1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

1 Ngân hàng thương mại và các hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (384.65 KB, 53 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



sở nguồn vốn huy động được , ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát

triển sản xuất , cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và cả nước . Nghiệp

vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày

càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh , mở rộng quan hệ tín

dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân

hàng. Do đó các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển

kinh tế của đất nước, của địa phương . Từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù

hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước .

1.1.2.2 Hoạt động tín dụng

Một là: Ngân hàng tiến hành cho vay

Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Theo thống kê, nhìn

chung thì khoảng 60%- 75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay.

Thành công hay thất bại của một ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế

hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của ngân

hàng. Các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm: mục đích, hình

thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả...

Hai là tiến hành đầu tư

Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt những nhu cầu

khác nhau. Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi Ngân

hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ kịp

thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn

sử dụng vốn để đầu tư. Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàng thương mại có thể

tiến hành là:

-



Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các



-



doanh nghiệp, các công ty khác.

Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân

hàng.

1.1.2.3 Hoạt động thanh toán và ngân quỹ

Là trung gian tài chính , ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi thế



đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ.



SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



4



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



Để thanh toán nhanh chóng , thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho

khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc , uỷ nhiệm chi, nhờ

thu , các loại thẻ …cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử , kết nối các quỹ và cung

cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ

thể khi tham gia tiến hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan

trọng đó là hàng loạt các nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an

toàn. Nghề ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của

mình, ngân hàng không thể bỏ qua sự “an toàn”. Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư

để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động

được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ

bắt buộc do Trung ương đề ra.

1.1.2.4 Các hoạt động khác

- Bảo quản tài sản hộ, Bảo lãnh

- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán

- Quản lý ngân quỹ

- Tài trợ các hoạt động của chính phủ

- Cho vay thiết bị trung và dài hạn ( leasing)

- Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn, môi giới đầu tư chứng khoán

- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm

Như vậy ,các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại

và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay.

Vì các nghiệp vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên tác động qua lại với

nhau.Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu

sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu của nguồn vốn huy động. Các nghiệp vụ

trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách

hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.

1.2 Huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại.

- Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập hoặc huy

động được, dùng để cho vay, để đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh

khác.



SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



Bản chất, vốn của NH cũng chính là một bộ phận của thu nhập quốc dân

đang tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và trong tiêu dùng,

người chủ sở hữu gửi vào Ngân hàng nhằm mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu

tư. Nói một cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho NH, và NH sẽ

trả lại cho họ một khoản thu nhập. Do vậy, ở đây NH đã thực hiện vai trò tập trung

vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh tốc độ của quá

trình luân chuyển vốn, kích thích các hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, cũng

chính các hoạt động đó lại quyết định trở lại sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh

doanh của NH.

- Huy động vốn có thể được xem là một trong những nghiệp vụ xuất hiện

sớm nhất trong hoạt động của các NHTM. Nếu như trước đây, NH là người bị

động trong quan hệ này thì hiện nay, hầu hết các NH đều có chính sách, phương

thức để lôi kéo nguồn tiền gửi này chính vì thế mà các phương thức huy động vốn

ngày càng trở nên quan trọng, phong phú và đa dạng hơn. Có thể nói, hiện nay,

hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động hết sức quan trọng và liên

quan đến sự sống còn của các NHTM.

Ta có thể tạm thời đưa ra định nghĩa như sau: “Hoạt động huy động vốn

của các NHTM là hoạt động mà trong đó các ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn

khả dụng từ các chủ thể khác nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả

của bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật”.

1.2.2. Vai trò của huy động vốn của NHTM.

1.2.2.1. Đối với tổng thể nền kinh tế.

Trong nền kinh tế hiện nay, tại mọi thời điểm luôn tồn tại những người có

vốn nhàn rỗi mà chưa có kế hoạch sử dụng hoặc đầu tư; những tổ chức, cá nhân

có nhu cầu về vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư. Thế

nhưng thật khó để hai đối tượng này có thể tìm gặp được nhau, nếu có gặp được

thì cũng chưa chắc lượng tiền và thời hạn nhàn rỗi của người có vốn đã phù hợp

với nhu cầu của người thiếu vốn. Do vậy các NHTM đóng vai trò là một trung

gian tài chính sẽ đứng ra thu hút tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi tồn tại trên thị

trường từ đó phân phối tới nơi cần và thiếu vốn. Đối với người có vốn, hoạt động

huy động vốn của NH đã giúp họ thu được lãi suất một cách ổn định và an toàn

khi họ chưa biết sử dụng vốn vào hoạt động đầu tư nào; đồng thời cũng cung cấp

cho họ các dịch vụ mà họ có nhu cầu. Với những người cần vốn thì được NH đáp

ứng đúng thời hạn và số lượng vốn mà họ cần giúp họ có cơ hội mở rộng và phát

triển quy mô trong kinh doanh cũng như sản xuất.



SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



6



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



Như vậy, về ý nghĩa sâu xa huy động vốn của NHTM đã giúp cho nền

kinh tế được mở rộng và phát triển. Mặc dù hiện nay có rất nhiều kênh huy động

vốn như thị trường chứng khoán, NSNN… nhưng trong bối cảnh cụ thể của nền

kinh tế Việt Nam hiện nay thì huy động vốn của NHTM vẫn đóng vai trò là một

kênh huy động chủ chốt.

1.2.2.2. Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.

- Huy động vốn cung cấp vốn cho NH tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.

Hoạt động chính mang lại lợi nhuận cho NH chính là cho vay. Mà để có

thể tiến hành cho vay thì NH phải có nguồn vốn, vì vậy huy động vốn của NHTM

là hoạt động hết sức quan trọng và không thể thiếu đối với bất cứ NH nào. Vốn

của NH không chỉ đóng vai trò là phương tiện mà còn là đối tượng kinh doanh

của NH. Không có nguồn vốn thì NHTM sẽ không thể thực hiện được hoạt đông

kinh doanh của mình.

-



Huy động vốn cung cấp vốn giúp NH đảm bảo khả năng thanh toán và

nâng cao uy tín.



Để xây dựng và nâng cao được uy tín của mình trên thị trường các NH

luôn cần gia tăng nguồn vốn. Bởi lẽ khi NH có nguồn vốn dồi dào vững mạnh thì

khả năng thanh toán của NH luôn được đảm bảo, mọi người khi tiến hành các

giao dịch như đi vay và gửi tiền sẽ cảm thấy yên tâm. Chính điều này giúp cho

hoạt động kinh doanh của NH phát triển vì hoạt động của NH chính là “ đi vay là

để cho vay”. Khi hoạt động kinh doanh tốt sẽ tác động trở lại tới uy tín của NH

đối với khách hàng. Vì thế mà huy động vốn cần được tăng cường là điều rất cần

thiết để giúp NH thực hiện được mục tiêu đảm bảo khả năng thanh toán và nâng

cao uy tín của mình.

-



Huy động vốn cung cấp vốn để quyết định quy mô hoạt động tín dụng và

các hoạt động kinh doanh khác của NH..



Huy động vốn của NHTM sẽ mang lại nguồn vốn cho NH, khối lượng vốn

của NH có được sẽ quyết định tới việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng.

Thông thường với các NH nhỏ ( nghĩa là có nguồn vốn nhỏ) thì phạm vi hoạt

động kinh doanh hẹp, các khoản mục đầu tư, khối lượng cho vay sẽ kém đa dạng.

Từ đó kéo theo khả năng thu hút vốn từ các tầng lớp dân cư, các TCKT cũng

không cao. Còn đối với cá NH lớn ( có nguồn vốn tiềm tàng) sẽ đáp ứng được

nhu cầu về vốn của nhiều đối tượng khách hàng, từ đó có điều kiện mở rộng quan

hệ tín dụng với nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và thị trường tín dụng.

SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



7



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



Huy động vốn tốt còn mang lại nguồn vốn lớn giúp NH có thể tiến hành

kinh doanh với nhiều hình thức khác nhau như liên doanh liên kết, kinh doanh

chứng khoán, thuê mua tài chính. Các hình thức này giúp phân tán rủi ro và tăng

thêm vốn cho NH.

-



Huy động vốn cung cấp vốn giúp NH nâng cao yếu tố cạnh tranh.



