1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

2 Thực trạng hoạt động cho vay vốn đối với các doanh nghiệp ngành thép tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam- chi nhánh Ba Đình.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (349.34 KB, 61 trang )


27



Bảng 2.5: Tình hình cho vay thu nợ đối với các doanh nghiệp ngành thép tại VIB – chi nhánh Ba Đình

( Năm 2010 – năm 2012)

Đơn vị: Tỷ đồng

NĂM 2010

CHỈ TIÊU



Ngắn hạn



NĂM 2012



CHÊNH LỆCH

Năm 2011 so với năm Năm 2012 so với năm



Doanh

số



Doanh số cho vay



NĂM 2011



Tỷ

(%)



1,073.61 100

1,026.3

4



trọng Doanh

số



Tỷ

(%)



trọng Doanh

số



Tỷ



trọng 2010

Tuyệt

(%)

đối



Tương đối



2011

Tuyệt



Tương đối



(%)



đối



(%)



2,046.07



100



2,086.99



100



972.46



90.58



40.92



2



95.6



1,936.34



94.64



1,975.06



94.64



910



88.66



38.73



2



Trung hạn



33.55



3.12



57.35



2.8



58.5



2.8



23.8



70.94



1.15



2



Dài hạn



13.72



1.28



52.38



2.56



53.43



2.56



38.66



281.77



1.05



2



Doanh số thu nợ



975.70



100



100



1,900.68 100



887.71



90.98



37.27



2



Ngắn hạn



923.7



94.67



1,742.7



93.52



1,777.56



93.52



819



88.66



34.85



2



Trung hạn



36.9



3.78



63.08



3.39



64.34



3.39



26.18



70.94



1.26



2



Dài hạn



15.09



1.55



57.62



3.09



58.77



3.09



42.53



281.77



1.15



2



1,863.4

1



( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của VIB- chi nhánh Ba Đình năm 2010, 2012)



28



* Về doanh số cho vay.

Năm 2010, doanh số cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép là

1073,61 tỷ đồng thì đến năm 2011, doanh số cho vay tăng lên 2026,07 tỷ đồng. Như

vậy so với năm 2010, thì năm 2011, chi nhánh đã tăng doanh số cho vay là 972,46

tỷ đồng( tương đương với 90,58%). Điều này cho thấy qui mô tín dụng của chi

nhánh đối với các doanh nghiệp ngành thép được mở rộng. Bởi năm 2011, mặc dù

gặp không ít khó khăn từ nhiều yếu tố khách quan, song sản lượng tiêu thụ các sản

phẩm ngành thép Việt Nam khá cao không chỉ đáp ứng đủ cho nhu cầu phát triển

kinh tế đất nước mà còn xuất khẩu và trở thành điểm hấp dẫn các nhà đầu tư trong

và ngoài nước. Do vậy,nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất tăng nhanh, đặc biệt là

nhu cầu vốn lưu động. Năm 2012, mặc dù doanh số cho vay có tăng lên 2086,99tỷ

đồng ,song mức tăng không đáng kể, chỉ tăng 2% so với năm 2011. Một mặt do tình

hình huy động vốn của chi nhánh trong năm 2012 gặp nhiều khó khăn, nên để đảm

bảo khả năng thanh khoản và an toàn trong hoạt động kinh doanh thì chi nhánh chỉ

tăng doanh số cho vay ở mức nhỏ.Mặt khác, thời điểm này các doanh nghiệp ngành

thép gặp khó khăn vì thị trường tiêu thụ sản phẩm thép trở nên am đảm.

Về cơ cấu doanh số cho vay thì vẫn chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Năm 2010,

cho vay ngắn hạn là 1026,34 tỷ đồng, chiếm 95,6% tổng doanh số cho vay đối với

các doanh nghiệp ngành thép. Năm 2011 thì tỷ trọng cho vay ngắn hạn có giảm

xuống và chiếm 94,64%, tỷ trọng cho vay trung hạn giảm và đi cùng với đó là tỷ

trọng cho vay dài hạn tăng lên. Sang năm 2012, mặc dù doanh số cho vay có tăng

nhưng cơ cấu cho vay theo kì hạn so vói năm 2011 vẫn không thay đổi.

