1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

3 Chất lượng cho vay ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (389.97 KB, 63 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



18



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



quá hạn này thì sẽ có nguy cơ mất vốn rất cao và NHTM đó sẽ bị đánh giá là có

chất lượng tín dụng thấp.

Quyết định số 493/2005QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN

quuy định về việc phân loại nợ đối với các tổ chức tín dụng thực hiện theo điều 7

quy định các nhóm nợ như sau:

+ Nhóm I ( Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là có khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn.

+ Nhóm II ( Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng

suy giảm khả năng trả nợ.

+ Nhóm III (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín

dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn. Các khoản nợ

này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.

+ Nhóm IV ( Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được các tổ chức tín

dụng cho là có khả năng tổn thất cao.

+ Nhóm V ( Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được các tổ

chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.

Trong đó, các khoản nợ từ nhóm III đến nhóm V được xem là các khoản nợ xấu.

Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu ngắn hạn/ dư nợ tín dụng ngắn hạn

→ Phản ánh những khoản nợ không có khả năng thu hồi vốn (mất vốn)

chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ cho vay ngắn hạn của ngân hàng. Chỉ

tiêu này thấp phản ánh chất lượng cho vay ngắn hạn của ngân hàng cao. Như vậy,

chỉ tiêu này càng thấp càng tốt đối với ngân hàng.

Tỷ lệ sinh lời của tín dụng ngắn hạn =

→ Việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn chỉ thực sự ý nghĩa khi nó

góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng. Chỉ tiêu này cho thấy, thu nhập

từ hoạt động tín dụng ngắn hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập của

ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Ta có thể so sánh thu nhập từ hoạt động



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



19



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



tín dụng ngắn hạn của ngân hàng qua các năm không chỉ bằng số tương đối, mà

cũng có thể so sánh bằng số tuyệt đối.

Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn =

→ Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn ngắn hạn nhanh hay chậm,

số vòng quay càng lớn thì tốc độ luân chuyển được đánh giá là tốt. Tỷ lệ này càng

cao chứng tỏ vòng quay của tín dụng ngắn hạn của ngân hàng càng nhanh, điều này

cũng chứng tỏ việc thu hồi nợ nhanh và đúng hạn. Do đó, tỷ lệ này cao cũng chứng

tỏ chất lượng cho vay ngắn hạn của ngân hàng rất tốt. Mặt khác, vòng quay vốn tín

dụng ngắn hạn nhanh chứng tỏ tốc độ luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế nhanh,

ngân hàng đã tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hóa.



 Các chỉ tiêu định tính

Bảo đảm các nguyên tắc cho vay

Các nguyên tắc này được quy định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng

sinh lời đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Các nguyên tắc này được cụ thể

hóa trong các quy định của NHNN và các NHTM.

- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định:

Các khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ của khách hàng và các

khoản ngân hàng vay mượn. Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu doanh nghiệp đi vay

phải thực hiện đúng cam kết này.

- Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận với

ngân hàng, không được trái với quy định của pháp luật và của các ngân hàng cấp

trên. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng bảo đảm cho ngân hàng

không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ đó phải phù hợp với

cương lĩnh của ngân hàng. Khi đi vay vốn kinh doanh ngắn hạn, doanh nghiệp có

thể dùng vốn đó để đầu tư dài hạn vào mục đích khác mang nhiều rủi ro. Do đó,

ngân hàng cần phải có những quy định ràng buộc doanh nghiệp phải dùng vốn vay

đúng mục đích.

- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án sử dụng vốn vay có hiệu quả. Thực

hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện các nguyên tắc thứ nhất. Phương án



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



20



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng thu hồi vốn đầu tư

và có lãi để tài trợ ngân hàng. Các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với

việc hình thành tài sản của người vay.

Bảo đảm quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng được ngân hàng quy định cụ

thể nhằm chuẩn hóa quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với khách

hàng, qua đó giảm thiểu rủi ro trong cho vay. Nội dung của quy trình phân tích tín

dụng bao gồm:

-



Phân tích trước khi cấp tín dụng



-



Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng

+ Độ an toàn, chính xác trong giao dịch là tiêu chuẩn hàng đầu đối với



mọi khách hàng.

+ Thủ tục giao dịch: Một khoản cho vay tốt phải đảm bảo có thủ tục giao

dịch đơn giản, thuận tiện cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo những nguyên tắc an

toàn cần thiết. Ngoài ra, quá trình giải ngân phải được thực hiện nhanh chóng để

đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Trong môi trường đầy cạnh tranh

thì việc đơn giản thủ tục giao dịch là một yếu tố các ngân hàng cần quan tâm để thu

hút khách hàng.

