1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (441.15 KB, 53 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



4



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



QTRRTD là hoạt động trong đó những nghĩa vụ, biện pháp, phương pháp quản trị có

quan hệ lẫn nhau được thực hiện nhằm đảm bảo rủi ro tín dụng trong phạm vi ngân hàng

có thể chấp nhận được.

1.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.2.1 Vai trò quản trị rủi ro tín dụng

- Nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro và giảm thiệt hại cho ngân hàng

- Tạo sự an toàn và ổn định trong hoạt động kinh doanh

- Nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hang

1.2.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng

i. Nhận dạng rủi ro tín dụng

Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục, có hệ thống nhằm theo dõi, xem xét,

nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng RRTD, xác

định nguyên nhân gây ra rủi ro trong từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân

tiềm ẩn có thể gây ra RRTD.

Phương pháp: để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các

dạng rủi ro đã, đang và sé có thể xuất hiện bằng các phương pháp: lập bảng câu hỏi ngiên

cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, quan tâm tới các hồ sơ có vấn đề,

phương pháp nhận biết các đâu hiệu cảnh báo khoản cấp tín dụng có vấn đề. Kết quả

phân tích để thấy được những dấu hiệu, biểu hiện, nguyên nhân RRTD, từ đó nhằm tìm

ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro.

Dấu hiệu nhận biết khoản tín dụng có vấn đề:

- Trả nợ vay không đúng kì hạn hoặc xin gia hạn nợ.

- Có dấu hiệu đảo nợ.

- Chấp nhận lãi suất tín dụng cao hơn mức trung bình và tỉ suất sinh lời có tính

phần bù rủi ro.

- Hệ số đòn bẩy tài chính tăng đột ngột khi tỉ suất sinh lời không tăng.

- Chất lượng đảm bảo tín dụng thấp.

- Vốn chủ sở hữu thay đổi do đánh giá lại tài sản của khách hàng nhằm tăng hạn

mức tín dụng.



ii. Đo lường rủi ro tín dụng



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



5



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



(1) Đo lường RRTD là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi



ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối

với một khách hàng cũng như được trích lập dự phòng rủi ro. Hoạt động lượng hóa

RRTD được thực hiện dưới giác độ tác nghiệp thông qua phân tích tín dụng sử dụng công

cụ mô hình và chấm điểm tín dụng để đánh giá RRTD khi ra quyết định tín dụng tài trợ

của NHTM.

Phương pháp: sử dụng mô hình để đánh giá rủi ro

 Mô hình định tính( mô hình chất lượng 6C: Character- Capacity-Cashflow –

Collateral - Conditions- Control)

 Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng:

- Mô hình điểm số Z( của Edward I Altman- Mỹ)

Đây là mô hình dùng để cho điểm tín dụng đối với các khách hàng là doanh nghiệp.

Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người đi vay và phụ

thuộc vào:

+Trị số của các chỉ số tài chính.

+Tầm quan trọng của các chỉ số đó trong xác định xác suất vỡ nợ của người vay

trong quá khứ.

Z = 1,2X1 +1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó: X1 là hệ số vốn lưu động/ tổng tài sản

X2 là hệ số lãi chưa phân phối/ tổng tài sản

X3 là hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/ tổng tài sản

X4 là hệ số giá tị thị trườn của tổng vốn sở hữu/ giá trị hạch toán của nợ

X5 là hệ số doanh thu/ tổng tài sản

Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy, khi trị số Z

thấp hoặc âm sẽ là căn cứ để xếp hạng khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.

Z < 1,8



Khách hàng có khả năng rủi ro cao.



1,8 < Z < 3 Không xác định được.

Z >3



Khách hàng không có khả năng vỡ nợ.



Bất kỳ công ty nào có điểm số Z < 1,81 phải được xếp vào nhóm nguy cơ RRTD cao.

Ưu điểm của phương pháp này là kỹ thuật đo lường đơn giản. Nhưng lại có nhược

điểm là mô hình chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro và không có rủi

ro. Trong thực tế, mức độ rủi ro tiềm năng của khách hàng khác nhau từ mức thấp nhất



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



6



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



như chậm trả lãi, không trả được lãi cho đến mức không trả được cả gốc và lãi. Mặt khác,

các chỉ số trong mô hình có thể thay đổi khi các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện

thị trường thay đổi do đó rất khó lượng hóa một cách chính xác. Ngoài ra, mô hình không

tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh

hưởng đến khoản vay như: danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ giữa ngân hàng và

khách hàng,…

- Mô hình chấm điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

Là phương pháp lượng hóa RRTD trên cơ sở cho điểm theo chỉ tiêu phản ánh chất

lượng tín dụng.Nội dung công tác chấm điểm tín dụng:

b1: Thu thập thông tin.

b2: Xác định ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

b3: Xác định quy mô của doanh nghiệp: vốn, lao động, doanh thu thuần, giá trị nộp

ngân sách cho nhà nước.

b4: Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính:

+ Nhóm chỉ tiêu hoạt động

+ Nhóm chỉ tiêu cân nợ

+ Nhóm chỉ tiêu thu nhập

+ Chấm điểm các chỉ tiêu khác: lưu chuyển tiền tệ, tình hình giao dịch, các yếu

tố bên ngoài.

