1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

2 Cho vay ngắn hạn và vai trò của cho vay ngắn hạn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (389.97 KB, 63 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



13



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



- Cho vay tiêu dùng: Việc cho vay ngắn hạn của ngân hàng nhằm đáp ứng

nhu cầu tiêu dùng của các gia đình, cá nhân như chi tiêu thường xuyên, chi sửa chữa

nhà cửa, mua sắm tài sản…

- Cho vay kinh doanh: Ngân hàng sẽ cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh

doanh vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh ngắn hạn của họ. Lĩnh vực

kinh doanh ngắn hạn của khách hàng bao gồm:

+ Cho vay công nghiệp và thương mại: Giúp khách hàng trang trải các

khoản chi phí hoạt động như chi phí mua hàng, trả lương…

+ Cho vay xây dựng ngắn hạn: Tạm ứng vốn cho bên thi công trong giai

đoạn thi công các công trình xây dựng.

+ Cho vay nông nghiệp: Nhằm hỗ trợ nông dân trong giai đoạn gieo trồng,

bảo quản sản phẩm.

+ Cho vay các tổ chức tín dụng

+ Cho vay khác: Bao gồm các hình thức như kinh doanh chứng khoán…



• Căn cứ vào bảo đảm tiền vay: Cho vay ngắn hạn chia thành cho vay ngắn hạn có

bảo đảm và cho vay ngắn hạn không có bảo đảm.

- Cho vay ngắn hạn có bảo đảm: Lý do chủ yếu đòi hỏi một khoản cho vay

ngắn hạn được đảm bảo là nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng giảm bớt rủi ro mất

vốn. Cho vay ngắn hạn có bảo đảm được chia thành các dạng cầm cố, thế chấp, bảo

lãnh bằng tài sản của người thứ ba, đảm bảo được hình thành từ vốn vay.

- Cho vay ngắn hạn không có bảo đảm: Cho vay ngắn hạn không có bảo đảm

được dựa trên uy tín và tình hình tài chính của người vay, lợi tức có thể có trong

tương lai và tình hình trả nợ trước đây.



• Căn cứ vào đồng tiền cho vay: Cho vay ngắn hạn bao gồm cho vay bằng đồng nội tệ

và cho vay bằng đồng ngoại tệ.

• Căn cứ vào phương pháp cho vay: Cho vay ngắn hạn được chia thành cho vay theo

từng lần, cho vay theo hạn mức và chiết khấu giấy tờ có giá.

• Căn cứ vào đối tượng sử dụng vốn vay: Cho vay ngắn hạn được chia thành cho vay

trực tiếp và cho vay gián tiếp.



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



14



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



- Cho vay trực tiếp: Tiền vay được phát trực tiếp cho người vay.

- Cho vay gián tiếp: Tiền vay được phát đến một tổ chức trung gian, sau đó

mới tới tay người vay.



• Căn cứ vào phương thức thanh toán: Người ta chia cho vay ngắn hạn thành cho vay

ngắn hạn hoàn trả một lần và cho vay ngắn hạn hoàn trả nhiều lần.

1.2.2. Các phương thức tín dụng ngắn hạn của NHTM

Trong hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM có nhiều phương thức tín

dụng được cấp như: cho vay theo từng lần, cho vay theo HMTD, chiết khấu giấy tờ

có giá, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo HMTD dự phòng, cho vay qua

nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Tuy nhiên, sau đây chỉ đề cập đến

những phương thức tín dụng phổ biến, thông dụng là cho vay theo từng lần, cho vay

theo HMTD, chiết khấu giấy tờ có giá và cho vay thấu chi.



• Cho vay từng lần (cho vay theo từng món)

Phương thức cho vay từng lần là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn,

người vay và tổ chức tín dụng đều làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng

tín dụng. Từng khoản vay là một hợp đồng tín dụng và gắn với một phương án sử

dụng vốn cụ thể. Căn cứ vào hồ sơ xin vay, ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và

ký kết hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời gian trả

nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo tiền vay.



• Cho vay theo HMTD

Đây là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định, thỏa

thuận một HMTD duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường

không quá 12 tháng.

