1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

2 Nội dung lý thuyết liên quan về vấn đề nghiên cứu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (408.64 KB, 56 trang )


14



khách hàng, cụ thể là một DN được thể hiện qua bốn chỉ tiêu chủ yếu: khả năng

thanh toán, quy mô và cơ cấu nguồn vốn, khả năng hoạt động, khả năng sinh lời,

…Thông qua việc phân tích các yếu tố này, NH sẽ có cái nhìn tổng quát về tình

hình tài chính của doanh nghiệp từ đó làm cơ sở quan trọng cho việc ra phán

quyết cho vay.

Yếu tố quan trọng nhất khi cho vay theo dự án đó là hiệu quả về mặt tài

chính của dự án vì nguồn trả nợ khi cho vay theo dự án bao gồm trích khấu hao

và lợi nhuận hàng năm của dự án. Căn cứ vào việc phân tích khả năng tiêu thụ

của sản phẩm trên thị trường, công suất thiết kế của TSCĐ, thời gian thực hiện

dự án…Nhà đầu tư sẽ tính toán hiệu quả về mặt tài chính của dự án. Hiệu quả tài

chính của dự án là một chỉ tiêu rất khó dự đoán chính xác mà phải đến khi hoàn

thành dự án mới đánh giá chính xác được. Tuy nhiên, hiệu quả của dự án được

đánh giá mang tính dự báo thông qua hệ thống các chỉ tiêu: Giá trị hiện tại

ròng(NPV), tỷ suất hoàn vốn nội bộ(IRR), thời gian hoàn vốn đầu tư(PP)…

Trong các chỉ tiêu trên, chỉ tiêu NPV là giá trị hiện tại ròng, là số chênh lệch

giữa giá trị hiện tại của các luồng tiền thu với giá trị hiện tại của các khoản đầu

tư. Một dự án được đánh giá là có hiệu quả nếu NPV>0.

Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ(IRR) cũng là một chỉ tiêu thường được

dùng khi thẩm định dự án. IRR cho biết tỷ lệ sinh lời hàng năm trên một đồng

vốn bỏ ra có được từ việc đầu tư vào dự án hay nói cách khác IRR cho biết lợi

nhuận tương đối của dự án, IRR là mức lãi suất mà tại đó giá trị hiện tại ròng

NPV=0. Một dự án được lựa chọn để đầu tư khi có tỉ suất hoàn vốn nội bộ lớn

hơn lãi suất chiết khấu.

Bên cạnh việc sử dụng chỉ tiêu NPV và IRR, khi đánh giá hiệu quả của một

dự án người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác như: thời gian hoàn vốn, chỉ số

doanh lợi, phân tích điểm hòa vốn…Hiện nay, một trong những phương pháp

được sử dụng phổ biến khi đánh giá hiệu quả của dự án đó là phương pháp phân

tích độ nhạy cảm trên cơ sở lượng hóa mức đội rủi ro của dự án, từ đó lượng hóa

được sự thay đổi của các dòng tiền thu trong tương lai và lượng hóa được sự

thay đổi của các chỉ tiêu IRR,NPV.



15







Về tài sản đảm bảo

Cho vay trung và dài hạn có mức độ rủi ro rất cao nên để đảm bảo có nguồn

thu nợ thứ hai khi mà nguồn nợ thứ nhất là nguồn thu nợ từ thu nhập của dự án

không đạt được thì các NHTM thường yêu cầu bên vay phải có TSĐB. TSĐB

phải là những tài sản có gia trị không bị hao hụt theo thời gian và không gian,giá

trị của TSĐB phải lớn hơn giá trị khoản vay. Theo quy định thì các NHTM được



phép cho vay tối đa bằng 75% giá trị của TSĐB

 Khả năng của bộ máy quản lí doanh nghiệp

Cho vay trung, dài hạn có mức đội rủi ro cao nên khi NH quyết định cho

DN vay tức là NH đã quyết định gắn bó hoạt động của mình với DN. Vì vậy, bất

cứ sự biến động nào của DN đều có khả năng ảnh hưởng tới NH, cụ thể là khả

năng trả nợ cho NH. Một bộ máy quản lý điều hành công việc tốt, khả năng trả

nợ cho NH cũng được đảm bảo.

Một điều quan trọng nữa cần phải xem xét, đó là vị thế của DN trên thị

trường, khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng

đến jj thất có thể xảy ra khi DN không thực hiện nghĩa vụ cam kết. Tỷ lệ này

càng nhỏ càng tốt cho NH.