Nội dung chấm điểm tín dụng tiêu dùng thường dựa vào: hệ số tín dụng, tuổi đời,

trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số tài

khoản cá nhân, thời gian công tác,…

- Phương pháp IRB( Internal Rating Based)

Là phương pháp đánh giá rủi ro theo khoản vay ước tính tổn thất tín dụng dựa trên

hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ áp dụng theo Hiệp định tiêu chuẩn vốn quốc tế

Basell II. Việc ước tính tổn thất phụ thuộc vào 3 yếu tố chính là xác xuất không trả nợ

khách hàng( PD), tỷ trọng tổn thất ước tính( LGD) và tổng dư nợ của khách hàng tại thời

điểm khách hàng không trả được nợ( EAD). Từ đó ước tính tổn thất ( EL) như sau:

EL = PD x EAD x LGD

Theo công thức, nếu mỗi món vay được xem là một phép thử, nếu có số liệu thống

kê rủi ro đầy đủ, xác suất bị rủi ro của từng loại tài sản của ngân hàng có thể xác định

SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



7



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



một cách tương đối chính xác trong từng thời kỳ, từng loại hình tín dụng, từng lĩnh vực

đầu tư … Điều này có ý nghĩa quan trọng như sau:

+Trên cơ sở xác suất rủi ro đã tính toán, ngân hàng có thể xây dựng cơ cấu lãi suất

cho phù hợp đảm bảo kinh doanh có lãi.

+Dựa vào xác suất rủi ro của từng loại tài sản có, người ta xây dựng các hệ số rủi ro

của từng loại tài sản làn cơ sở tính hệ số an toàn vốn của ngân hàng hoặc làm cơ sở để

tính phí bảo hiểm cho từng loại tài sản.

Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như là Mô hình điểm số tín dụng

tiêu dùng, Mô hình xác định giá trị rủi ro tới hạn- Value at Risk (VaR),…

(2) Phân loại nợ

Theo QĐ 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà

nước, TCTD thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm như sau:

* Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn

* Nhóm 2: Nợ cần chú ý

* Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn

* Nhóm 4: Nợ nghi ngờ

* Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn

(3) Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng

- Chỉ tiêu định tính

Nếu ngân hàng có sơ đồ làm việc của các phòng ban sẽ giúp khách hàng không bị

bỡ ngỡ và đỡ tốn thời gian. Từ đó khách hàng sẽ có ấn tượng tốt về Ngân hàng.

Cách bố trí sắp sếp trong phòng làm việc của ngân hàng, trang phục của nhân viên,

đặc biệt là thái độ của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng của ngân

hàng.Nếu chất lượng tín dụng cao thì chắc chắn Ngân hàng sẽ có nhiều khách hàng mới.

Uy tín của ngân hàng cũng góp phần làm nên chất lượng tín dụng của Ngân hàng.



- Chỉ tiêu định lượng

a) Kết cấu dư nợ và tổng dư nợ tín dụng

Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân tích kết cấu

dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được gân hàng cần đẩy mạnh cho vay theo loại hình nào để



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



8



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ khi so với kết cấu nguồn huy động sẽ

cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất.

Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của Ngân hàng, sự uy tín của Ngân hàng

đối với doanh nghiệp. Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh với thị phần tín dụng của Ngân

hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân hàng là cao hay thấp.

b) Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và

không đủ tiêu chuẩn để được gia hạn nợ.

Hệ số nợ quá hạn =



x 100



Để đánh giá chính xác hơn người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn ra thành tỷ lệ quá hạn có

khả năng thu hồi(Nợ quá hạn đến 180 ngày) và tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu

hồi( Nợ quá hạn từ 181 – 360 ngày). Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên hay nợ khó đòi.

c) Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng

Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại một

khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để

ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng đem lại chứng tỏ các khoản vay

không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn của nguồn vốn

cho vay.

