1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Chương I: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (381.15 KB, 61 trang )


Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ngay

cả trong quan hệ tài chính tùy theo bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung

riêng. Trong quan hệ tài chính tín dụng có thể hiểu theo nghĩa sau:

-



Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ

thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ



-



người cho vay sang người đi vay.

Trong quan hệ tài chính cụ thể tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có



-



hoàn trả giữa hai chủ thể.

Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay và các định chế tài chính cung cấp

cho khách hàng.



Nói tóm lại trên cở sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được

hiểu như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay trong

đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định

theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả về điều kiện vốn gốc và lãi cho bên

cho vay khi đến hạn thanh toán.

1.1.2



Khái niệm tín dụng ngắn hạn



Tín dụng ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống và được sử dụng

chủ yếu để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước,

doanh nghiệp, hộ sản xuất.

Như vậy, thứ nhất, nếu trong thời gian ngắn thì biến động kinh tế, thị trường, chính

sách… xảy ra sẽ ít hơn so với thời gian dài, do đó khi cung cấp tín dụng ngắn hạn ngân

hàng có thể dự kiến, kiểm sóat khoản cho vay của mình dễ dàng hơn so với việc dự kiến

và kiểm sóat tín dụng trung và dài hạn.

Thứ hai, quy mô tín dụng ngắn hạn thường nhỏ hơn so với tín dụng trung và dài hạn nên

thời gian ngân hàng thu hồi vốn về sẽ nhanh hơn, vốn có thể quay vòng nhiều hơn. Và giả

sử có xảy ra tổn thất thì ngân hàng cũng chịu ít tổn thất hơn tín dụng trung và dài hạn do

quy mô của tín dụng ngắn hạn thường nhỏ hơn quy mô của tín dụng trung và dài hạn.



9



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

Thứ ba, thường thì cả tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn đều phải có tài sản đảm bảo,

trong thời gian ngắn thì việc quản lý tài sản đảm bảo sẽ dễ dàng hơn, trong thời gian dài

do sự biến động của giá cả thị trường và hao mòn tài sản

Thứ tư, do mức độ rủi ro của các khoản vay ngắn hạn thường không cao nên lãi suất của

nó thường thấp hơn so với lãi suất cho vay trung và dài hạn

Thứ năm, hình thức tín dụng phong phú: để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng của khách

hàng, để góp phần phân tán rủi ro, đồng thời tăng sức cạnh tranh trên thị trường tín dụng,

các ngân hàng thương mại không ngừng phát triển các hình thức cho vay trong nghiệp vụ

tín dụng ngắn hạn của mình. Điều đó làm cho các hình thức tín dụng ngắn hạn rất phong

phú như: nghiệp vụ ứng trước, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu…

Tóm lại, tín dụng ngắn hạn sẽ ít rủi ro hơn và an toàn hơn so với tín dụng trung và dài

hạn. Nếu xét về tổng thể thì tín dụng ngắn hạn là một loại tài sản đem lại cho ngân hàng

một khoản lợi nhuận rất lớn.

1.1.3



Phân loại tín dụng ngắn hạn



Để phục vụ quản lý các khoản vay ngắn hạn, Ngân hàng thường phân loại tín dụng theo

các tiêu chí khác nhau, như theo phương thức cho vay, theo mục đích sử dụng vốn, theo

tài sản đảm bảo… Tuy nhiên theo phương thức cho vay vẫn là phổ biến nhất.

1.1.3.1 Cho vay thấu chi



Thấu chi là nghiệp vụ cho vay, qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên

số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian

xác định. Thời hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Hình thức này chỉ sử dụng đối với

các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.

1.1.3.2 Cho vay trực tiếp từng lần



Đây là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng

không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi.

Vốn vay chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.



10



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

Trong nghiệp vụ này thông thường chỉ có một kỳ hạn trả nợ vào cuối thời hạn cho vay và

lãi vay được tính theo phương pháp lãi đơn.

1.1.3.3 Cho vay theo hạn mức



Đây là hình thức cho vay theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín

dụng. Hạn mức này có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, là số dư tối đa tại thời điểm chính.

Hình thức này phù hợp với những khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, theo đó

Ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng. Tuy nhiên do các lần

vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm sóat hiệu quả sử

dụng vốn từng lần vay.

1.1.3.4 Cho vay luân chuyển



Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa. Khi mua hàng, doanh nghiệp

có thể bị thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp

thu được tiền bán hàng. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức

vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Thường được

áp dụng đối với các doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu

thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.