* Về tình hình thu nợ.

Qua bảng 2.5, ta thấy tình hình thu nợ của chi nhánh trong hoạt động cho vay

đối với các doanh nghiệp ngành thép đạt được những kết quả đáng chú ý. Nếu năm

2010, doanh số thu nợ là 975,7 tỷ đồng, thì đến năm 2011, doanh số thu nợ tăng lên

1863,41 tỷ đồng. Như vậy, so với năm 2010, thì doanh số thu nợ năm 2011 tăng

887,71 tỷ đồng (tương đương với 90,98%). Năm 2012 là một năm khó khăn đối với

các doanh nghiệp ngành thép, bởi chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt đã dẫn tới

sự sụt giảm của ngành xây dựng công nghiệp và dân dụng - vốn chiếm khoảng 34%

tổng nhu cầu của ngành thép. Lượng tiêu thụ thép trong nước năm 2012 ước tính

giảm khoảng 8% so với năm trước,do vậy công tác thu nợ của chi nhánh cũng gặp



29



không ít cản trở. Song với năng lực của các cán bộ tín dụng kiểm soát chặt chẽ từ

công tác thẩm định, xét duyệt phương án sản xuất, theo dõi sát sao quá trình sử

dụng vốn của các doanh nghiệp ngành thép, nên năm 2012, doanh số thu nợ của chi

nhánh đã tăng lên 1900,68 tỷ đồng, tăng 37,27 tỷ đồng ( tương đương với 2%) so

với năm 2011. Mặc dù, mức tăng của doanh số thu nợ không cao, song trong điều

kiện nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp ngành thép, khi

mà năm 2012, thị trường tiêu thụ các sản phẩm thép ảm đảm, thì đây cũng là một

kết quả đáng ghi nhận về những nỗ lực của các cán bộ tín dụng của chi nhánh.

2.2.2 Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu của các doanh nghiệp ngành thép tại

NHTMCP Quốc Tế Việt Nam - chi nhánh Ba Đình.

NĂM 2010



CHỈ TIÊU



Tuyệt

đối



Tỷ

trọng

(%)



Nợ đủ tiêu

454.85 100

chuẩn

Nợ cần chú

ý

Nợ

dưới

tiêu chuẩn

Nợ

nghi

ngờ

Nợ có khả

năng mất

vốn

Tổng dư

nợ



NĂM 2011



NĂM 2012



CHÊNH LỆCH

Năm 2011 so Năm 2012 so

với năm 2010

năm 2011



Tuyệt

đối



Tỷ

trọng

(%)



Tuyệt

đối



Tỷ

trọng

(%)



859.3

3



100



876.52



100



404.48 88.92



17.19 2



Tuyệt

đối



Tương

đối (%)



Tuyệt Tương

đối

đối (%



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



0



454.8

5



100



859.3

3



100



876.52



100



404.4

8



88.92



17.19 2



Bảng 2.6: Cơ cấu dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép

theo chất lượng nợ tại VIB – chi nhánh Ba Đình ( năm 2010 – năm 2012)

Đơn vị: Tỷ đồng

( Nguồn: Thuyết minh báo cáo tài chính của VIB – chi nhánh Ba Đình năm 2010, 2012)

Nhìn vào bảng 2.6 ta thấy, cả 3 năm từ năm 2010 đến năm 2012 các khoản

nợ vay của các doanh nghiệp ngành thép đều là nợ đủ tiêu chuẩn, không có nợ quá

hạn. Điều này cho thấy công tác quản lý rủi ro tín dụng của chi nhánh trong hoạt



30



động cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép là tốt, thể hiện năng lực của các

cán bộ tín dụng từ khâu xét duyệt hồ sơ, dự án và theo dõi quá trình sử dụng vốn

của các doanh nghiệp ngành thép cũng như quá trình thu nợ theo kế hoạch đã vạch

ra là chặt chẽ.Công tác tìm hiểu và đánh giá khách hàng cũng được tiến hành hiệu

quả và các khách hàng của chi nhánh đều là những khách hàng tốt, có nguồn tài

chính ổn định, đảm bảo khả năng trả nợ.