Thu nhập từ hoạt động tín dụng =

d) Lãi treo

Lãi treo là lãi tính trên nợ gốc và các khoản cho vay của ngân hàng nhưng chưa thu hồi

được.Tổng các khoản lãi treo trên các món nợ càng thấp càng tốt.Lãi treo càng cao phản ánh

rủi ro mất vốn của ngân hàng càng lớn, ngân hàng có khả năng mất cả vốn lẫn lãi.Từ đó chất

lượng tín dụng giảm và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Trên đây là các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng, tuy nhiên để

đánh giá một cách chính xác cần xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.

iii. Kiểm soát và đánh giá rủi ro tín dụng

 Kiểm soát rủi ro



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



9



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và những quá trình

nhằm biến đổi rủi ro của một tổ chức thông qua việc né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu

bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ rủi ro, tổn thất và lợi ích.

Phương pháp: căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài

chính và khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau làm

giảm mức độ thiệt hại. Bao gồm ngăn ngừa rủi ro, bán nợ, phân tán rủi ro và quản trị rủi

ro thông qua công cụ phái sinh.

 Đánh giá rủi ro tín dụng



Chất lượng tín dụng là tiêu chí cơ bản để đánh giá RRTD trong hoạt động của ngân

hàng, một khoản vay tốt là khoản vay mà ngân hàng có thể thu hồi đầy đủ cả gốc và nợ

lãi. Một số chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá đó là:

Tỷ lệ nợ xấu =



x 100%



Tỷ lệ trích lập DPRRTD =



Tỷ lệ phân bổ quỹ DPRRTD=



x 100%



x 100%



iv. Tài trợ rủi ro tín dụng

Tài trợ rủi ro tín dụng là những kỹ thuật, công cụ được sử dụng để tài trợ cho chi

phí của rủi ro và tổn thất từ hoạt động tín dụng.

Phương pháp: Các NHTM phải thường xuyên dự trữ các nguồn quỹ dư phòng khi

cần thiết, sẵn sàng bù đắp mọi tổn thất có thể xảy ra để đảm bảo an toàn cho hoạt động

kinh doanh. Tùy theo tính chất của mỗi loại tổn thất mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn

thích hợp để bù đắp:

+Đối với các tổn thất đã được lường trước, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn từ

quỹ DPRRTD đã được xếp loại theo tiêu chuẩn để bù đắp.

+Đối với tổn thất không lường trước được rủi ro, ngân hàng phải dùng vốn tự có

làm nguồn dự phòng để bù đắp. Ngoài ra, cần áp dụng các biện pháp khác để tài trợ rủi

ro bao gồm: xử lý TSĐB để thu hồi nợ, chuyển giao rủi ro, …



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



10



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị rủi ro tín dụng

1.3.1 Các nhân tố khách quan

 Cơ chế giám sát của NHNN

Việc giám sát của NHNN là rất quan trọng, bởi chỉ khi đặt dưới sự giám sát chặt

chẽ của NHNN, NHTM mới làm tốt, hiệu quả công tác QTRRTD. Lúc này, các chính

sách, các quy định cũng như quy trình QTRRTD mới được thực hiện đầy đủ. Đặc biệt,

hiện nay trên thế giới, các tiêu chuẩn về Basel II đã và đang được coi là một chuẩn mực

cho các ngân hàng thực hiện.

 Quy định về kế toán, kiểm toán

Việc hoàn thiện các quy định về chế độ kế toán, kiểm toán là một nhân tố khách

quan ảnh hưởng tới khả năng quản trị rủi ro của ngân hàng. Với việc thống nhất cũng như

minh bạch các tài liệu kế toán sẽ giúp cho ngân hàng có thể tăng cường giám sát các

khoản cho vay của mình, nắm rõ hơn tình hình của doanh nghiệp cả trước lẫn sau khi cấp

tín dụng. Qua đó, Ngân hàng sẽ có các biện pháp hiệu quả nhằm phối hợp cùng doanh

nghiệp, hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra.

 Sự phát triển của thị trường tài chính

Với một thị trường tài chính phát triển, bên cạnh kênh tín dụng ngân hàng sẽ có các

hình thức huy động vốn khác như huy động từ cổ phiếu hoặc trái phiếu .v.v. Việc phát

triển thị trường tài chính không những hạn chế RRTD từ phía doanh nghiệp mà còn nâng

cao khả năng QTRRTD của ngân hàng.

- Từ khách hàng

 Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý.

 Sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả hay khách hàng có chủ đích lừa đảo,

gian lận Ngân hàng dẫn đến cung cấp thông tin không chính xác

 Khách hàng không có thiện chí trả nợ.

 Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được.

 Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản.

 Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo.