1.1.4



-



Đặc điểm tín dụng ngắn hạn

Do nguồn vốn tín dụng ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu, mua nguyên

vật liệu, trả lương, bổ sung vốn lưu động nên số vốn vay thường nhỏ, nguồn vốn

được qua vòng nhiều. Trong khi đó đối tượng sử dụng vốn từ nguồn trung và dài

hạn thường là những tài sản cố định có thời gian sử dụng lâu dài. Vì vậy thời gian

sử dụng vốn lâu, nguồn vốn không được quay vòng nhiều.



-



Thời hạn thu hồi vốn nhanh



Do vốn tín dụng ngắn hạn thường được sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn

hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu

chi trong ngắn hạn… Thông thường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mùa



11



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

vụ, sau đó sẽ được bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại dưới hình thái tiền tệ, vì vậy thời gian thu

hồi vốn sẽ nhanh.

-



Rủi ro tín dụng ngắn hạn mang lại thường không cao.



Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn nên ít chịu ảnh hưởng của sự biến động

không thể lường trước của nền kinh tế như các khoản tín dụng trung và dài hạn. Ngoài ra,

các khoản vay được cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết

khấu các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản đảm bảo, bảo lãnh… đồng thời khoản vay thường

được tiến hành khi có nhu cầu cần thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn sẽ có khoản thu bù

đắp trong tương lai. Vì vậy rủi ro mang đến thường thấp.

-



Lãi suất thấp



Lãi suất cho vay được hiểu là khoản chi phí khách hàng vay phải trả cho nhu cầu sử dụng

tiền tạm thời của Ngân hàng. Do rủi ro mang lại của khoản vay ngắn hạn thường không

cao do đó lãi suất khoản vay ngắn hạn thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản vay ngắn hạn

thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản vay trung và dài hạn tương ứng.

-



Hình thức phong phú



Gồm có cho vay thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân

chuyển.

-



Là loại hình kinh doanh chủ yếu tại các Ngân hàng thương mại. Xuất phát từ đặc

trưng của Ngân hàng thương mại là Ngân hàng kinh doanh tiền gửi, trong đó chủ

yếu là tiền gửi ngắn hạn nên để đảm bảo khả năng thanh khoản của mình, các

Ngân hàng thương mại cho vay chủ yếu là ngắn hạn.



1.1.5



Vai trò của tín dụng ngắn hạn trong họat động NHTM



Tín dụng ngắn hạn có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Đây là nguồn

vốn lớn của nền kinh tế, góp phần ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất đối với doanh

nghiệp, nâng cao đời sống của các cá nhân, là cơ sở cho một nền kinh tế ổn định và phát

triển.



12



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

1.1.5.1



Đối với nền kinh tế.



Là một trung gian tài chính, Ngân hàng thương mại là nơi tập trung, tích tụ vốn và phân

bổ đầu tư có hiệu quả trong nền kinh tế. Cho vay là một họat động mang tính chất đầu tư

cho nền kinh tế của Ngân hàng thương mại. Trong khi thị trường chứng khoán, các tổ

chức tài chính trung gian phi Ngân hàng như công ty bảo hiểm, công ty tài chính, các quỹ

đầu tư… là chủ đạo trong việc đưa vốn trung và dài hạn vào nền kinh tế, thì kênh dẫn vốn

ngắn hạn lại phần lớn thuộc về vai trò của Ngân hàng thương mại. Thị trường tiền tệ với

trung gian tài chính là các Ngân hàng thương mại luôn luôn là nơi cung cấp nguồn vốn rất

lớn cho nền kinh tế.

1.1.5.2



Đối với doanh nghiệp



Tín dụng ngắn hạn là nguồn bổ sung kịp thời cho các nhu cầu về vốn ngắn hạn của doanh

nghiệp. Nguồn vốn này giúp các doanh nghiệp tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh

hoặc giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn tạm thời về chi phí tài chính. Trong nhiều

trường hợp, vay vốn Ngân hàng còn là giải pháp tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, tạo

điều kiện cho doanh nghiệp bắt kịp các cơ hội kinh doanh, tận dụng được thời cơ phát

triển sản xuất. Tín dụng ngắn hạn là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp. Các điều kiện cho vay ngắn hạn tạo áp lực buộc doanh nghiệp kinh doanh có hiệu

quả. Tín dụng ngắn hạn giúp các doanh nghiệp tăng cường quản lý và sử dụng vốn kinh

doanh hợp lý.