2.2.3. Thu nhập từ hoạt động cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp

ngành thép.

Ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy, để đánh

giá hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp ngành thép

thì thu nhập là chỉ tiêu không thể thiếu.Thu nhập từ hoạt động cho vay đối với các

doanh nghiệp ngành thép trong ba năm qua của ngân hàng được thể hiện qua bảng

2.7 sau:



31



Bảng 2.7: Thu nhập từ hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp

ngành thép tại VIB – chi nhánh Ba Đình ( năm 2010 – năm 2012)

Năm 2010

Chỉ tiêu



Tuyệt

đối



Tổng



Tỷ

trọng

(%)



Năm 2011

Tuyệt

đối



Tỷ

trọng

(%)



Năm 2012

Tuyệt

đối



Tỷ

trọng

(%)



Chênh lệch

Năm 2011 so với Năm 2012 so với

năm 2010

Tuyệt

Tương



năm 2011

Tuyệt

Tương



đối



đối (%)



đối



đối (%)



lợi



nhuận trước 10



100



16.08



100



25.5



100



6.08



60.80



9.42



58.58



7.45



74.5



11.59



72.1



17.6



69.02



4.14



55.62



6.01



51.81



2



20



3.28



20.4



5.69



22.3



1.28



64.02



2.41



73.35



5



1.09



6.8



2.01



7.9



0.59



118.69



0.92



84.24



0.5



0.11



0.7



0.2



0.78



0.06



125.12



0.09



76.71



thuế

Thu từ lãi

Thu từ phí

dịch vụ

Thu từ hoạt

động



ngoại 0.5



hối

Các loại thu

khác



0.05



( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của VIB – chi nhánh Ba Đình năm 2010,

2012)

Nhìn vào bảng 2.7 ta thấy, thu nhập từ hoạt động cho vay của ngân hàng đối

với các doanh nghiệp ngành thép tăng qua các năm. Năm 2010, thu nhập là 10 tỷ

đồng, sang năm 2011, thu nhập từ hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp

ngành thép là 16,08 tỷ đồng, tăng 6,08 tỷ đồng ( tương đương với 60,8%) so với

năm 2010. Năm 2012, thu nhập là 25,5 tỷ đồng, tăng 9,42 tỷ đồng( tương đương với

58,58%) so với năm 2010. Việc tăng thu nhập của ngân hàng trong 3 năm chủ yếu

là thu từ lãi cho vay. Tỷ trọng đóng góp vào thu nhập của lãi cho vay trong 3 năm

đều cao. Năm 2010, thu nhập từ lãi cho vay chiếm 74,5%, năm 2011 chiếm 72.1%

sang năm 2012 thu từ lãi cho vay giảm xuống và chỉ còn chiếm 69,02%, như vậy

qua các năm thì tỷ trọng của thu nhập từ lãi giảm, tuy nhiên thu nhập từ các loại phí



32



dịch vụ tăng qua các năm, và tốc độ tăng của thu nhập từ phí dịch vụ cao hơn tốc độ

tăng của thu từ lãi cho vay. Kết quả này được đánh giá cao bởi mặc dù thu nhập từ

hoạt động cho vay cao, song nó chứa đựng nhiều rủi ro và chất lượng các hoạt động

dịch vụ của ngân hàng cung cấp cho các doanh nghiệp ngành thép ngày càng hoàn

thiện, không ngừng được nâng cao, đáp ứng được tốt các nhu cầu của khách hàng.

Bên cạnh đó, thu từ hoạt động ngoại tệ và các loại thu khác cũng tăng qua các năm.

