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trƣờng.

18



ii) Những hạn chế cần khắc phục:

+ Chƣa thực sự tạo cơ hội học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời cho

tất cả mọi ngƣời (mới chỉ thu hút đƣợc khoảng 20-40% ngƣời dân tham gia);

+ Chất lƣợng, hiệu quả và tính bền vững của nhiều THTCĐ còn hạn chế

(Chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp và hình thức tổ chức của nhiều

TTHTCĐ chƣa đa dạng, thiết thực, phù hợp với nhu cầu của ngƣời dân và các

vấn đề của cộng đồng; Địa điểm đặt TTHTCĐ chƣa thật sự thuận lợi đối với

ngƣời dân ở các địa bàn miền núi, hải đảo có địa hình phân tán...);

+ Việc giám sát, đánh giá chƣa đƣợc quan tâm và còn nhiều bất cập

iii) Những cơ hội đang mở ra đối với hệ thống TTHTCĐ hiện nay là:

+ Ngƣời dân ngày càng ý thức đƣợc tầm quan trọng và có nhu cầu học

tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời;

+ Đảng và Nhà nƣớc đã quan tâm và có nhiều chủ trƣơng chính sách

(TTHTCĐ đã đƣợc thể chế hóa trong Luật Giáo dục; Đã có “Quy chế tổ chức

và hoạt động” cụ thể; Đã đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ ban đầu và hỗ thợ thƣờng

xuyên về kinh phí...);

+ Việc giáo dục, tuyên truyền cho ngƣời dân ở cơ sở ngày càng đƣợc

các ban, ngành, đoàn thể, chƣơng trình, dự án coi trọng;

+ Vấn đề học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời ngày càng đƣợc các tổ

chức quốc tế quan tâm.

iiii) Những thách thức đang đặt ra đối với hệ thống TTHTCĐ hiện nay :

+ Nhận thức của xã hội, các cấp chính quyền và ngƣời dân đối với vị trí,

vai trò của THHTCĐ còn chƣa đầy đủ, sự quan tâm chỉ đạo của nhiều địa

phƣơng và sự tích cực chủ động tham gia của nhiều ngƣời dân còn hạn chế; Sự

phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong việc tổ chức hoạt động tại các

TTHTCĐ chƣa chặt chẽ và thiếu hiệu quả;

+ Cơ sở pháp lý, chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý và giáo viên

của THTCĐ chƣa đầy đủ, thiếu thống nhất và chƣa phù hợp;

+ Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên của TTHTCĐ còn thiếu về số

19



lƣợng, hạn chế về chất lƣợng;

+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu học tập tại TTHTCĐ còn thiếu

thốn, chƣa phù hợp; Kinh phí đã đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ nhƣng chƣa đáp ứng

đƣợc nhu cầu, trong khi khả năng huy động xã hội hóa còn rất hạn chế.

Từ những đánh giá (qua việc phân tích SWOT) đối với hệ thống

TTHTCĐ trên đây, có thể thấy rằng : với đặc điểm là một mô hình cơ sở giáo

dục mới, bên cạnh việc phát triển khá nhanh về số lƣợng, hệ thống TTHTCĐ ở

nƣớc ta vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Vì vậy việc nghiên cứu các giải

pháp để nâng cao chất lƣợng các TTHTCĐ (trong đó có vấn đề “phát triển đội

ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ” - nhằm giải quyết một trong những khó

khăn/thách thức đối với hệ thống TTHTCĐ hiện nay) là một vấn đề cần thiết

không chỉ đối với một địa phƣơng mà đối với cả nƣớc.