1.3.2 Các nhân tố chủ quan

 Công nghệ thông tin

Do công nghệ và trang thiết bị Ngân hàng còn yếu kém cho nên việc thu thập và xử

lý thông tin về doanh nghiệp còn nhiều hạn chế dẫn đến những đánh giá không chính xác.

SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



11



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



Những thông tin từ hồ sơ xin vay của doanh nghiệp, những thông tin do Ngân hàng lưu

trữ và những thông tin do Ngân hàng tìm hiểu bên ngoài có thể chỉ phản ánh một phần về

doanh nghiệp, cần thiết phải phân tích và tìm hiểu kỹ càng hơn mới có thể đánh giá được

toàn diện về doanh nghiệp. Chính vì vậy, công nghệ lạc hậu, thiếu thông tin cũng trở

thành một nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng, ảnh hưởng tới quá trình quản trị rủi ro

trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng.

 Nguồn nhân lực



CBTD gặp khó khăn trong việc thẩm định và giám sát khách hàng vay vốn bởi

phần lớn hiện nay các doanh nghiệp vay vốn là những loại hình doanh nghiệp khác nhau,

lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động khác nhau, đều ảnh hưởng rất lớn tới

công tác phân tích đánh giá của ngân hàng. Đối với ngành nghề kinh doanh khác nhau thì

đặc trưng của từng ngành là khác nhau nên các chỉ tiêu tài chính dùng đánh giá có những

mức chuẩn không giống nhau. Hơn nữa độ phức tạp của các báo cáo tài chính cũng khác

nhau, hình thức, chu kỳ, phương thức kinh doanh khác nhau CBTD không được chuyên

môn hoá, phần lớn các bước cũng như các quy trình tín dụng đều do một cán bộ làm.

Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ

dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý. Hoặc CBTD không tuân thủ chính sách tín

dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay, CBTD yếu kém về trình độ nghiệp vụ;

cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh.

 Kiểm soát nội bộ



Cơ chế giám sát hoạt động tín dụng cũng là một nhân tố tác động đến QTRRTD của

ngân hàng. Ngân hàng thực hiện kiểm tra, giám sát tốt sẽ hạn chế và khắc phục kịp thời

những sai sót trong quá trình thực hiện công tác tín dụng qua đó hạn chế được rủi ro. Sự

phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong ngân hàng cũng đem lại hiệu quả tốt hơn, nó

vừa có tác dụng kiểm tra, vừa cung cấp bổ sung những thông tin cần thiết không những

để hoàn thiện chính sách tín dụng chung của cả ngân hàng mà đối với từng khoản vay do

được giám sát chặt chẽ sẽ giảm thiểu tối đa rủi ro xảy ra.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT

ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG VIETINBANK - CN ĐÔNG HÀ NỘI

I.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Đông

Hà Nội

SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



12



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



I.1.1 Lịch sử hình thành

Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Hà

Nội tiền thân là phòng giao dịch Yên Viên trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam

- Chi nhánh Chương Dương, sau đó được tách ra làm Chi nhánh cấp I trực thuộc Ngân

hàng Công thương Việt Nam theo Quyết định số 052/QĐ-HĐQT-NHCT1 ngày

24/03/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCT Việt Nam về việc nâng cấp Chi nhánh

Yên Viên. Ngày 05/08/2009, Chi nhánh Ngân hàng Công thương Yên Viên được chính

thức đổi tên thành Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh

Đông Hà Nội theo Quyết định số 509/QĐ-HĐQT-NHCT1 ngày 05/08/2009 của Chủ tịch

Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam về việc

chuyển đổi và đổi tên Chi nhánh.

Từ năm 2008, song song với quá trình xây dựng công trình này, CN đã không

ngừng mở rộng và lớn mạnh mọi mặt. Từ CN xếp hạng 3 với 54 CBNV, lỗ lũy kế cao

nhất trong hệ thống (năm 2007), đến nay CN đã xóa bỏ hoàn toàn lỗ lũy kế, có 117

CBNV. CN có 5 phòng giao dịch loại I, 7 phòng giao dịch loại II; nguồn vốn đạt 2600 tỷ

đồng, dư nợ 1600 tỷ đồng.

Loại hình đơn vị: Ngân hàng thương mại cổ phần

Địa chỉ: 284 Hà Huy Tập, Thị trấn Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội

Điện thoại : 04.38783159 .website: http://www.vietinbank.vn



I.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Đông Hà Nội

Theo điều 30 của điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Công thương Việt

Nam ( phê chuẩn theo quyết định số 327/QĐ – NH5 ngày 4/10/1997 của thống đốc Ngân

hàng nhà nước Việt Nam) thì CN NHCT Đông Hà Nội có chức năng và nhiệm vụ sau:



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

×