1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Qui mô nhỏ có tính năng động, linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (379.58 KB, 53 trang )


Khoa Tài chính – Ngân hàng



8



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh. Điều này càng làm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

khai thác hết năng lực của mình, đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.

 Các DNNVV dê dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc cách



mạng khoa học- công nghệ hiện đại

Khác với các doanh nghiệp lớn, DNNVV với yêu cầu vốn bổ sung không nhiều

và giảm được sự thiệt hại trong việc thay đổi tư bản cố định khi có sự cạnh tranh phải

chuyển sang kinh doanh ngành khác nên các DNNVV dê dàng và nhanh chóng trong việc

đổi mới thiết bị công nghệ khi cần thiết.

Ngày nay, do sự phát triển của khoa học và công nghệ, nên nhiều khi thời gian

tồn tại của một mặt hàng ngắn hơn thời gian tồn tại thế hệ máy móc sản xuất ra nó. Vì vậy

đòi hỏi phải khấu hao nhanh để chuyển sang sản xuất mặt hàng mới với thiết bị và công

nghệ mới. Trong trường hợp này, các DNNVV lại sẽ có lợi thế hơn.

 Các DNNVV chỉ cần lượng vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh. Hấp



dẫn nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu vực này.

 DNNVV có tỷ suất vốn đầu tư trên lao động thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn, cho

nên chúng có hiệu suất tạo việc làm cao hơn.

 Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các DNNVV gọn nhẹ, linh hoạt, công tác điều



hành mang tính trực tiếp: bộ máy tổ chức của các DNNVV thường đơn giản, gọn nhẹ. Các

quyết định được thực hiện nhanh, công tác kiểm tra giám sát được tiến hành chặt chẽ,

không phải qua nhiều khâu trung gian. Chính vì vậy đã tiết kiệm được chi phí quản lý

doanh nghiệp.

 Quan hệ giữa những người lao động và người quản lý( quan hệ chủ- thợ) trong các



DNNVV khá chặt chẽ:

Quan hệ giữa các thành viên trong DNNVV chặt chẽ gắn bó hơn, tạo ra môi

trường làm việc tốt. Các lao động dê dàng trao đổi với nhau và với lãnh đạo, đề xuất

những ý tưởng mới lạ đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp. Trong một doanh

nghiệp mà số lao động không lớn lắm, người lãnh đạo doanh nghiệp mới có điều kiện biết

rõ khả năng làm việc cũng như đời sống tinh thần của từng thành viên một việc mà rất khó

thực hiện ở các doanh nghiệp lớn. Nhờ vậy kịp thời điều chỉnh vị trí công việc của người

lao động để tận dụng được hết khả năng của họ.



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



9



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



 Sự đình trê, thua lỗ, phá sản của các DNNVV có ảnh hưởng rất ít hoặc không gây nên



khủng hoảng kinh tế – xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng kinh

tế dây chuyền.

1.1.2.2 Những bất lợi

Tuy nhiên với những đặc trưng của mình nên các DNNVV nói chung cũng như các



DNNVV của Việt Nam nói riêng còn rất nhiều hạn chế. Cụ thể là:

 Nguồn vốn tài chính hạn chế:

Trong khi các doanh nghiệp lớn có nhiều khả năng nhận được các nguồn tài chính

khác nhau thì các DNNVV lại gặp khó khăn giai đoạn mới hình thành, phần lớn các

DNNVV đều gặp phải khó khăn về vốn. Các NHTM cũng như các tổ chức tài chính khác

thường e ngại không muốn cho DNNVV vay vốn bởi vì họ chưa có quá trình kinh doanh

uy tín và chưa tạo lập được khả năng trả nợ. Điều này ngăn cản sự mở rộng doanh nghiệp,

làm cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khác như thiếu sức cạnh tranh trên thị trường,

không kịp thời cải tiến công nghệ sản xuất. Khó có điều kiện nâng cao chất lượng lực

lượng lao động ...



 Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thường yếu kém, lạc hậu:

Do nguồn vốn nhỏ và sự hiểu biết còn hạn chế, thông thường các DNNVV chỉ sử dụng

các công nghệ trung bình, đơn giản nên năng suất lao động thấp, làm giảm khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp. Rất ít DNNVV được trang bị công nghệ hiện đại, trừ khi liên

doanh với nước ngoài. Hơn nữa, các DNNVV rất khó có thể vay được một khoản tín dụng

trung dài hạn cần thiết để nâng cấp công nghệ. So với các doanh nghiệp nhà nước( quy mô

lớn), các DNNVV rất khó tiếp cận với thị trường công nghệ, máy móc và thiết bị quốc tế.

Do thiếu thông tin về thị trường này, các DNNVV cũng khó tiếp cận những dịch vụ tư vấn

hỗ trợ trong việc xác định công nghệ thích hợp và hiệu quả, giúp họ cải tiến và nâng cao

sức cạnh tranh.

 Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các DNNVV bị hạn chế rất nhiều



Do quy mô nhỏ và không có mạng lưới, các mối quan hệ rộng nên DNNVV không có

hệ thống cung cấp thông tin chuyên môn, không nắm được tình hình biến đổi bên ngoài

doanh nghiệp mình như nguyên liệu, mặt hàng, trình độ công nghệ, các đối thủ cạnh

tranh...Các DNNVV không có bộ phận chuyên trách về thu thập và xử lý thông tin. Nguồn

vốn tài chính có hạn, không đủ kinh phí để mua sắm các thiết bị phục vụ công tác thông

tin nhanh chóng, kịp thời nói riêng và chi phí cho hoạt động tiếp cận, thu thập, xử lý thông



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



10



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



tin nói chung. Trình độ tri thức và năng lực thu thập, xử lý thông tin của các chủ DNNVV

còn rất hạn chế.

 Trình độ quản lý ở các DNNVV còn bị hạn chế:



Nhiều chủ DNTN không có kiến thức quản lý, không có trình độ chuyên môn, thậm

chí trình độ văn hoá thấp, không đủ khả năng xây dựng được dự án phát triển kinh doanh

và xây dựng dự án đầu tư, xin vay vốn ngân hàng theo quy định.

 Trình độ tay nghề công nhân thấp, cơ sở kinh doanh phân tán, lạc hậu:



Cơ sở vật chất hạ tầng nghèo nàn, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp và kém sức

cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp lớn.Về trình độ tay nghề, kỹ thuật của những người

lao động trong các DNNVV đặc biệt rất thấp, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Số lao động

có tính chất phổ thông, có trình độ tay nghề giản đơn, chưa được đào tạo, bình quân chiếm

khoảng 60-70%. Ở một số vùng nông thôn, số được đào tạo nghề chính quy chỉ chiếm

khoảng 10%. Đó cũng là một trong những khó khăn đối với việc phát triển mạnh mẽ các

DNNVV hiện nay.

 Thị trường của DNNVV thường nhỏ bé và không ổn định, lại phải chia sẻ với



nhiều doanh nghiệp khác :

Một trong những khó khăn không nhỏ của các DNNVV Việt Nam hiện nay chính là

thị trường tiêu thụ sản phẩm. Các DNNVV gặp khó khăn do những thủ tục và điều kiện

cạnh tranh không bình đẳng ở thị trường trong nước mà nguyên nhân chủ yếu là bản

quyền trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp chưa được thực hiện nghiêm túc. Sản phẩm,

dịch vụ của các DNNVV làm ăn chân chính luôn phải cạnh tranh với hàng giả, hàng nhái,

hàng nhập lậu diên ra một cách phổ biến. Cùng với sự độc quyền của một số doanh nghiệp

lớn khiến sức cạnh tranh của DNNVV lại càng giảm trên thị trường nội địa.

Với đặc điểm ưu thế của mình, định hướng chiến lược ngắn hạn, trước mắt của các

DNNVV là tập trung vào các thị trường nhỏ lẻ, địa phương và đặt trọng tâm vào những

sản phẩm hàng hóa có giá bán thấp, nhưng định chiến lược dài hạn cần phải chú ý tới thị

trường của các địa phương khác và tới thị trường quốc tế...