1.1.5.3



Đối với Ngân hàng



Họat động tín dụng nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng là nguồn thu chủ yếu từ họat

động kinh doanh của Ngân hàng. Cho vay ngắn hạn luôn là một khoản mục chủ đạo, tạo

ra nguồn thu chủ yếu để bù đắp các chi phí. Mặt khác, cho vay ngắn hạn còn là yếu tố

quan trọng để đảm bảo khả năng thanh khoản của Ngân hàng.

1.1.6



Khái niệm chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.



Trong hoạt động Ngân hàng thương mại, tín dụng là một nghiệp vụ mang lại phần lớn lợi

nhuận nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro có khả năng xảy ra với tỷ lệ cao. Tình trạng



13



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

nợ quá hạn cao đồng nghĩa với việc Ngân hàng không thu được khoản vay và lãi, do đó

kinh doanh không có lợi nhuận, thậm chí là mất vốn. Điều này khiến nhiều Ngân hàng có

phản ứng co cụm, không cho vay nữa, dẫn đến nền kinh tế trì trệ suy thoái. Đảm bảo chất

lượng tín dụng đem lại lợi ích cho các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp của

ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Như vậy, chất lượng tín dụng Ngân

hàng là một khái niệm hoàn toàn tương đối, nó vừa cụ thể vừa trừu tượng. Chất lượng tín

dụng còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan.

Chất lượng tín dụng: Là sự đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng phù hợp với sự phát

triển kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, hay chất lượng tín

dụng là kết quả tổng hợp của những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển

ổn định, vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM

với sự thay đổi của môi trường bên ngoài và thể hiện sức mạnh của một NHTM trong quá

trình cạnh tranh để tồn tại. Chất lượng tín dụng không phải cái tự nhiên có mà nó là kết

quả của một quy trình kết hợp giữa con người với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau vì

một mục đích chung, do đó chất lượng tín dụng cần có sự quản lý. Quản lý chất lượng nói

chung về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật được sử dụng nhằm đạt được và duy trì

chất lượng của một loại sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ, nó bao gồm theo dõi, tìm hiểu

và loại trừ những nguyên nhân những trục trặc trong việc cấp tín dụng để các yêu cầu của

khách hàng liên tục được đáp ứng. Để có chất lượng tín dụng cao, cần phải có sự quản ký

chất lượng đồng bộ. Đây là một cách quản lý mới không chỉ đảm bảo chất lượng tín dụng

mà còn cải tiến tính hiệu quả và linh hoạt của toàn bộ ngân hàng nhằm ngày càng thoả

mãn đầy đủ yêu cầu của khách hàng trong mọi công đoạn. Để làm được điều này cán bộ

NHTM cần phải hiểu và thực hiện tốt quy trình quản lý chất lượng tín dụng.

Như vậy chất lượng tín dụng là một khái niệm tương đối rộng. Để có chất lượng tín dụng

thì trong hoạt động tín dụng phải thực hiện có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được

thiết lập trên cơ sở sự tin cậy và uy tín. Cụ thể hơn, chất lượng tín dụng là kết quả đạt

được với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín dụng. Nhờ hiểu đúng được bản chất

của chất lượng tín dụng sẽ giúp các ngân hàng thương mại phân tích, đánh giá đúng được



14



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

hiệu quả tín dụng ở hiện tại cũng như xác định được chính xác nguyên nhân của những

tồn tại mà có thể đưa ra những biện pháp quản lý hữu hiệu để có thể đứng vững trên thị

trường cạnh tranh.

1.2

1.2.1



Nội dung lý thuyết liên quan tới tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại.

Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương

mại.



Sự cần thiết phải nghiên cứu chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại

xuất phát từ các vai trò của tín dụng ngắn hạn trong Ngân hàng đến các chủ thể trong nền

kinh tế và chính bản thân Ngân hàng thương mại đó.





Việc nâng cao chất lượng tín dụng là sự cần thiết đối với nền kinh tế.



Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng ngày càng đóng

một vai trò quan trọng. Do đó, việc nâng chất lượng tín dụng có ý nghĩa vô cùng quan

trọng đối với nền kinh tế và được thể hiện ở những mặt sau:

-



Nâng cao chất lượng tín dụng là một bước quan trọng trong việc lành mạnh hóa hệ



-



thống tài chính, từ đó giúp hệ thống tài chính hoạt động có hiệu quả hơn.

Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ giúp hoạt động tín dụng ngân hàng được mở rộng, từ

đó làm tăng tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản



-



xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.

Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ khiến nguồn vốn ngân hàng được chuyển vào kinh



-



doanh, từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.

Nâng cao chất lượng tín dụng làm hoạt động tín dụng trở nên an toàn hơn, để phát

triển công nghệ ngân hàng và làm tăng lượng tiền cung ứngcho nền kinh tế.