Và cơ cấu đóng góp vào thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng là

tương đối hợp lý trong điều kiện kinh tế có nhiều biến động như hiện nay.

2.2.4 Quy mô dư nợ tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành thép tại NHTMCP

Quốc Tế Việt Nam- chi nhánh Ba Đình.

Một trong những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay đối với các doanh

nghiệp ngành thép của VIB – chi nhánh Ba Đình là việc ngân hàng có mở rộng

được quy mô cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép hay không. Ngân hàng

cần tăng doanh số cho vay, sử dụng hợp lý nguồn vốn huy động mà không gây mất

vốn, lãng phí vốn.

Trước hết ta xem xét quy mô cho vay chung của ngân hàng đối với các

doanh nghiệp ngành thép. Nhìn vào tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh và tổng dư

nợ cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép của chi nhánh, ta có thể thấy rằng,

dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép chiếm 80% tổng dư nợ của cả

chi nhánh. Đối với hoạt động kinh doanh của một chi nhánh thì tỷ lệ này là rất cao,

tiềm ẩn nhiều rủi ro, do trong thời gian này, thị trường tiêu thụ các sản phẩm thép

khá chìm, và tỷ lệ cho vay này qua các năm không có sự biến động đáng kể. Năm

2011, tổng dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép là 859,33 tỷ đồng,

tăng 404,48 tỷ đồng( tương đương với 88,93%) so với năm 2010. Việc tăng quy mô

cho vay như vậy trong năm 2011 của chi nhánh bởi trong năm 2011, thị trường tiêu

thụ các sản phẩm thép khá sôi nổi, do hoạt động xây dựng phát triển mạnh, đây là

điều kiện tốt cho các doanh nghiệp ngành thép đua nhau mở rộng quy mô sản xuất,

nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp tăng lên. Sang năm 2012, tổng dư nợ cho vay

đối với các doanh nghiệp ngành thép là 876,52 tỷ đồng, tăng 17,19 tỷ đồng ( tương



33



đưong với 2%) so với năm 2011. Năm 2012 là một năm đầy khó khăn đối với chi

nhánh, khi không chỉ các ngân hàng gặp khó khăn do các chính sách thắt chặt tín

dụng của NHNN, mà các doanh nghiệp ngành thép cũng gặp khó khăn ở đầu ra,

khiến cho việc tiêu thụ sản phẩm giảm, do đó, chi nhánh cũng e ngại trong việc tăng

quy mô tín dụng cho các doanh nghiệp ngành thép để đảm bảo an toàn trong hoạt

động cho vay của chi nhánh.

- Cơ cấu dư nợ cho vay các doanh nghiệp ngành thép theo sản phẩm sản xuất.

Bảng 2.8: Cơ cấu dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép

của VIB – chi nhánh Ba Đình theo sản phẩm sản xuất ( Năm 2010 – Năm

2012)

Đơn vị: Tỷ đồng

NĂM 2010

CHỈ

TIÊU



Tuyệt

đối



Tổng

dư nợ

Inox

Thép

đen



Tỷ

trọng

(%)



NĂM 2011



Tuyệt

đối



Tỷ

trọng

(%)



NĂM 2012



Tuyệt

đối



Tỷ

trọng

(%)



CHÊNH LỆCH

Năm 2011 so với Năm 2012 so

năm 2010

Tuyệt

Tương



với năm 2011

Tuyệt Tương



đối



đối (%)



đối



đối (%)



454.85



100



859.33



100



876.52



100



404.48



88.93



17.19



2.00



364.84



80.21



688.75



80.15



704.28



80.35



323.92



88.78



15.53



2.25



90.01



19.79



170.58



19.85



172.24



19.65



80.56



89.50



1.66



0.97



( Nguồn: Thuyết minh báo cáo tài chính của VIB – chi nhánh Ba Đình năm 2010,

2012)