 Chỉ tiêu thu lãi từ hoạt động cho vay TVDH đối với DN

Lợi nhuận cho vay = Lợi nhuận thu từ lãi vay – chi phí khác

Lợi nhuận ngân hàng là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng kinh doanh

của ngân hàng. Xét lợi nhuận của ngân hàng thì chính là phần chênh lệch về lãi

suất huy động và lãi suất cho vay cộng với các doanh thu khác từ hoạt động kinh

doanh tiền tệ và trừ đi các chi phí hoạt động. Lợi nhuận cho vay chính là lãi suất

cho vay mà ngân hàng áp dụng đối với khách hàng trừ đi những chi phí hoạt

động trong quá trình cho vay.

1.2.2.2 Chỉ tiêu định tính

Để đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn đối với DN; đứng trên góc

độ của một NH bên cạnh phải xem xét những chỉ tiêu về mặt định lượng thì

chúng ta phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặt định tính. Về mặt định tính, các

-



chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh sau:

Chất lượng cho vay trung, dài hạn đối với khách hàng DN được thể hiện qua khả

năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp



16



vốn nhanh chóng, kịp thời, an toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp

-



với chu kỳ kinh doanh của khách hàng DN

Những NH có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị tốt; đồng

thời NH tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng hóa và không

ngừng ứng dụng các dịch vụ NH mới. NH có tổng nguồn vốn huy động vốn lớn,

ổn định, có lượng khách hàng vay đông.



17



1.2.3 Mô hình yếu tố của chất lượng dịch vụ cho vay trung, dài hạn

(Servperf)

Mô hình ServPerf được xây dựng trên mô hình Servqual. Đây là một dụng

cụ đo lường chất lượng dịch vụ đầy đủ và chính xác và mô hình đã được sử dụng

rộng rãi nhưng nó loại bỏ đánh giá về sự mong đợi và chỉ giữ lại phần đánh giá

về sự cảm nhận của khách hàng. Trong khi đó sự cảm nhận có thể đánh giá và đo

lường dễ dàng dựa trên niềm tin của khách hàng về những dịch vụ họ đã sử

dụng, sự mong đợi có thể hiểu theo nhiều cách và vì vậy có thể giải thích khác

nhau đối với những tác giả khác nhau và những nhà nghiên cứu khác nhau. Có

thể cho ServPerf là một thang đó có giá trị và đáng tin cậy. Theo Cronin và

Taylor SERVPERF với 5 thành phần nguyên thuỷ hướng đến đặc trưng cung

ứng của một gói dịch vụ:

(1) Phương tiện hữu hình (tangibles): bao gồm những dấu hiệu của chất lượng

dịch vụ, sự thể hiện bề ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, nhân viên, vật liệu công

cụ thông tin:

• Phương tiện vật chất

• Gương mặt nhân viên

• Công cụ và trang thiết bị tạo ra dịch vụ

• Đầu mối vật chất của dịch vụ

• Những khách hàng trong hệ thống dịch vụ

(2) Tin cậy (reliability): khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và chính xác với

những gì hứa hẹn, cam kết bao gồm sự thực hiện thích hợp và có độ tin cậy.

Thực hiện dịch vụ đúng ngay lần đầu, doanh nghiệp tôn trọng những thông điệp

truyền thông của mình, đồng thời bảo đảm:

• Tính tiền đúng

• Ghi chép chính xác

• Thực hiện dịch vụ đúng kế hoạch

(3) Đáp ứng (Responsiveness): mức độ mong muốn và sẵn sàng phục vụ khách

hàng một cách kịp thời, bảo đảm dịch vụ khi nào thỏa mãn nhu cầu người tiêu



18



dùng:

• Quy chế, thủ tục dịch vụ

• Giao dịch dịch vụ nhanh chóng

• Khách hàng tới trong mọi tình huống

• Dịch vụ nhanh thỏa mãn tức thời

(4) Năng lực phục vụ (Assurance): kiến thức, chuyên môn và phong cách lịch

lãm của nhân viên phục vụ; khả năng làm cho khách hàng tin tưởng có nghĩ là kĩ

năng và kiến thức cần thiết để thực hiện dịch vụ bao gồm:

• Kiến thức và kĩ năng nhân viên cung cấp

• Kiến thức và kĩ năng nhân viên trợ giúp

• Khả năng quản lí,nghiên cứu điều hành tổ chức

(5) Cảm thông (Empathy): thể hiện sự ân cần, quan tâm đến từng cá nhân khách

hàng, thể hiện sự ân cần quan tâm tới tùng khách hàng:

• Quan tâm tới của cải, tài sản của khách hàng

1.2

1.2.3

1.2.3.1

-



• Nhân viên cung cấp thiện cảm,lịch sự hấp dẫn

Các nhân tố ảnh hưởng

Nhân tố bên ngoài

Nhân tố môi trường vĩ mô

Môi trường kinh tế: Sự biến động của nền kinh tế theo chiều hướng tốt hay xấu

sẽ làm cho hiệu quả hoạt động ngân hàng và doanh nghiệp biến động theo. Một

nền kinh tế đang trong giai đoạn ổn định, môi trường kinh doanh thuận lợi, nhu

cầu tiêu dùng của dân cư tăng là cơ hội rất tốt để DN đầu tư mở rộng sản xuất do

đó nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của tăng cao. NHTM cũng dễ dàng cho vay



-



vì khả năng mất vốn là rất thấp và ngược lại.

Môi trường pháp lý: là một hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến toàn bộ

các hoạt động của NH nói chung và hoạt động cho vay trung và dài hạn nói

riêng. Khi một hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp thì sẽ tạo ra được một hành

lang an toàn cho hoạt động của các NHTM, không chỉ tạo điều kiện cho các

NHTM xây dựng chính sách tính dụng, cơ cấu cho vay một cách hợp lý mà còn

giúp các DN nắm bắt thông tin, xây dựng các chiến lược kinh doanh dựa trên



19



-



những nguồn vốn có khả năng tiếp cận.

Môi trường chính trị, xã hội : Sự ổn định của môi trường chính trị, xã hội là

một căn cứ quan trọng để ra quyết định của các nhà đầu tư. Nếu môi trường này

ổn định thì các nhà đầu tư se yên tâm thực hiện việc mở rộng đầu tư và do đó



1.2.3.2

-



nhu cầu nguồn vốn cho vay trung và dài hạn sẽ tăng lên, và ngược lại.

Môi trường ngành

Ngân hàng cấp trên(NHNN)

Mọi hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân hàng đều được thực hiện

theo qui định chung của NHNN. Chính sách tiền tệ của NHNN được tiến hành

thông qua các công cụ như nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dự

trữ bắt buộc, các quy định về TSĐB, quy định về trần lãi suất…và các NHTM



-



phải thực hiện các quy định đó của NHNN.

Khách hàng vay

Một trong những bước đầu tiên để NH quyết định cho DN vay vốn; chính

là tìm hiểu ,đánh giá khả năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu DN

chứng minh được với NH về khả năng quản lý, năng lực tài chính cũng như sự

nhạy bén trong kinh doanh thì sẽ rất thuận lợi trong việc cho vay bởi năng lực

DN là một trong những yếu tố nhất thiết mà NH sẽ phải xem xét và cân nhắc



-



trước khi có quyết định cho vay hay không.

Đối thủ cạnh tranh

Với bức tranh tình hình kinh tế ảm đạm như hiện nay, tổng mức dư nợ tín

dụng liên tục bị giảm sút, tăng trưởng tín dụng âm trong những tháng đầu năm,

cho thấy tình hình cho vay trung và dài hạn đối với khách hàng DN gặp vô cùng

khó khăn; vì vậy việc thu hút khách hàng DN vay vốn là một trong những chiến

lược quan trọng hàng đầu của các NHTM. Các NH liên tục đưa ra các chính sách

khuyến mãi nhằm thúc đẩy việc cho vay, cạnh tranh trên thị trường NH trở nên

gay gắt đồng nghĩa với việc các NH xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh hơn, để

tìm được khách hàng vay vốn là các DN uy tín trở nên khó khăn hơn đối với các



1.2.4

1.2.4.1



NH.

Nhân tố bên trong

Sứ mệnh, mục tiêu, văn hóa kinh doanh

Sứ mệnh kinh doanh của NH chính là mục đích hoạt động kinh doanh, là lý

do cho sự ra đời, sự tồn tại và phát triển của một NH. Sứ mệnh và mục tiêu kinh



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (56 trang)

×