1.2 Cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTM

1.2.1 Các hình thức cho vay DNNVV



1.2.1.1 Cho vay từng lần

Phương thức cho vay từng lần hiện nay được áp dụng phổ biến, mỗi lần có nhu cầu

vay vốn, khách hàng làm đơn xin vay gửi cán bộ tín dụng và cán bộ tín dụng xem xét hồ



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



11



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



sơ xin vay,cán bộ tín dụng xem xét nếu có thể cho vay thì bắt đầu làm thủ tục trên máy,

trình ban lãnh đạo xem xét và nếu duyệt cho vay thì sau đó ký kết hợp đồng tín dụng với

khách hàng.Trong hồ sơ xin vay của khách hàng phải có giải trình về mục đích vay vốn,

tổng nhu cầu đã trừ đi số vốn đơn vị đã có, hoạch định quá trình chu chuyển vốn của đối

tượng xin vay vốn với khả năng trả nợ vốn vay.

Việc giải ngân có thể giải ngân theo tiến độ thực hiện kế hoạch của khách hàng. Nếu

khách hàng vay cho từng phương án, từng thương vụ Ngân hàng giải ngân một lần. Nhiều

doanh nghiệp đã vay và được Ngân hàng giải ngân thành nhiều lần.

Thu nợ: Tiến hành thu nợ theo kỳ hạn hoặc theo thời hạn cuối cùng đã được thoả

thuận trong hợp đồng tín dụng.



1.2.1.2 Cho vay theo hạn mức tín dụng

Phương thức này Chi nhánh áp dụng đối với những khách hàng vay ngắn hạn có

nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định.

Khi khách hàng vay vốn có nhu cầu vay theo hạn mức tín dụng thì lập hồ sơ vay

vốn cho Ngân hàng xem xét để xác định hạn mức tín dụng. Ngân hàng sau khi tiếp nhận

hồ sơ, xem xét và phân tích thẩm định tình hình tài chính cũng như xem xét các vấn đề có

liên quan tới doanh nghiệp sẽ lập báo cáo và làm hồ sơ xét duyệt hạn mức tín dụng trình

hội đồng tín dụng bao gồm các thành viên trong ban lãnh đạo xem xét và ký duyệt hay

không duyệt.

Sau khi có hạn mức tín dụng đối với mỗi khách hàng là các doanh nghiệp khi cần

vốn vay thì họ phải lập hồ sơ và phương án của dự án vay vốn đưa đến Ngân hàng và

Ngân hàng xem xét giải ngân theo tiến độ dự án và tổng số tiền vay không vượt mức hạn

mức tín dụng đã cho phép. Và mỗi lần nhận tiền vay thì cán bộ tín dụng phụ trách doanh

nghiệp trực tiếp giám sát và lập giấy nhận nợ kèm theo theo các chứng từ phù hợp với mục

đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng. Và mức lãi suất Ngân hàng cho vay đã được

hội đồng tín dụng duyệt cho vay trước nên khi khách hàng cần vốn là Ngân hàng có thể

cung cấp nhanh chóng cho khách hàng.

Khi nhận được hồ sơ, cán bộ tín dụng lập tức làm hợp đồng tín dụng trên máy và

ký kết hợp đồng tín dụng nhưng phải lưu ý rằng là các khoản vay này không quá 12 tháng.

Thông thường Ngân hàng thu nợ theo từng hợp đồng tín dụng, theo như đã thoả thuận



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



12



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



trong hợp đồng tín dụng và sau 1 năm thì Ngân hàng thường xét duyệt lại hạn mức tín

dụng của doanh nghiệp dựa trên tình hình của doanh nghiệp, nhu cầu của doanh nghiệp

trong thời gian tới cũng như phương án kinh doanh trong thời gian tới của doanh nghiệp.



1.2.1.3 Cho vay theo dự án đầu tư

Khách hàng thường có các dự án đầu tư lớn nhưng không đủ vốn để thực hiện dự

án này bằng số vốn tự có được cho nên muốn vay của Ngân hàng để thực hiện dự án.