Trong thời điểm hiện nay tồn tại rất nhiều NH vì vậy luôn có sự cạnh tranh

hết sức gay gắt giữa các NH với nhau. Huy động vốn tốt NH sẽ có được nguồn

vốn lớn tạo điều kiện giúp mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình, tăng

cường quan hệ với các đối tác không chỉ trong nước mà còn cả nước ngoài. Giúp

NH thu hút được nhiều đối tượng khách hàng mới và giữ chân được các đối

tượng khách hàng truyền thống. Từ đó làm doanh số của NH sẽ tăng lên cũng

đồng nghĩa với lượng vốn của NH cũng tăng trưởng. Nguồn vốn dồi dào sẽ tạo

điều kiện giúp NH cạnh tranh với các NH khác bằng các biện pháp như hạ lãi

suất, thời hạn tín dụng linh hoạt hơn, hình thức trả lãi đa dạng…

1.2.3. Các hình thức huy động vốn tại NHTM.

1.2.3.1 Căn cứ theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn.

Đây là hình thức phân loại được các NHTM sử dụng phổ biến nhất hiện

nay.

* Hình thức huy động qua nghiệp vụ nhận tiền gửi.

- Huy động tiền gửi không kỳ hạn: Khách hàng sử dụng dịch vụ gửi

tiền này thường là các DN, các TCKT, các cá nhân hoạt động kinh doanh thường

xuyên phải thanh toán tiền cho đối tác . Loại tiền gửi này được gửi vào NH không

với mục đích hưởng lãi mà nhằm tiện lợi cho việc thanh toán do đó nên lãi suất

cho loại tiền gửi này là rất thấp, thậm chí là không phải trả lãi. Tuy nhiên đối với

những nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt là thấp (Ví dụ ở Việt Nam)

thì NH vẫn trả lãi ( thậm chí có lúc lãi suất bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm không

kỳ hạn. Khách hàng có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào cần bằng tiền mặt hoặc cũng

có sử dụng để chuyển qua tài khoản ( hay thanh toán bằng séc) cho người cùng

giao dịch một cách nhanh chóng và chính xác. Loại tiền gửi này thường được NH

bảo quản trên hai loại tài khoản là tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai.

- Hình thức huy động tiền gửi có kỳ hạn.

Với các TCKT có chu kỳ kinh doanh ổn định, thời gian thanh toán ít có sự

biến động thì việc sử dụng dịch vụ này của NH là rất hữu ích. Vì khoản tiền này

tương đối ổn định cho nên NH dễ dàng và thuận tiện trong việc lên kế hoạch sử

dụng nguồn này, điều này cũng đồng nghĩa với việc NH sẽ phải đưa ra lãi suất

SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



8



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. Mục đích của khách hàng khi gửi tiền theo

hình thức này ngoài việc sử dụng các dịch vụ của NH còn nhằm sinh lời từ khoản

tiền lãi mà họ được hưởng, vì vậy lãi suất của loại hình tiền gửi sẽ tác động rất nhiều

vào số lượng tiền huy động được. Với loại hình này sẽ có rất nhiều các kỳ hạn ngắn

hạn như 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng… phù hợp với khoảng thời gian nhàn rỗi của

nguồn tiền nắm giữ.

- Hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm.

Chính hình thức huy động này mang lại cho NH nguồn vốn ổn định nhất.

Các ngân hàng luôn tìm cách thu hút tối đa nguồn tiền này. Mục đích khách hàng

sử dụng dịch vụ này chính là kiếm lời. NH thường có 3 hình thức để huy động

tiền gửi tiết kiệm:

- Huy động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là khoản tiền của cá nhân gửi

vào tài khoản tiết kiệm và được hưởng lãi suất không kỳ hạn theo quy định của

NH

- Huy động tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền của cá nhân gửi vào

tài khoản tiết kiệm để được hưởng lãi suất ứng với kỳ hạn khách hàng lựa chọn

theo quy định của NH. Khách hàng không được rút tiền trước kỳ hạn, nếu rút

trước thì phải chịu phạt với số tiền theo quy định của NH. Tại Việt Nam hiện nay

nhằm thu hút được lượng vốn lớn và tăng tính cạnh tranh thì các NH đã rất linh

hoạt trong việc khách hàng rút trước thời hạn. Khi đáo hạn mà khách hàng không

tới rút thì tiền gửi tiết kiệm sẽ được tự động nhập lãi vào vốn và tái tục thêm kỳ

hạn mới bằng kỳ hạn cũ đồng thời áp dụng mức lãi suất hiện hành tại thời điểm

tái tục.