Sơ đồ 1.3: HỆ THỐNG QUẢN LÝ TTHTCĐ TẠI ĐỊA PHƢƠNG Ở VIỆT NAM



Sở GD&ĐT

tỉnh



Trung tâm

GDTX

cấp huyện



UBND

cấp huyện

Phòng GD&ĐT

cấp huyện



UBND

cấp xã



Trung

tâm

HTCĐ



1.2. Trung tâm học tập cộng đồng (mô hình Việt Nam)

1. 2.1. Khái niệm Trung tâm học tập cộng đồng

TTHTCĐ (từ sau đây, khi nhắc đến khái niệm “trung tâm học tập cộng

đồng” là để chỉ TTHTCĐ theo mô hình của Việt Nam) là một cơ sở giáo dục

nhƣng là một loại hình cơ sở giáo dục có những đặc điểm rất riêng biệt so với

các loại hình cơ sở giáo dục khác. Để quản lý hệ thống TTHTCĐ và đề xuất

các giải phát phát triển, nâng cao chất lƣợng hệ thống này (trong đó có việc

20



“phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trung tâm học tập cộng đồng”), cần

nghiên cứu kỹ các đặc điểm đó.

TTHTCĐ là cơ sở giáo dục đƣợc thành lập tại xã, phƣờng, thị trấn để

thực hiện nhiệm vụ giáo dục thƣờng xuyên. TTHTCĐ đƣợc lập ra nhằm cung

cấp cơ hội học tập cho mọi ngƣời trong xã, phƣờng, thị trấn để phát triển

nguồn nhân lực, cải thiện đời sống và phát triển cộng đồng, xây dựng xã hội

học tập, góp phần thực hiện sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng.

Hoạt động của TTHTCĐ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi ngƣời dân ở

mọi lứa tuổi đƣợc học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời, đƣợc phổ biến kiến

thức và sáng kiến kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống, góp phần xoá đói

giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, nâng cao chất lƣợng

cuộc sống của từng ngƣời dân và cả cộng đồng. TTHTCĐ cũng là nơi thực

hiện việc phổ biến chủ trƣơng, chính sách, pháp luật đến với mọi ngƣời dân

một cách trực tiếp và cụ thể, phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi cộng đồng

dân cƣ tại cơ sở.

Khái niệm “Trung tâm học tập cộng đồng” đã chính thức đƣợc ghi nhận

với tƣ cách một cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của Việt

Nam sau khi Luật Giáo dục đƣợc Quốc hội khoá XI thông qua ngày 14 tháng

6 năm 2005. Tại Điều 46, Mục 1 Luật Giáo dục khẳng định: “Cơ sở giáo dục

thƣờng xuyên gồm: a) Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên đƣợc tổ chức ở cấp

tỉnh và cấp huyện; b) Trung tâm học tập cộng đồng đƣợc tổ chức ở cấp xã,

phƣờng, thị trấn” [39- Tr.40).

Theo “Quy chế tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ tại xã, phƣờng, thị

trấn” của Bộ GD&ĐT, “TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thƣờng xuyên trong hệ

thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có

sự quản lý hỗ trợ của Nhà nƣớc, đồng thời phát huy mạnh mẽ sự tham gia,

đóng góp của ngƣời dân trong cộng đồng dân cƣ để xây dựng và phát triển các

trung tâm theo cơ chế Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm”[9-Tr.1].



21



1.2.2. Mục tiêu hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng

TTHTCĐ là nơi thu hút mọi ngƣời dân đến để học tập, góp phần thực

hiện "chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô

hình xã hội học tập” nhƣ mục tiêu mà Đại hội X của Đảng đã khẳng định.

Việc xây dựng “xã hội học tập”, chủ trƣơng mang tính chiến lƣợc mà Đảng ta

nêu lên bắt nguồn từ tƣ tƣởng mang tính nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đƣợc học hành”. Tƣ tƣởng này đã trùng

hợp với xu thế phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI.

Xây dựng “xã hội học tập” để tiến tới nền kinh tế tri thức đang là một

trong những chủ đề trọng tâm của UNESCO, của các Hội nghị giáo dục quốc

tế. Trƣớc sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông

tin; sự xuất hiện của xã hội thông tin, của kinh tế tri thức, của xã hội học tập;

xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Những yếu tố đó liên kết chặt

chẽ giữa các quốc gia vào cộng đồng chung thế giới và khu vực, việc học tập

suốt đời lại có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Những kiến thức có đƣợc trong nhà

trƣờng chính quy của mỗi ngƣời không đủ đáp ứng với những nhu cầu mới,

luôn thay đổi của cuộc sống hiện đại. Do đó, mỗi ngƣời phải học thƣờng

xuyên, học suốt đời “Học để biết, học để làm, học để tồn tại và học để chung

sống cùng nhau”, nhƣ ông Jacque Delors, Chủ nhiệm Uỷ ban quốc tế về giáo

dục cho thế kỷ XXI đã khẳng định.