Khác với phương thức cho vay từng lần, trong phương thức này ngân hàng

sẽ không xác định kỳ hạn nợ cho từng món tiền vay mà chỉ khống chế theo HMTD,

có nghĩa là vào một thời điểm nào đó nếu dư nợ vay của khách hàng lên tới mức tối

đa cho phép thì khi đó ngân hàng sẽ không phát tiền vay cho khách hàng.



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



15



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



• Chiết khấu giấy tờ có giá

Chiết khấu giấy tờ có giá là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn, trong đó khách

hàng chuyển nhượng quyền sở hữu các giấy tờ có giá chưa đến hạn cho ngân hàng để

nhận một khoản tiền bằng mức chiết khấu của giấy tờ có giá trừ đi lãi suất chiết khấu.



• Cho vay theo hạn mức thấu chi

Cho vay theo hạn mức thấu chi là một hình thức cho vay ứng trước đặc biệt,

nó khác với hình thức cho vay theo HMTD, vì các khoản tiền khách hàng rút trên tài

khoản cũng có tính chất như các khoản chi tiêu của khách hàng, chỉ khi nào trên tài

khoản của khách hàng xuất hiện dư nợ, khoản tiền đó mới được gọi là khoản cho vay.

1.2.3. Đặc điểm của cho vay ngắn hạn

Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng. Nó cơ bản

giữ được những bản chất chung của tín dụng, ngoài ra còn có một số đặc điểm sau:

Rủi ro tín dụng ngắn hạn thấp. Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian

ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự biến động không thể lường trước của nền kinh

tế như các khoản cho vay trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp

cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa

trên tài sản đảm bảo, bảo lãnh chắc chắn sẽ có khoản thu bù đắp trong tương lai vì

vậy rủi ro mang đến thường thấp.

Lãi suất thấp. Lãi suất cho vay được hiểu là khoản chi phí người đi vay trả

cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của người khác. Chính vì rủi ro mang lại của

khoản vay thường không cao do đó lãi suất người đi vay phải trả thông thường nhỏ.

Vốn tín dụng ngắn hạn mà ngân hàng cấp cho khách hàng thường được

khách hàng dùng để mua nguyên vật liệu, trả lương, bổ xung vốn lưu động nên số

vốn vay thường là nhỏ.

Thời hạn thu hồi vốn nhanh, số vòng quay tín dụng nhiều. Vốn tín dụng ngắn

hạn thường được sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn như đảm bảo

cân bằng ngân quỹ, đối phó với chênh lệch thu chi trong ngắn hạn…Thông thường

những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang tính thời điểm, sau đó khoản



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



16



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



thiếu hụt này sẽ sớm thu lại dưới hình thái tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ

nhanh.

Hình thức phong phú. Để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng của khách hàng,

phân tán rủi ro, đồng thời để tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường tín dụng, các

NHTM không ngừng phát triển các hình thức cho vay ngắn hạn của mình. Điều đó

đã làm cho các hình thức cho vay ngắn hạn rất phong phú như: nghiệp vụ ứng

trước, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu…

1.2.4. Vai trò của cho vay ngắn hạn

Tín dụng đã góp phần làm ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất đối với

doanh nghiệp, nâng cao đời sống của cá nhân, là cơ sở cho một nền kinh tế ổn định

và phát triển. Cũng như các loại tín dụng khác, cho vay ngắn hạn có vai trò cực kỳ

quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là một nước trong giai đoạn đang

phát triển thì cho vay ngắn hạn càng có vai trò quan trọng. Nó thể hiện:



• Đối với nền kinh tế

Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh

trên lĩnh vực tiền tệ. Với tư cách là một trung gian tài chính, nó là kênh chuyển vốn

từ những nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn và phân bổ đầu tư có hiệu quả trong

nền kinh tế. Cho vay là một hoạt động mang tính chất đầu tư cho nền kinh tế của

NHTM. Trong khi thị trường chứng khoán, các tổ chức tài chính phi ngân hàng có

nhiệm vụ đưa nguồn vốn trung và dài hạn vào nền kinh tế, thì đối với nguồn vốn

ngắn hạn lại thuộc phần lớn vai trò của NHTM. Thị trường tiền tệ với trung gian tài

chính, NHTM luôn là nơi cung cấp nguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế.