Khi Ngân hàng nhận được dự án kinh doanh của doanh nghiệp cùng với hồ sơ xin

vay, các cán bộ tín dụng sẽ thẩm định dự án, thẩm định tình hình tài chính của doanh

nghiệp cũng như nguồn đảm bảo trả nợ của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp đáp ứng đầy

đủ những yêu cầu của Ngân hàng về những vấn đề đó thì Ngân hàng mới quyết định có

cho vay hay không. Khi đó cán bộ tín dụng sẽ trả lời doanh nghiệp là đồng ý cho doanh

nghiệp vay để thực hiện dự án hay không. Nếu đồng ý thì làm hợp đồng tín dụng với

khách hàng và ký kết hợp đồng tín dụng với khách hàng.



1.2.1.4 Cho vay trả góp

Là hình thức cho vay mà sau khi đã đồng ý cho vay và tính toán chính xác, Ngân

hàng và khách hàng thoả thuận số lãi và vốn gốc trả theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho

vay.

1.2.2



Quy trình cho vay DNNVV

Biểu đồ 1.1: Quy trình cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



13



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Bước 1: Phân tích

trước khi cho vay



Bước 2: Xây dựng và

ký kết hợp đồng cho vay



Bước 3:

Giải ngân và kiểm soát trước khi cho vay



Bước 4: Thu nợ và đưa ra các phán quyết tín dụng mới



Bước 1: Phân tích trước khi cho vay

Mục đích của bước này là xác định khả năng cả ở hiện tại và tương lai của doanh

nghiệp trong việc sử dụng cũng như hoàn trả vốn vay. Cán bộ tín dụng phân tích theo các

nội dung:

-



Đánh giá tài sản của doanh nghiệp: thông tin về tài sản của doanh nghiệp sẽ cho biết về

quy mô và khả năng quản lý của doanh nghiệp đó. Tài sản của doanh nghiệp cũng có thể

được coi như một nguồn đảm bảo khả năng thu hồi nợ, giảm rủi ro cho ngân hàng.



-



Đánh giá về các khoản nợ của doanh nghiệp: ngân hàng luôn quan tâm tới các chủ nợ

khác của doanh nghiệp, lịch sử vay nợ của doanh nghiệp đó, các khoản nợ ưu đãi hoặc

đảm bảo…



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng

-



14



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Phân tích luồng tiền: để xác định khả năng trả nợ của khách hàng thì việc xác định luồng

tiền là đặc biệt quan trọng. Doanh nghiệp có thể tạo ra lợi nhuận trong quá khứ hoặc tương

lai, nhưng kì thu nợ của ngân hàng lại diên ra ở một thời điểm nhất định, tình trạng lệch

pha giữa các khoản thu và kì thu nợ vẫn có thể xảy ra khiến doanh nghiệp dù có lợi nhuận

nhưng vẫn có thể không trả được nợ.



-



Sử dụng các tỷ lệ: các loại này bao gồm tỷ lệ đo thanh khoản, tỷ lệ đo khả năng tạo lợi

nhuận, tỷ lệ đo khả năng trả nợ bằng vốn tự có và tỷ lệ đo rủi ro.

Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng cho vay

Hợp đồng cho vay là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa người nhận tài trợ (khách

hàng) và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một

khoản cho vay (hoặc hạn mức cho vay) trong một khoảng thời gian và lãi suất nhất định.

Hợp đồng cho vay là văn bản mang tính pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên

trong quan hệ tín cho vay, đồng thời phải tuân thủ các điều khoản của các luật , các quy

định. Do vậy, cả ngân hàng lẫn khách hàng đều cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi kí kết

hợp đồng cho vay. Sau đây là nội dung chính của hợp đồng cho vay.



-



Khách hàng: Họ tên, địa chỉ , tư cách pháp nhân .



-



Mục đích sử dụng: Khách hàng phải ghi rõ vay để làm gì.