- Huy động tiền gửi tiết kiệm có thời hạn dài: ở những nước công nghiệp

thì đây là loại tiền gửi phổ biến. Các khoản tiền gửi vào có thời hạn từ 1 năm trở

lên vì vậy nguồn tiền này rất ổn định tạo điều kiện thuân lợi cho NH sử dụng vốn,

nhất là trong việc đầu tư trung và dài hạn. Để thu hút được nguồn vốn này thì các

NH phải trả lãi rất cao.

* Hình thức huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay.

- Vay từ các tổ chức tín dụng: Các NH sẽ tiến hành vay mượn lẫn nhau khi thiếu

hụt dự trữ hoặc khả năng thanh toán bị đe dọa trên thị trường liên NH

hay thị trường tiền tệ.

- Vay ngân hàng Nhà nước: Ngân hàng trung ương sẽ đóng vai trò là người cho

vay cuối cùng của các NHTM dưới 2 hình thức chủ yếu là tái chiết

khấu và tái cấp vốn.



SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



9



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



* Hình thức huy động qua phát hành giấy tờ có giá: kỳ phiếu, trái

phiếu…: Giúp ngân hàng huy động được đúng số lượng vốn cần thiết và

có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Tuy nhiên chi

phí của nguồn vốn này tương đối cao do ngân hàng phải trả lãi cao hơn

các hình thức huy động truyền thống.

* Hình thức huy động qua phát hành chứng chỉ tiền gửi:

Ở Việt Nam, chứng chỉ tiền gửi mới chỉ xuất hiện những năm gần đây và

chưa được phổ biến rộng rãi. Quyền lợi cơ bản của chủ sở hữu là được

hưởng lãi trên số tiền đã mua; được quyền cho, tặng, hay chuyển nhượng theo

quy định của pháp luật và tổ chức phát hành cùng các quyền lợi khác do tổ chức

phát hành quy định. Chứng chỉ tiền gửi gồm có 3 loại: chứng chỉ tiền gửi ghi

danh, chứng chỉ tiền gửi ghi sổ và chứng chỉ tiền gửi vô danh .

Tuy nhiên về bản chất thì cũng tương tự tiền gửi tiết kiệm song có một số

điểm khác biệt như được hưởng lãi suất cao hơn, có thể chuyển nhượng và không

được đáo hạn.

1.2.3.2 Hình thức căn cứ theo thời gian:

* Hình thức huy động ngắn hạn: bằng việc phát hành các công cụ nợ

ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn

hạn, tiền gửi thanh toán....

* Huy động dài hạn: Nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng các nguồn vốn có thời

hạn dài ( trên 5 năm )

1.2.3.3 Căn cứ theo đối tượng huy động.

* Hình thức huy động từ các tổ chức kinh tế: chiếm tỷ trọng khá cao

trong tổng vốn huy động của NH, gắn liền với việc mở rộng và phát triển thêm

các dịch vụ NH.

* Hình thức huy động từ dân cư: đây luôn là nguồn vốn tiềm năng mà NH

cần tăng cường huy động do đặc tính ổn định của nó.

* Vay ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác: Việc vay

mượn giữa các NH và các TCTD tuy rằng dễ dàng nhưng khối lượng không lớn,

chi phí lại lớn nên hình thức huy động ít được NH sử dụng, và chỉ sử dụng khi

thật cần thiết



SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



10



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của NHTM.

1.3.1. Nhân tố bên ngoài ngân hàng

1.3.1.1 Môi trường chính trị - pháp luật

Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt chẽ

của pháp luật và các cơ quan chức năng của chính phủ. Hoạt động ngân hàng

được điều chỉnh rất chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật. Ngoài ra ngân hàng

còn chịu sự điều chỉnh của rất nhiều bộ luật : luật dân sự, luật NHTƯ, các quy

định của chính phủ... Do đó hoạt động huy động vốn của ngân hàng cũng bị ảnh

hưởng bởi chính sách pháp luật của nhà nước, chính sách của NHTƯ như: chính

sách tiền tệ, lãi suất, tài chính, tín dụng... Sự thay đổi của những chính sách này

sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn và chất lượng nguồn của NHTM. Có

những Bộ Luật tác động gián tiếp đến hoạt động ngân hàng như Luật đầu tư nước

ngoài hoặc các NHTM không được nhận tiền gửi hoặc cho vay bằng cách tăng

giảm lãi suất, mà phải dựa vào lãi suất do NHNN đưa ra và chỉ được xê dịch

trong biên độ nhất định mà NHNN cho phép... Bên cạnh những bộ luật đó thì

chính sách tài chính tiền tệ của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn tới nghiệp

vụ tạo vốn của NHTM. Nó được thể hiện ở mục tiêu của chính sách tiền tệ, chẳng

hạn khi nền kinh tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền tệ bằng

cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc đó NHTM huy động

vốn dễ dàng hơn. Như vậy, môi trường pháp lí là nhân tố khách quan có tác động

rất lớn tới quá trình huy động vốn của NHTM. Mục tiêu hoạt động của NHTM

được xây dựng vào các qui định, qui chế của Nhà nước để đảm bảo an toàn và

nâng cao niềm tin từ khách hàng.