Do chỉ tiêu đánh giá rất khó xác định, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của

người cán bộ tín dụng và người quản lý cũng như các mối quan hệ của họ với khách

hàng, nên thực tế khi nói đến chất lượng cho vay ngắn hạn thường chú ý đến các chỉ

tiêu mang tính định lượng.



 Đứng trên góc độ khách hàng

 Các chỉ tiêu định tính

- Thủ tục cho vay đơn giản hay phức tạp, có rõ ràng hay không?

- Thời gian thẩm định hồ sơ của ngân hàng là dài hay ngắn?

- Thái độ phục vụ của cán bộ, nhân viên ngân hàng như thế nào?

- Tư vấn về cơ hội kinh doanh, tư vấn quản lý tài chính, hỗ trợ tháo gỡ khó

khăn của ngân hàng cho khách hàng như thế nào?



 Các chỉ tiêu định lượng

- Lãi suất cho vay như thế nào?

SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



21



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



- Chi phí phi lãi?

Do vậy, khi sử dụng các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng cho vay ngắn hạn

của ngân hàng cần đứng trên góc độ của cả ngân hàng và khách hàng để có cái nhìn

khách quan, cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa ngân hàng và khách hàng. Để chất

lượng tín dụng ngắn hạn được nâng cao một cách toàn diện hơn.

1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay ngắn hạn

1.3.2.1. Nhân tố môi trường kinh doanh bên ngoài

Nhân tố môi trường vĩ mô



• Môi trường kinh tế

Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng có hiệu quả cao

thì nền kinh tế phải ổn định. Hoạt động tín dụng là hoạt động “Vay để cho vay”.

Khi nền kinh tế phát triển ổn định thì các doanh nghiệp mới hoạt động sản xuất kinh

doanh bình thường, khi đó nhu cầu về vốn tín dụng của doanh nghiệp mới thực sự

là ổn định và an toàn. Mặt khác, ngân hàng cũng có thể huy động được nhiều nguồn

vốn mở rộng hoạt động cho vay, phục vụ cho việc phát triển kinh tế.



• Môi trường pháp luật

Hệ thống pháp luật sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho hoạt động

SXKD tiến triển thuận lợi và đạt hiệu quả. Như vậy, để đảm bảo chất lượng cho vay

ngắn hạn của các ngân hàng thì hệ thống pháp luật về tín dụng nói chung và tín

dụng ngắn hạn nói riêng phải được ban hành đầy đủ và đồng bộ.

Sự thay đổi trong các chủ trương, chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh

hưởng đến các khoản tín dụng. Nhất là về cơ cấu kinh tế, các chính sách xuất nhập

khẩu…Bởi nếu có sự thay đổi đột ngột sẽ gây xáo trộn trong SXKD, tiêu thụ sản

phẩm của doanh nghiệp, hoặc phương án kinh doanh sẽ không còn phù hợp… Nếu

không kịp thời chuyển đổi, doanh nghiệp sẽ không SXKD được và không thể thanh

toán nợ, dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi của ngân hàng tăng lên. Điều này ảnh

hưởng không tốt đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.



• Môi trường chính trị – xã hội



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



22



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



Một xã hội đầy rẫy những bất ổn về chính trị như bạo động, chiến tranh…

đương nhiên sẽ không phải là môi trường thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng lẫn

doanh nghiệp. Theo đó hoạt động cho vay giữa ngân hàng và doanh nghiệp cũng sẽ

bị ảnh hưởng.



• Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng

của ngân hàng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng bởi vì thiên tai là một yếu

tố bất khả kháng, chúng ta không thể dự đoán một cách chắc chắn là khi nào những

thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…sẽ xảy ra và mức độ ảnh

hưởng, thiệt hại của chúng là như thế nào. Thông thường khi thiên tai xảy ra, nó

thường gây thiệt hại rất lớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ, gây ra các biến động

xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng

của mình làm cho vốn của ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp sẽ ít nhiều bị ảnh

hưởng và dẫn tới rủi ro làm giảm chất lượng tín dụng.

Nhân tố môi trường ngành



• Đối thủ cạnh tranh

Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu

tác động bởi rất nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống văn

hóa…mỗi một nhân tố này có sự thay đối dù là nhỏ cũng đều tác động rất nhanh

chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung. Chính vì vậy, trong kinh

doanh các NHTM vừa phải cạnh tranh để từng bước mở rộng khách hàng, mở rộng

thị phần nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, bất chấp pháp luật để thôn

tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là các NHTM khác bị suy yếu dẫn đến sụp

đổ, thì những hậu quả đem lại thường là rất lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính

NHTM này do tác động dây chuyền.



• Khách hàng



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



23



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



Khách hàng là người trực tiếp nhận khoản vay của ngân hàng, do đó trong

các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay ngắn hạn không thể không nhắc đến

yếu tố khách hàng.