-



Số lượng cho vay: Là số tiền (hoặc hạn mức cho vay) ngân hàng cam kết cấp cho khách

hàng. Số lượng này có thể được chia nhỏ trong các khoảng thời gian khác nhau và dưới

các hình thức tiền tệ khác nhau.



-



Lãi suất: Hợp đồng cho vay phải ghi rõ lãi suất mà khách hàng trả đồng thời xác định tính

chất của lãi suất (là lãi suất cố định hay biến đổi trong suốt kì hạn cho vay). Nếu lãi suất

có thay đổi thì phải xác định rõ các điều kiện thay đổi đó.



-



Phí : Để có được các cam kết tín dụng có thể khách hàng phải trả cho ngân hàng một

khoản phí (ví dụ, phí cam kết) được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên hạn mức cam kết. Mức

phí và các điều kiện nộp phải được thể hiện trong Hợp đồng cho vay.



-



Thời hạn cho vay: Ngân hàng thường xác định rõ thời hạn tín dụng trong hợp đồng như tài

trợ trong 6 tháng, 9 tháng, 2 năm… kể từ lúc khoản cho vay đầu tiên được phát ra đến khi



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



15



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



người vay trả toàn bộ gốc và lãi. Cũng có trường hợp thời hạn không xác định cụ thể trước

mà tuỳ theo thời gian luân chuyển của vật tư hàng hoá là đối tượng tài trợ của ngân hàng.

-



Các loại đảm bảo: Hợp đồng tín dụng có thể ghi rõ các loại đảm bảo (nếu có) cho các

khoản cho vay (kèm theo các hợp đồng phụ) như hợp đồng bảo lãnh ,vật tư hàng hoá trong

kho, tài sản cố định, hoặc các chứng khoán có giá… Các nội dung quan trọng liên quan

đến các đảm bảo như quyền sở hữu, quyền chuyển nhượng hoặc bán, định giá, bảo hiểm,

người bảo quản, quyền sử dụng đối với các đảm bảo… đều phải được xác định và ghi rõ

trong hợp đồng cho vay.



-



Giải ngân: Hợp đồng cho vay thường xác định các điều kiện và kì hạn giải ngân. Thường

các khoản cho vay nhỏ và trong thời gian ngắn, ngân hàng cấp tiền vay một lần vào đầu kì.

Đối với các khoản vay lớn và trong thời gian dài, ngân hàng cấp tiền theo nhiều kì hạn và

với các điều kiện cụ thể của mỗi lần cấp vốn.



-



Điều kiện thanh toán: Bao gồm thanh toán tiền gốc và lãi. Ngân hàng và khách hàng thoả

thuận về cách thức thanh toán gốc và lãi (ngày trả và cách trả) .



-



Các điều kiện khác: Tuỳ thuộc điều khoản cuối cùng song rất quan trọng, bao gồm các

thoả thuận giữa ngân hàng cho vay và khách hàng về ưu tiên thanh toán, kiểm soát tài sản

thế chấp và các hoạt động khác của người vay, phong toả tài sản, điều kiện và phương

thức phát mại tài sản, nộp báo cáo định kì, phạt vi phạm hợp đồng…

Bước 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cho vay

Sau khi hợp đồng cho vay đã được kí kết, ngân hàng phải có trách nhiệm cấp tiền

(hoặc thanh toán tiền hàng) cho khách hàng như thoả thuận. Kèm theo việc cho vay, ngân

hàng kiểm soát khách hàng: Sử dụng tiền vay có đúng mục đích, đúng tiến độ hay không?

Quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm

ăn thua lỗ không?... Quá trình này cho phép ngân hàng có cơ hội thu thập thêm các thông

tin về khách hàng. Nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt, cho thấy chất lượng cho

vay đang được đảm bảo. Ngược lại, khi chất lượng khoản cho vay bị đe doạ ngân hàng cần

có các biện pháp xử lí kịp thời. Ngân hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn hoặc ngừng

giải ngân, nếu bên vay vi phạm hợp đồng cho vay. Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng

bổ sung tài sản thế chấp, giảm số tiền vay… khi thấy cần thiết để đảm bảo an toàn đối với

các khoản cho vay.

SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



16



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Bước 4: Thu nợ và đưa ra các phán quyết tín dụng mới

Quan hệ cho vay kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi. Các khoản cho vay

đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản cho vay an toàn. Một số trường hợp,

các khoản cho vay đã không hoàn trả hoặc hông hoàn trả đủ đúng hạn. Việc thanh toán các

khoản nợ không đúng hạn cho ngân hàng cho thấy các “ trục trặc” trong hoạt động của

khách hàng. Việc xem xét, tìm ra nguyên nhân là rất quan trọng để giúp ngân hàng kịp

thời đưa ra các quyết định mới liên quan đến tính an toàn của các khoản vay.

-



Trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng, cố tình nợ nần dây dưa, hoặc kinh

doanh yếu kém không còn cách cứu vãn, ngân hàng áp dụng phương án thanh lí là sử dụng

các biện pháp có thể được thu hồi khoản nợ, bao gồm phong toả và bán các tài sản thế

chấp, tước đoạt các khoản tiền gửi…



-



Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính, song vẫn cố gắng tìm cách khắc phục để

trả nợ thì ngân hàng thường áp dụng phương án khai thác, bao gồm gia hạn nợ, giảm lãi

hoặc cho vay thêm.

1.3 Hiệu quả cho vay DNNVV

1.3.1 Khái niệm về hiệu quả cho vay DNNVV



Hiệu quả tín dụng Ngân hàng là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế

trong lĩnh vực Ngân hàng, nó phản ánh chất lượng của các hoạt động tín dụng Ngân hàng.

Đó là khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tếxã hội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay đúng hạn, mang lại

lợi nhuận cho NHTM từ nguồn tích luỹ do đầu tư tín dụng và do đạt được các mục tiêu

tăng trưởng kinh tế, trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của Ngân

hàng.

Vì vậy, hiệu quả tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh khả năng thích

nghi của tín dụng Ngân hàng với sự thay đổi của các nhân tố chủ quan( khả năng quản lý,

trình độ cán bộ tín dụng Ngân hàng…), khách quan( mức độ an toàn vốn tín dụng, lợi

nhuận của khách hàng, sự phát triển kinh tế-xã hội…). Do đó hiệu quả tín dụng là kết quả

của mối quan hệ biện chứng giữa Ngân hàng- khách hàng vay vốn - nền kinh tế - xã hội.

1.3.2 Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả cho vay DNNV

1.3.2.1 Doanh số cho vay



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



17



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Doanh số cho vay phản ánh quy mô của hoạt động tín dụng. Nó phản ánh tổng số

tiền mà Ngân hàng đã cho vay trong kỳ, tính cho ngày, tháng, quý, năm. Doanh số cho vay

của một Ngân hàng cao không đồng nghĩa với hiệu quả tín dụng của Ngân hàng đó tốt vì

còn phụ thuộc vào độ rủi ro của các khoản cho vay. Tuy nhiên, nếu Ngân hàng có doanh

số cho vay cao thì có khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận



1.3.2.2 Doanh số thu nợ

Doanh số thu nợ phản ánh khả năng thu hồi nợ( gốc và lãi ) của Ngân hàng.

Ngân hàng có hiệu quả tín dụng cao khi có doanh số cho vay lớn và doanh số thu nợ cao.

1.3.2.3 Tổng số dư nợ



Là chỉ tiêu phản ánh số tiền mà Ngân hàng hiện đang cho vay tính đến thời điểm

cụ thể. Dư nợ là chỉ tiêu tích lũy qua các kỳ.

Dư nợ

cuối kỳ



=



Dư nợ đầu

kỳ



Doanh số cho vay



+



trong kỳ



-



Doanh số thu nợ

trong kỳ



Dư nợ tại thời điểm tính sẽ quyết định hiệu quả tín dụng của Ngân hàng trong tương lai.

1.3.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng.