1.3.1.2 Môi trường kinh tế xã hội:

Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước cũng có tác động không nhỏ

đến quá trình huy động vốn của ngân hàng. Khi nền kinh tế tăng trưởng hay suy

thoái thì nó đều ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của NHTM. Mọi biến động của

nền kinh tế bao giờ cũng được biểu hiện rõ trong việc tăng, giảm nguồn vốn huy

động từ bên ngoài của ngân hàng. Nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển, từ

đó tạo điều kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn

của NHTM thuận lợi. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng, người

dân không gửi tiền vào ngân hàng mà giữ tiền để mua hàng hoá, việc thu hút vốn

gặp khó khăn.



SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



11



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



Môi trường kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến khả năng

thu nhập, chi tiêu, thanh toán và nhu cầu về vốn và gửi tiền của dân cư và ảnh

hưởng rất lớn đến hoạt động huy động của ngân hàng .Sự thay đổi của các yếu tố:

tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, thu nhập bình quân đầu người thay đổi,

chính sách đầu tư, tiết kiệm của chính phủ... sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu

dùng và tiết kiệm của dân cư và từ đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn của

NHTM. Ví dụ khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì tiêu dùng và tiết kiệm

tăng và người dân gửi tiền vào ngân hàng tăng và ngược lại.

1.3.1.3 Tâm lý, thói quen khách hàng

Khách hàng của ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại ngân

hàng và những đối tượng sử dụng vốn đó. Ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai

yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền. Thu

nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà Ngân hàng có thể huy động trong

tương lai. Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn

tiền. Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định

lượng tiền gửi vào, rút ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền

trong tương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn là mối lo ngại

lớn của mọi ngân hàng. Một đặc điểm quan trọng của đối tượng khách hàng là

mức độ thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Mức độ sử dụng

càng cao, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn.

Cụ thể ở các nước phát triển người dân có thói quen gửi tiền vào ngân

hàng để hưởng những tiện ích trong thanh toán, hưởng lãi và trong tiềm thức họ

ngân hàng là một phần không thể thiếu được , là một phàn tất yếu của nền kinh tế.

Do vậy ngân hàng gặp không mấy khó khăn trong việc huy động vốn nhàn rỗi

trong dân cư và tổ chức kinh tế. Ngược lại ở những nước đang phát triển như Việt

Nam việc huy động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn vì người dân Việt

Nam hiện nay vẫn chưa quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Mặt khác ngân

hàng chưa thực sự tạo được lòng tin đối với người dân

1.3.1.4 Đối thủ cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì cạnh tranh là điều không thể

thiếu trong bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào kể cá ngân hàng.Các đối thủ cạnh

tranh không chỉ là động lực giúp ngân hàng không ngừng phát triển mà còn giúp

hoàn thiện các dịch vụ ngân hàng, hướng đến quyền lợi của người tiêu dùng



SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



12



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



nhiều hơn. Việc ngiên cứu đối thủ cạnh tranh, nắm rõ điểm mạnh, điểm yếu của

ngân hàng mình sẽ giúp ngân hàng nâng cao lợi nhuận và hoàn thiện các dịch vụ

cung ứng

1.3.1.5 Môi trường dân số

Môi trường dân số là yếu tố rất quan trọng bởi nó không chỉ tạo thành nhu

cầu và kết cấu nhu cầu của dân cư về sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà còn là căn

cứ để hình thành hệ thống phân phối của ngân hàng. Nó là cơ sở để xây dựng và

điều chỉnh hoạt động huy động vốn của ngân hàng.