• Việc nâng cao chất lượng tín dụng là sự cần thiết đối với ngân hàng:



Nâng cao chất lượng tín dụng có ý nghĩa quan trọng quyết định tới sự tồn tại và phát triển

của NHTM cũng như nền kinh tế vì:

-



Tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho NHTM, nâng cao chất lượng tín



-



dụng giúp hạn chế những tổn thất làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng.

Khi chất lượng tín dụng được nâng cao, tỉ lệ nợ xấu, nợ khó đòi sẽ giảm. Do vậy,

NHTM sẽ bảo toàn được nguồn vốn của mình. Từ đó làm cơ sở cho sự mở rộng về

quy mô của NHTM.



15



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

-



Nâng cao chất lượng tín dụng làm tăng khả năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng như:



-



dịch vụ thẻ tín dụng, dịch vụ thanh toán, .. làm gia tăng lợi nhuận.

Khi chất lượng tín dụng được nâng cao, rút ngắn thời gian giải quyết làm gia tăng

vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng, tiết kiệm chi phí quản lý trong kinh doanh từ

đó nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM.

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại.



1.2.2



Một số chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng

1.2.2.1



. Các chỉ tiêu định lượng:



Các chỉ tiêu định lượng là các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng

thông qua các con số từ hoạt động kinh doanh từ đó phân tích tổng hợp và rút ra mức đạt

chung cho từng chỉ tiêu. Nhóm chỉ tiêu định lượng bao gồm các chỉ tiêu sau



-



Chỉ tiêu doanh số cho vay ngắn hạn



Doanh số cho vay ngắn hạn phản ánh quy mô cấp tín dụng của NHTM cho nền kinh tế

trong một thời kỳ nhất định. Thông qua doanh số cho vay ngắn hạn, ta có thể thấy được

khả năng hoạt động tín dụng của ngân hàng qua các năm và thấy được uy tín của ngân

hàng đối với khách hàng.

-



Tốc độ tăng trưởng tín dụng ngắn hạn

Tốc độ tăng trưởng tín dụng ngắn hạn =



Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tăng trưởng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng, nó cũng thể

hiện chất lượng tín dụng ngắn hạn trong năm.

-



Tỷ trọng huy động vốn ngắn hạn

Tỷ trọng huy động vốn ngắn hạn =



Chỉ tiêu này cho biết khả năng huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng

cao thì ngân hàng càng có cơ hội mở rộng đầu tư cho vay ngắn hạn. Tuy nhiên, huy động

càng nhiều thì chi phí phải trả càng nhiều, ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Điều

này buộc ngân hàng phải tính tóan sau cho hợp lý giữa huy động vốn và nhu cầu cho vay.

-



Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn



16



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn =

Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh rõ ràng nhất chất lượng tín dụng ngắn hạn tại ngân

hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao càng chứng tỏ chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân

hàng càng kém, rủi ro trong họat động tín dụng cao. Nợ quá hạn là chỉ tiêu mà không một

ngân hàng nào muốn có và duy trì. Để đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn, người ta

thường dùng chỉ tiêu này, NHTM nào có nhiều khoản nợ quá hạn thì sẽ có nguy cơ mất

vốn cao và sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp

Việc phân loại nợ được tiến hành theo các văn bản quy phạm pháp luật của Thống đốc

NHNN, quyết định số 493/2005QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 và quyết định

18/2007/QĐ-NHNN về việc phân loại nợ như sau





Nợ nhóm I (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh







giá là có khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn.

Nợ nhóm II (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh

giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy







giảm khả năng trả nợ

Nợ nhóm III (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn. Các khoản nợ này







được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.

Nợ nhóm IV (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được các tổ chức tín dụng cho







là có khả năng tổn thất cao

Nợ nhóm V (Nợ có khả năng mất vốn): Các khoản nợ được các tổ chức tín dụng

đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn



Trong đó, các khoản nợ từ nhóm III đến nhóm V được xem là các khoản nợ xấu.

-



Tỷ lệ mất vốn ngắn hạn

Tỷ lệ mất vốn =



Chỉ tiêu này phản ánh những khoản nợ không có khả năng thu hồi vốn (mất vốn) chiếm

bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng thấp

phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao.

-



Tỷ lệ sinh lời của tín dụng ngắn hạn

Tỷ lệ sinh lời =



Việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng

cao khả năng sinh lời của Ngân hàng. Chỉ tiêu này cho thấy, thu nhập từ họat động tín

dụng ngắn hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập của ngân hàng. Ta có thể



17



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

so sánh thu nhập từ họat động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng qua các năm không chỉ

bằng số tương đối mà cũng có thể so sánh bằng số tuyệt đối.