Ngoài các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng ở năm tài chính nói trên, người ta còn

sử dụng đến một số chỉ tiêu khác khi xem xét mặt hoạt động này trong một quá trình nhiều

năm đến thời điểm nghiên cứu, cụ thể là:

Nợ dưới tiêu chuẩn

x 100

Tổng dư nợ

Nợ nghi ngờ

Tỷ lệ nợ nghi ngờ ( % )

=

x 100

Tổng dư nợ

Nợ được xếp loại tổn thất

Tỷ lệ nợ tổn thất( % )

=

x 100

Tổng dư nợ

Quỹ dự phòng rủi ro

Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro( %)

=

x 100

Tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ giữa khoản nợ gốc quá hạn ( hoặc tính cả tiền lãi quá hạn)

Tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn



=



trên tổng dư nợ. Phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ mà Ngân hàng có thể mất

vốn một phần hoặc toàn bộ. Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng để đánh hiệu quả tín

dụng. Tỷ lệ nợ quá hạn tại thời điểm tính thấp biểu thị độ an toàn tín dụng tại Ngân hàng

cao và ngược lại. Tuy nhiên, tỷ lệ này không xét đến các khoản tín dụng có nguy cơ quá

hạn. Do đó, nếu các khoản cho vay tăng nhanh thì tỷ lệ này có thể phản ánh không chính

SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



18



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



xác chất lượng tín dụng. Tổng dư nợ tăng lên trong khi đó số nợ đến hạn chỉ tăng khi các

khoản nợ đến kỳ hạn phải trả. Phân tích tình hình nợ quá hạn để biết chất lượng tín dụng,

khả năng rủi ro, hiệu quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng, từ đó có biện pháp khắc

phục trong tương lai.



1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay DNNVV

1.3.3.1 Nhân tố chủ quan



Chính sách tín dụng



Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với một khách

hàng, kỳ hạn của khoản tín dụng, lãi suất cho vay và mức lệ phí, các loại cho vay được

thực hiện, sự đảm bảo và khả năng thanh toán nợ của khách hàng, hướng giải quyết phần

tín dụng vượt giới hạn, các khoản nợ có vấn đề…

Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của ngân hàng và nó có ảnh hưởng

trực tiếp đến việc mở rộng tín dụng DNNVV. Một chiến lược hoạt động đúng đắn, với tầm

nhìn dài hạn và có những bước đi vững chắc, một chính sách tín dụng phù hợp sẽ là kim

chỉ nam cho hoạt động cho vay đúng hướng, thúc đẩy hoạt động tín dụng phát triển ổn

định, bền vững, ngược lại sẽ kìm hãm tăng trưởng, mở rộng tín dụng.





Quy trình cho vay

Mỗi đối tượng khách hàng khác nhau đều có đặc điểm hoạt động sản xuất kinh



doanh khác nhau, trình độ quản lý khác nhau dẫn đến nhu cầu vay vốn cũng như khả năng

đáp ứng những yêu cầu mà ngân hàng đặt ra cũng khác nhau (như các yêu cầu về tài sản

đảm bảo, lập dự án, qui định sổ sách hạch toán kế toán, yêu cầu về công tác kiểm toán...).

Vì vậy quy trình, thủ tục cho vay cần xây dựng phù hợp, áp dụng linh hoạt đối với mỗi

khách hàng trên cơ sở hai bên cùng có lợi.

Mặt khác, hoàn thành tốt quy trình cho vay trong tất cả các bước từ điều tra, thẩm

định, quyết định cho vay, giải ngân và xử lý thu hồi nợ là nhằm hạn chế những rủi ro có

thể xảy ra đảm bảo an toàn vốn vay, cũng là thực hiện mở rộng cho vay nhưng vẫn đảm

bảo an toàn và hiệu quả.





Hệ thống thông tin tín dụng

Hoạt động cho vay của NHTM là một hoạt động không hề đơn giản. Trên thực tế,



không phải doanh nghiệp nào cũng sử dụng vốn đúng mục đích. Vì thế, hoạt động cho vay

của NHTM muốn đạt được hiệu quả cao, an toàn thì cần phải có hệ thống thông tin là một



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

×