• Đối với doanh nghiệp

Cho vay ngắn hạn là nguồn vốn bổ sung kịp thời cho các nhu cầu về vốn

ngắn hạn của doanh nghiệp. Nguồn vốn này giúp doanh nghiệp tiếp tục hoạt động

sản xuất kinh doanh hoặc tháo gỡ khó khăn tạm thời về tài chính. Trong một số

trường hợp, vay vốn ngân hàng là một cách tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, tạo

điều kiện cho doanh nghiệp bắt kịp với các cơ hội kinh doanh, tận dụng được thời

cơ phát triển sản xuất.



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



17



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



Có thể nói, cho vay ngắn hạn tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp. Các điều kiện trong cho vay ngắn hạn tạo áp lực buộc các doanh

nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Một trong những nguyên tắc cơ bản là vay có hoàn

trả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Do vậy có thể trả nợ đúng hạn cho ngân

hàng và tạo uy tín trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng, các doanh nghiệp phải

hoạt động kinh doanh có hiệu quả để trả nợ cho ngân hàng.

Đối với các doanh nghiệp lớn, phần lớn vốn lưu động là vay của ngân hàng

dưới hình thức cho vay ngắn hạn ứng trước để đáp ứng các cơ hội kinh doanh. Do

tính chất của cho vay ứng trước là doanh nghiệp phải trả lãi kể cả trên phần dư nợ

vay chưa sử dụng đến, cho nên bắt buộc doanh nghiệp phải quay vòng vốn nhanh và

tính toán hoạt động kinh doanh có hiệu quả.



• Đối với ngân hàng

Hoạt động cho vay nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng là hoạt động

đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng. Cho vay ngắn hạn luôn là công cụ chủ

đạo của ngân hàng, tạo nguồn thu chủ yếu để bù đắp các chi phí. Mặt khác, cho vay

ngắn hạn còn là yếu tố quan trọng đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng.

1.3 Chất lượng cho vay ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng

1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay ngắn hạn

Chất lượng tín dụng ngắn hạn được xem xét, đánh giá thông qua hệ thống chỉ

tiêu sau.



 Đứng trên góc độ ngân hàng

 Các chỉ tiêu định lượng

Tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn = Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn/ Tổng dư nợ cho

vay ngắn hạn

→ Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh rõ ràng nhất chất lượng cho vay ngắn

hạn tại ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chửng tỏ chất lượng cho vay ngắn hạn

của ngân hàng càng kém, rủi ro trong hoạt động cho vay càng cao. Nợ quá hạn là

chỉ tiêu mà không một ngân hàng nào muốn có và duy trì. Để đánh giá chất lượng

cho vay ngắn hạn người ta thường dùng chỉ tiêu này, NHTM nào có nhiều khoản nợ



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



18



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



quá hạn này thì sẽ có nguy cơ mất vốn rất cao và NHTM đó sẽ bị đánh giá là có

chất lượng tín dụng thấp.

Quyết định số 493/2005QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN

quuy định về việc phân loại nợ đối với các tổ chức tín dụng thực hiện theo điều 7

quy định các nhóm nợ như sau:

+ Nhóm I ( Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là có khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn.

+ Nhóm II ( Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng

suy giảm khả năng trả nợ.

+ Nhóm III (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín

dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn. Các khoản nợ

này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.

+ Nhóm IV ( Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được các tổ chức tín

dụng cho là có khả năng tổn thất cao.

+ Nhóm V ( Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được các tổ

chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.

Trong đó, các khoản nợ từ nhóm III đến nhóm V được xem là các khoản nợ xấu.

Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu ngắn hạn/ dư nợ tín dụng ngắn hạn

→ Phản ánh những khoản nợ không có khả năng thu hồi vốn (mất vốn)

chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ cho vay ngắn hạn của ngân hàng. Chỉ

tiêu này thấp phản ánh chất lượng cho vay ngắn hạn của ngân hàng cao. Như vậy,

chỉ tiêu này càng thấp càng tốt đối với ngân hàng.

Tỷ lệ sinh lời của tín dụng ngắn hạn =

→ Việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn chỉ thực sự ý nghĩa khi nó

góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng. Chỉ tiêu này cho thấy, thu nhập

từ hoạt động tín dụng ngắn hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập của

ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Ta có thể so sánh thu nhập từ hoạt động



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (63 trang)

×