-



Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu =



Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng. Nó được tính

theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi

ro của ngân hàng. Tỷ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi

ro của ngân hàng và tăng tính ốn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu.

Bằng tỷ lệ này người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các

khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận

hành. Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ này tức là nó đã tự tạo ra một

tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình đồng thời bảo vệ những

người gửi tiền. Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngân hàng các nước luôn xác định rõ

và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Ở Việt Nam, tỷ lệ

này là 9% theo thông tư 13.

1.2.2.2



Các chỉ tiêu định tính



Bên cạnh các chỉ tiêu định lượng thì các chỉ tiêu định tính cũng tác động không nhỏ tới

chất lượng tín dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu định tính phản ánh chất lượng tín dụng của

ngân hàng thể hiện qua: Thái độ phục vụ khách hàng, chính sách lãi suất, thời gian, thủ

tục vay vốn…





Trên cơ sở pháp lý, họat động tín dụng có chất lượng phải chấp hành pháp luật

Nhà nước, luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, văn bản chỉ đạo của







Chính Phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Trên cơ sở quy chế cho vay của NHTM, họat động cho vay có chất lượng luôn

phải đảm bảo quy chế và quy trình nghiệp vụ tín dụng. Các quy định trong quy

trình nghiệp vụ tín dụng được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp xin vay ở mỗi

ngân hàng thương mại là nhằm thực hiện cho vay có chất lượng. Cho nên việc







tuân thủ quy trình này là tiền đề của chất lượng tín dụng.

Trên cơ sở hợp đồng tín dụng, họat động tín dụng có chất lượng khi nó mang lại

khoản vay có chất lượng. Khoản vay có chất lượng là khoản vay thực hiện đúng



18



Khóa luận tốt nghiệp



Đề tài: Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại

thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

theo cam kết hợp đồng. Đó là các cam kết về mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn





vay, phương thức trả nợ và lãi, các cam kết ràng buộc khác.

Thái độ phục vụ đối với khách hàng:



Thái độ phục vụ là yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng. Với thái độ niềm nở tận tình

chu đáo và sự nghiêm túc của nhân viên trong ngân hàng sẽ tạo được ấn tượng tốt đối với

khách hàng và tăng thêm uy tín của ngân hàng





Chính sách lãi suất tín dụng ngắn hạn



Khách hàng khi đến với ngân hàng luôn mong muốn nhận được một mức lãi suất cho vay

hợp lý. Do vậy, việc đưa ra mức lãi suất tín dụng ngắn hạn nhằm đảm bảo lợi ích cho cả

ngân hàng và khách hàng là một công việc rất quan trọng. Ngoài ra trong điều kiện lãi

suất trên thị trường có những biến động phức tạp sẽ dẫn đến những rủi ro cho cả ngân

hàng và khách hàng. Lãi suất biến động sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong kinh

doanh, hiệu quả giảm và thực hiện trả nợ không đúng cam kết. Đối với ngân hàng khi lãi

suất thị trường tăng nhanh sẽ ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn. Do vây, ngân hàng

cần phải tính toán cẩn thận kỳ hạn của các khoản vay nhằm hạn chế rủi ro do sự biến

động lãi suất.





Thời gian và thủ tục vay vốn



Các ngân hàng có thể thu hút khách hàng thông qua việc rút ngắn thời gian và thủ tục cho

vay. Các khách hàng khi đi vay vốn đều mong muốn được giải quyết trong thời gian ngắn

nhất.

1.3



Các nhân tố ảnh hưởng tới tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại



Chất lượng tín dụng ngắn hạn theo đúng nghĩa của nó chính là vốn vay ngắn hạn của

Ngân hàng được khách hàng sử dụng vào quá trình SXKD dịch vụ. Trong quá trình luân

chuyển vốn ngân hàng nhận được vốn và một phần lợi nhuận từ vốn còn khách hàng thì

đạt hiệu qủa trong kinh doanh. Như vậy, có thể nói nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín

dụng ngắn hạn phải được đảm bảo từ hai phía bên trong và bên ngoài. Và trong hoạt động

kinh doanh thì ngân hàng cũng như khách hàng luôn phải chịu tác động trực tiếp của rất

nhiều nhân tố cả trực tiếp lẫn gián tiếp mà chỉ một trong số đó có thể ảnh hưởng không

nhỏ đến chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng.



19



Khóa luận tốt nghiệp



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (61 trang)

×