-



Năng lực thị trường của khách hàng



Năng lực thị trường của doanh nghiệp cho biết khả năng thích ứng của doanh

nghiệp với thị trường, thể hiện mức độ chấp nhận của thị trường đối với sản phẩm

của doanh nghiệp. Năng lực thị trường của doanh nghiệp càng cao, nhu cầu đầu tư

càng lớn, rủi ro của doanh nghiệp càng nhỏ là nhân tố nâng cao chất lượng cho vay

ngắn hạn.

-



Năng lực tài chính của khách hàng



Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ

trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Quy mô và tỷ trọng vốn tự

có càng cao, cho thấy năng lực tài chính càng mạnh. Điều kiện tín dụng ngắn hạn

thường quy định một tỷ lệ cụ thể. Do vậy, năng lực tài chính của doanh nghiệp càng

cao, khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng càng lớn, càng góp phần vào việc

nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn.

-



Năng lực quản lý của khách hàng



Sự thành bại trong kinh doanh phụ thuộc vào năng lực quản lý của các nhà

lãnh đạo trong doanh nghiệp. Một doanh nghiệp được quản lý tốt thì sẽ kinh doanh

có hiệu quả và ngược lại. Vì thế, khi đưa ra quyết định cho vay, cán bộ tín dụng

phải xem xét đến năng lực quản lý của doanh nghiệp.

1.3.2.2. Nhân tố môi trường bên trong



• Chính sách tín dụng ngắn hạn

Không những chỉ có ngành ngân hàng mà tất cả các ngành , các lĩnh vực

muốn hoạt động hiệu quả để tồn tại và phát triển đều cần phải có một chiến lược

phù hợp với tình hình thực tế. Do vậy, có thể thấy chính sách tín dụng ngắn hạn có

ảnh hưởng tới chất lượng cho vay ngắn hạn của ngân hàng.

Chất lượng cho vay ngắn hạn tốt hay xấu là tùy thuộc vào chính sách tín

dụng được ban lãnh đạo ngân hàng xây dựng, ban hành có đúng đắn hay không.



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



24



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



Nếu chính sách tín dụng ngắn hạn được hoạch định phù hợp với thực tế sẽ thu hút

được nhiều khách hàng, đảm bảo được khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng,

phân tán rủi ro. Cũng vì lẽ đó nên khi hoạch định chính sách tín dụng ngắn hạn, ban

lãnh đạo của các NTHM luôn coi trọng việc đảm bảo an toàn như là một mục tiêu

mà chính sách đó phải đạt được.



• Quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng là những quy định cần phải thực hiện trong quá trình cho

vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn cho vốn tín dụng. Nó được bắt đầu kể từ khi

chuẩn bị cho vay, giải ngân, kiểm tra quá trình cho vay và kết thúc là giai đoạn thu

hồi khoản vay. Chất lượng tín dụng tốt hay không là phụ thuộc vào sự phối hợp

nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các bước trong quy trình tín dụng.

Chất lượng cho vay ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào công tác thẩm định tín

dụng trong quy trình tín dụng. Nếu công tác thẩm định đưa ra những kết luận sai

lầm như đồng ý cấp tín dụng cho những khách hàng không có khả năng hoàn trả lại

hoặc có ý định lừa đảo ngân hàng, hay là những quyết định không đồng ý cấp tín

dụng cho những khách hàng có phương án làm ăn hiệu quả. Như vậy, chắc chắn các

khoản tín dụng cấp cho khách hàng là không hiệu quả.

Sau quá trình giải ngân cho khách hàng, các NHTM đều liên tục kiểm tra,

giám sát tình hình của số tiền đã cấp được sử dụng như thế nào. Nếu việc giám sát

tốt sẽ giúp ngân hàng có những điều chỉnh và can thiệp cần thiết.



• Kiểm soát nội bộ

Kiểm soát nội bộ là một trong những nghiệp vụ giúp cho ngân hàng nâng cao

chất lượng tín dụng. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp cho ban lãnh đạo ngân hàng

có được nhanh chóng mọi thông tin về tình trạng kinh doanh. Như vậy, ngân hàng

có thể kịp thời phát hiện ra những sai phạm, sai sót liên quan đến nghiệp vụ tín

dụng ngắn hạn để khắc phục, sửa chữa.



• Chất lượng cán bộ công nhân viên



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Khóa luận tốt nghiệp



25



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý tín dụng nói

riêng cũng như trong hoạt động của ngân hàng nói chung. Việc tuyển chọn nhân viên có

đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề, giỏi chuyên môn,

am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư

vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng, có năng

lực phân tích và xử lý dự án xin vay, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền cho vay

ngay từ khi cho vay đến khi thu hồi được nợ hoặc xử lý xong món nợ theo quy định của

ngân hàng… sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy

ra khi thực hiện chu kỳ của một khoản tín dụng. Nếu những cán bộ không được đào tạo

đầy đủ, không am hiểu về ngành kinh doanh mà mình đang tài trợ, trong khi ngân hàng

không có đủ các số liệu thống kê, các chỉ tiêu để phân tích, so sánh, đánh giá vai trò vị trí

của doanh nghiệp trong ngành, khả năng thị trường hiện tại… dẫn đến việc xác định sai

hiệu quả của dự án xin vay làm tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng.