1.3.2. Những nhân tố bên trong ngân hàng

1.3.2.1 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng

Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trước hết phải đa dạng

hình thức huy động vốn. Hình thức huy động vốn của ngân hàng ngày càng

phong phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế càng lớn

bấy nhiêu. Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu cầu và tâm lí của các

tầng lớp dân cư. Mức độ đa dạng các hình thức huy động càng cao thì dễ dàng

đáp ứng một cách tối đa nhu cầu của dân cư, vì họ đều tìm thấy cho mình một

hình thức gửi tiền phù hợp mà lại an toàn. Do vậy các NHTM thường cân nhắc

rất kĩ lưỡng trươc khi đưa vào áp dụng một hình thức mới.

1.3.2.2 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Ngân hàng phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp.

Trong chiến lược kinh doanh ngân hàng phải quyết định sẽ mở rộng hoặc thu hẹp

quy mô huy động vốn, thay đổi tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng nguồn vốn, lãi

suất huy động. Nếu chiến lược kinh doanh đúng đắn ngân hàng sẽ khai thác được

nguồn vốn đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả cao.

1.3.2.3 Chính sách lãi suất cạnh tranh:

Việc duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau đã trở

nên cực kỳ quan trọng trong việc thu hút các khoản tiền gửi mới và duy trì tiền

gửi hiện có. Điều này đặc biệt đúng khi lãi suất thị trường đã ở vào mức tương

đối cao. Các ngân hàng cạnh tranh giành vốn không chỉ với các ngân hàng khác

mà còn với các tổ chức tiết kiệm khác, các thị trường tiền tệ và với những người

phát hành các công cụ tài chính khác nhau trong thị trường tiền tệ.Khi lãi suất tối

đa bị loại bỏ trong quá trình nới lỏng các quy định, việc duy trì mức lãi suất cạnh

tranh càng trở nên gay gắt. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, đủ cho



SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



13



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Lê Hà Trang



những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiền tiết

kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ ngân hàng này sang ngân hàng khác hay từ

công cụ này sang công cụ khác.

Trong nền kinh tế thị trường, các hiện tượng kinh tế thường có diễn biến,

thay đổi nhanh. Lãi suất cũng là yếu tố nhạy cảm và thường xuyên thay đổi, gắn

liền với sự thay đổi của quan hệ cung cầu về vốn. Vì vậy, NHTM trong quá trình

hoạt động cần có sự theo dõi sát sao sự biến động đó để có những giải pháp ứng

phó kịp thời nhằm ổn định tình hình kinh doanh của mình.

1.3.2.4 Năng lực và trình độ cán bộ ngân hàng

* Về phương diện quản lí, nếu ngân hàng có trình độ quản lí tốt sẽ có khả

năng tư vấn phù hợp cho khách hàng đem lại hiệu quả cao thì sẽ thu hút được

khách hàng đến với mình. Mặt khác, quản lí tốt sẽ đảm bảo được an toàn vốn,

tăng uy tín, tạo điều kiện tốt cho công tác huy động vốn của ngân hàng.

* Về trình độ nghiệp vụ: trình độ của cán bộ ngân hàng ảnh hưởng lớn tới

chất lượng phục vụ, chi phí dịch vụ làm ảnh hưởng tới việc thu hút vốn của ngân

hàng.

Hiện nay, ở nhiều Ngân hàng Việt Nam, trình độ nghiệp vụ của cán bộ có

nhiều bất cập. Vì vậy, cần phải chú trọng vào việc nâng cao trình độ cho cán bộ

sao cho phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của kinh tế thị trường

1.3.2.5 Công nghệ ngân hàng

Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động chịu sự tác động

mạnh mẽ của công nghệ và không thể tách rời khỏi sự phát triển của công nghệ

đặc biệt là công nghệ thông tin.

Công nghệ có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển của ngân hàng, nó

mang lại cho ngân hàng nhiều cơ hội nhưng cũng mang lại hàng loạt những thách

thức mới. Công nghệ mới cho phép ngân hàng đổi mới quy trình nghiệp vụ, cách

thức phân phối sản phẩm, phát triển các sản phẩm mới... nhờ có công nghệ mà

hoạt động huy động vốn được cải tiến, phất triển, rút ngắn thời gian giao dịch và

thực hiện nghiệp vụ chính xác... giúp ngân hàng có khả năng thu hút được nhiều

vốn, nhiều khách hàng và tăng thu nhập và uy tín của ngân hàng.

Trình độ công nghệ ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ càng cảm

thấy hài lòng về dịch vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại

các ngân hàng. Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng cạnh tranh phi



SV: Phạm Thị Dung



Lớp K45H1



14



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

×