Hiểu một cách cơ bản nhất, “xã hội học tập” là một xã hội mà mọi

ngƣời đƣợc khuyến khích và hỗ trợ để học tập, mọi ngƣời vừa làm vừa học,

học thƣờng xuyên, học liên tục để không ngừng nâng cao trình độ học vấn và

tay nghề nhằm đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới: tin học hoá, toàn cầu

hoá, xã hội thông tin và tri thức. “Cả loài ngƣời đang bƣớc vào ngƣỡng cửa

của thế kỷ XXI với tƣ tƣởng xây dựng một xã hội học tập, coi việc học là việc

làm thƣờng xuyên, suốt đời của mọi ngƣời, lấy việc học là động lực quyết

định hàng đầu để đƣa xã hội tiến lên” [20-Tr.28].



22



Với tƣ cách là hạt nhân xây dựng “xã hội học tập” tại cơ sở, mục tiêu

của TTHTCĐ là: tạo điều kiện thuận lợi cho mọi ngƣời trong cộng đồng đƣợc

học tập thƣờng xuyên , đƣợc hƣởng dịch vụ giáo dục, thực hiện đa dạng các

nội dung học tập; là mô hình chuyển giao kiến thức, khoa học kỹ thuật trực

tiếp, rộng rãi, nhanh nhất đến ngƣời lao động và cũng là nơi trang bị kiến thức

về cuộc sống cho cộng đồng, góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, cải thiện

cuộc sống, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm,...góp phần làm lành

mạnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng. Mục tiêu học tập ở TTHTCĐ là

học không chỉ vì bằng cấp mà chủ yếu để nâng cao chất lƣợng cuộc sống,

chăm sóc gia đình, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội ở địa phƣơng,

thực hiện “dấy lên phong trào diệt “giặc dốt” trong toàn Đảng, toàn dân. Ai

dốt gì diệt nấy, ngƣời biết dạy ngƣời chƣa biết, xoá mù chữ, mù công nghệ,

mù nghề, mù tin học, mù ngoại ngữ để nhân dân ta tự nâng mình lên một trình

độ trí tuệ ngang tầm thời đại, áp dụng đƣợc công nghệ vào sản xuất, xây dựng

đƣợc nếp sống văn hoá, văn minh”[31-Tr18].

Mục tiêu hoạt động của TTHTCĐ còn thể hiện ở chỗ nó là nơi thực

hiện chiến lƣợc thông tin (tuyên truyền, giáo dục) của các ban, ngành, đoàn

thể tại cộng đồng. Với xu thế toàn cầu hoá, các quốc gia đang sống trong thời

kỳ vừa thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau, vừa bảo vệ tính độc lập của từng

nƣớc, vừa hợp tác vừa đấu tranh. Cuộc cách mạng thông tin hiện nay đang tạo

điều kiện thuận lợi để tiếp thu các tinh hoa văn hoá của các nƣớc, nhƣng đồng

thời cũng làm cho các nền văn hoá dễ bị pha tạp, lai căng, mất bản sắc. Khi

hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá, nếu biết phát huy những giá trị truyền

thống và bản sắc văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân

loại thì sẽ có sức đề kháng với các cuộc “xâm lƣợc văn hoá" diễn ra hàng

ngày, hàng giờ. Gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc phải đƣợc quán triệt trong

mọi lĩnh vực giáo dục và trong lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội,

khoa học, nghệ thuật, ngoại giao, an ninh quốc phòng. Các hoạt động này đều

do các ban ngành đoàn thể cùng phối hợp tổ chức tại TTHTCĐ.

23



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

×