• Thông tin tín dụng

Những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp ích rất nhiều cho ngân hàng

trong những công việc có liên quan đến việc cho vay, theo dõi và quản lý tiền vay.

Thông tin càng chính xác, kịp thời, đầy đủ và toàn diện thì công tác tín dụng của ngân

hàng càng được thực hiện tốt và các rủi ro sẽ được hạn chế ở mức thấp nhất có thể, chất

lượng tín dụng ngắn hạn được nâng cao hơn. Tuy nhiên nến thiếu thông tin tín dụng

hoặc thông tin tín dụng không chính xác, kịp thời, chưa có danh sách phân loại doanh

nghiệp, chưa có sự phân tích đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan, đúng đắn sẽ

dẫn đến rủi ro tín dụng cao làm giảm chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng.

Như vậy, nhờ việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay

ngắn hạn ta có thể thấy: Tùy vào từng điều kiện cụ thể mà các nhân tố trên có

những ảnh hưởng khác nhau tới chất lượng cho vay ngắn hạn. Do đó, việc nâng cao

chất lượng cho vay nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng là phải giải quyết đồng

bộ các nhân tố trên. Tuy nhiên, tùy vào tình hình mà ta có thể nhấn mạnh hơn vào

nhân tố nào đó.



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



26



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI

HDBANK – CHI NHÁNH HOÀN KIẾM

2.1 Giới thiệu khái quát về HDBank – Chi nhánh Hoàn Kiếm

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của HDBank – Chi nhánh Hoàn

Kiếm

Tên ngân hàng: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố Hồ Chí

Minh Chi nhánh Hoàn Kiếm

Tên viết tắt: HDBank - Hoàn Kiếm

Tên giao dịch quốc tế: Ho Chi Minh City Development Joint Stock

Commercial Bank

Địa chỉ: Số 14 -16 Hàm Long, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam.

Điện Thoại: (04) 39 446 633. Fax: (04) 39 446 611

Chi nhánh HDBank-Hoàn Kiếm được thành lập và chính thức đi vào hoạt

động ngày 31/07/2007. Trụ sở được đặt tại địa chỉ 14 – 16 Hàm Long, quận Hoàn

Kiếm, thành phố Hà Nội. Sau hơn 5 năm đi vào hoạt động với nỗ lực hết mình của

tập thể cán bộ công nhân viên Chi nhánh cũng như các chính sách đúng đắn của các

cấp lãnh đạo, Chi nhánh đã và đang có những bước phát triển vững chắc và mạnh

mẽ, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng không ngừng của toàn hệ thống.



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



27



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên



2.1.2. Cơ cấu tổ chức

Biểu đồ 2.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức HDBank – Chi nhánh Hoàn Kiếm

Giám đốc



Phó Giám Đốc



Phó Giám Đốc



Bộ phận tác nghiệp

Phòng quan hệ khách hàng



Phòng QHKH cá nhân



Phòng quản lý kho quỹ tổ chức hành chính

Phòng



Phòng hỗ trợ tín dụng kế toán ngân quỹ

Phòng



(Nguồn: Phòng hành chính Chi nhánh HDBank Hoàn Kiếm)

Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban

 Bộ phận quan hệ khách hàng (Gồm 2 phòng khách hàng cá nhân và khách

hàng doanh nghiệp): Thực DN tiếp thị, hỗ trợ, chăm sóc và tư vấn khách hàng về

Phòng QHKH hiện

Phòng thanh toán quốc tế

các sản phẩm dịch vụ của HDBank. Thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn dưới

nhiều hình thức của cá nhân và các tổ chức kinh tế.

 Bộ phận tác nghiệp:

- Phòng hỗ trợ tín dụng : Thực hiện tạo tiền vay, theo dõi các vấn đề liên

quan đến tài khoản vay trên hệ thống đối với khách hàng theo các quy định, quy

trình của của NHNN và HDBank. Thực hiện trích lập dự phòng rủi ro trên cơ sở

phân loại nợ của phòng quan hệ khách hàng.

- Phòng thanh toán quốc tế : Trực tiếp thực hiện các tác nghiệp liên quan

đến giao dịch tài trợ thương mại với khách hàng. Phối hợp công tác với phòng quan



SV: Nguyễn Thị Thúy Điệp



Lớp: K45H6



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (63 trang)

×