Qua bảng 2.8, ta thấy trong cả 3 năm thì tỷ trọng cho vay đối với sản phẩm

inox đều chiếm trên 80%. Năm 2011, dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp

ngành thép sản xuất sản phẩm inox là 688,75 tỷ đồng, tăng 323,92 tỷ đồng ( tương

đương với 88,78%) so với năm 2010. Trong khi đó, dư nợ cho vay đối với sản xuất

sản phẩm thép đen là 170,58 tỷ đồng, tăng 80,56 tỷ đồng (tương đương với 89,50%)

so với năm 2010.Sang năm 2012, dư nợ cho vay đối với sản xuất sản phẩm inox



34



tăng lên 704,28 tỷ đồng, tăng 15,53 tỷ đồng ( tương đương với 2,25%) so với năm

2011; còn cho vay đối với sản xuất sản phẩm thép đen là 172,24 tỷ đồng, tăng 1,66

tỷ đồng ( tương đương với 0,97%) so với năm 2011. Điều này cho thấy, các sản

phẩm inox của các doanh nghiệp ngành thép có thị trường tiêu thụ mạnh hơn và do

đó nhu cầu quay vòng vốn của doanh nghiệp cao hơn.

- Cơ cấu dư nợ cho vay các doanh nghiệp ngành thép theo kì hạn.

Bảng 2.9: Cơ cấu dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép tại

VIB – chi nhánh Ba Đình theo kì hạn ( Năm 2010 – năm 2012)

Đơn vị : Tỷ đồng

NĂM 2010



NĂM 2011



NĂM 2012



CHÊNH LỆCH

Năm 2011 so Năm 2012 so



CHỈ

Tuyệt



TIÊU



đối



Tổng







nợ

Ngắn hạn



Tỷ

trọng

(%)



454.85 100

410.7

3



90.3



Tuyệt

đối



859.3

3

774.6

9



Tỷ

trọng

(%)



Tuyệt

đối



Tỷ

trọng

(%)



100



876.52 100



90.15



790.62 90.2



với năm 2010

với năm 2011

Tương

Tuyệt

Tuyệt Tương

đối

đối

đối

đối (%)

(%)

404.48 88.92

363.9

5



Trung hạn



22.52



4.95



39.10



4.55



43.83



5



16.58



Dài hạn



21.61



4.75



45.54



5.3



42.07



4.8



23.94



17.19



2.00



88.61



15.93



2.06



73.66



4.73



12.09



110.8

0



(3.47) -7.62



( Nguồn: Thuyết minh báo cáo tài chính của VIB – chi nhánh Ba Đình năm 2010,

2012)

Qua bảng 2.9, ta thấy, nhìn chung cả 3 năm thì dư nợ cho vay ngắn hạn đều

chiếm trên 90%. Dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu dư nợ

cho vay các doanh nghiệp ngành thép, nhu cầu về vốn cố định để đầu tư vào các tài

sản cố định của các doanh nghiệp ngành thép cũng như việc đáp ứng nhu cầu về

vốn này của chi nhánh là không lớn. Điều này cho thấy, nhu cầu bổ sung vốn lưu



35



động của các doanh nghiệp ngành thép là khá lớn và chi nhánh cũng chủ yếu tập

trung cho vay đối với nhu cầu này của các doanh nghiệp ngành thép.

2.3 Đánh giá hoạt động cho vay vốn đối với các doanh nghiệp ngành thép của

NHTMCP Quốc Tế Việt Nam- chi nhánh Ba Đình.

2.3.1 Những kết quả đạt được.

Ba năm qua chứng kiến biết bao sự biến động của nền kinh tế, lạm phát gia

tăng, sự bất ổn của thị trường bất động sản, thị trường tài chính…cùng với các

chính sách tài khoá và tiền tệ thắt chặt của chính phủ không những ảnh hưởng đến

hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thép mà còn tác động

mạnh đến các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trước tình hình đó, Ban điều

hành VIB – chi nhánh Ba Đình đã có sự điều chỉnh nhanh chóng và kịp thời trong

chính sách kinh doanh, điều hành một cách linh hoạt theo diễn biến thi trường và đã

đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động cho vay đối với các doanh

nghiệp ngành thép:

- Về quy mô cho vay,mặc dù trong giai đoạn này nền kinh tế có nhiều biến

động, ảnh hưởng đến hoạt động của không chỉ các doanh nghiệp ngành thép làm

cho ngành thép chững lại mà còn ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của các

ngân hàng thương mại, đặc biệt là hoạt động cho vay, song quy mô cho vay đối với

các doanh nghiệp ngành thép vẫn tăng. Năm 2012, tổng dư nợ cho vay đối với các

doanh nghiệp ngành thép là 876,52 tỷ đồng, tăng 17,19 tỷ đồng ( tương đương với

2%) so với năm 2011. Điều này thể hiện nỗ lực của ngân hàng trong việc hỗ trợ các

doanh nghiệp ngành thép trong thời kỳ gặp khó khăn.

- Cơ cấu cho vay hợp lý và giữ được ổn định trước những biến động của nền

kinh tế

- Công tác kiểm soát tín dụng, quản lý rủi ro và nợ có vấn đề được quản lý

chặt chẽ. Cán bộ tín dụng quản lý từ công tác thẩm định tín dụng, kiểm soát công

tác trả nợ và xử lý các vấn đề phát sinh. Chọn lọc kỹ lưỡng khách hàng vay vốn,

phương án sản xuất khả thi để ký kết hợp đồng tín dụng. Thực hiện chính sách cho

vay hợp lý đối với mỗi khách hàng để mang lại hiệu quả cho vay cao nhất. Bởi vậy,



36



những năm qua hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp ngành thép của chi

nhánh không có nợ quá hạn.

- Trong những năm qua, chi nhánh cũng thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm

cho vay phù hợp với các nhu cầu của các doanh nghiệp ngành thép, nhằm tăng thu

nhập và thu hút thêm khách hàng mới.

- Trong năm chi nhánh thường xuyên cung cấp các văn bản cho các cán bộ

tín dụng để nâng cao kiến thức chuyên môn, kiến thức về ngành thép, các quy định

mới trong ngân hàng, tổ chức những buổi tập huấn về chuyên môn nhằm nâng cao

trình độ của cán bộ tín dụng và gián tiếp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng

của Chi nhánh.

2.3.2 Những mặt còn hạn chế của ngân hàng.

2.3.2.1 Những mặt hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, thì chi nhánh còn tồn tại một số hạn chế

cần khắc phục để hoàn thiện hơn:

- Tại Chi nhánh chưa có bộ phận chuyên phận chuyên quản lý các thông tin

về các khách hàng vay nói chung và các doanh nghiệp ngành thép nói riêng, về tài

sản đảm bảo, xếp loại tín dụng. Công việc này vẫn chủ yếu do bộ phận tín dụng

đảm nhiệm. Do đó, việc thu thập và xử lý thông tin còn thiếu hệ thống và toàn diện.

Chất lượng thông tin chưa cao, không kịp thời cập nhật, tốn thời gian và chi phí.

- Việc thực hiện qui trình cho vay còn nhiều sai sót. Đặc biệt trong khâu

phân tính tín dụng, chưa đánh giá đúng khả năng hiện tại và tương lại của khách

hàng. Trong quá trình kiểm tra việc tuân thủ các qui trình cho vay đôi khi vẫn còn

mắc lỗi tác nghiệp như:

Việc kiểm tra thực tế tại doanh nghiệp trước khi quyết định cho vay còn chưa

chặt chẽ, hầu như chỉ dựa trên hồ sơ; trong một số trường hợp không kiểm tra thực

tế sự tồn tại tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào hồ sơ do khách hàng cung cấp.

- Quy trình nghiệp vụ tuy đã được cải tiến nhưng vẫn còn rườm rà, phức tạp

và nhiều bất cập. Trong khi các ngân hàng cạnh tranh đưa ra các dịch vụ tương tự

với chất lượng cao( rút ngắn thời gian và thủ tục) thì chất lượng dịch vụ của VIB –



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

×