1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG III: CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG – VPBANK CHI NHÁNH HÀ TĨNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (379.58 KB, 53 trang )


Khoa Tài chính – Ngân hàng



37



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



3.1.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân

3.1.2.1 Những hạn chế



Tuy đã đạt được một số thành công nhưng công tác tín dụng tại VPBANK chi

nhánh Hà Tĩnh vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần được khắc phục như sau :





Cơ cấu cho vay chưa có sự đa dạng chủ yếu vẫn là doanh nghiệp thương mại, dịch vụ

chiếm khoảng hơn 60% trong tổng số các loại hình doanh nghiệp mà Ngân hàng cho vay,

chính điều này đã dẫn đến mất cân đối trong công tác tín dụng, ảnh hưởng đến công tác tín

dụng.







Doanh số cho vay đều tăng trưởng qua các năm xong chưa thực sự đều đặt, trong năm

2011 doanh số cho vay đã giảm hơn so với năm trước đó, tốc độ tăng trưởng của doanh số

cho vay cũng không đều nhau.







Tuy tỷ lệ các loại nợ xấu không cao chưa đến 4% tổng dư nợ, nhưng nó cũng là một yếu tố

khiến cho hiệu quả tín dụng của chi nhánh Ngân hàng bị giảm.

3.1.2.2 Nguyên nhân



 Nguyên nhân chủ quan:



+ Nguyên nhân từ phía Ngân hàng:

-Theo quy định hiện nay, có tài sản thế chấp là một điều kiện bắt buộc để một

DNNVV vay vốn Ngân hàng. Thông thường khách hàng cũng chỉ nhận được một khoản

vay từ 50%-70% giá trị tài sản thế chấp. Mà tài sản thế chấp lại là một vấn đề khó khăn

đối với các DNNVV chính vì vậy các doanh nghiệp rất khó tiếp cận được với vốn Ngân

hàng .

- Chất lượng công tác thẩm định khách hàng còn nhiều hạn chế, cán bộ tín dụng

chủ yếu dựa vào thông tin từ các báo cáo tài chính do khách hàng mang đến. Trong khi,

tính trung thực từ nguồn thông tin này là không đảm bảo.

- Ngoài ra công tác Marketing tiếp xúc khách hàng còn nhiều hạn chế. Nhiều

khách hàng còn chưa nắm được các thông tin về thủ tục, quy trình cho vay các giấy tờ hồ

sơ cần thiết để được vay vốn Ngân hàng nên phải đi lại nhiều lần, mất thời gian và chi phí

cho cả hai bên. không những thế nó còn tạo nên tâm lý ngại tiếp xúc với các Ngân hàng

của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay chủ yếu quan

hệ với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài chưa biết rõ hoạt động của các Ngân hàng

trong nước.



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



38



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



- Ngân hàng chưa chú trọng đến việc đa dạng hóa cho vay theo các nghành nghề

khác nhau,đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực nông lâm thủy sản Ngân

hàng còn chưa chú ý đến.

+ Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp:

- Tình hình sản xuất kinh doanh thường không ổn định. Bên cạnh đó còn tồn tại

một số doanh nghiệp làm ăn phi pháp, buôn lậu,lừa đảo, trong quá trình kinh doanh

thường chiếm dụng vốn của các đối tác kinh doanh , đến khi mất khả năng thanh toán thì

lừa đảo Ngân hàng , giả mạo giấy tờ xin vay vốn rồi bỏ trốn. Vì vậy đã tạo nên một ấn

tượng không tốt về đối tượng khách hàng này.

- Khó khăn lớn nhất DNNVV là không đủ điều kiện để vay vốn Ngân hàng. Nhiều

doanh nghiệp mới thành lập,uy tín chưa đủ, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, tình hình tài

chính chưa ổn định nên chưa đáp ứng được các yêu cầu của Ngân hàng . Nhiều doanh

nghiệp có nhu cầu vay vốn nhưng không đủ tài sản thế chấp hoặc có tài sản nhưng lại

thiếu giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp tài sản đó.

- Nguyên nhân nữa có thể kể đến đó là do sự yếu kém về năng lực quản lí điều

hành của các chủ doanh nghiệp.

 Nguyên nhân khách quan.



- Sự ra đời của hai Luật ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng đã tạo một hành

lang pháp lý cho hoạt động của các Ngân hàng thương mại, định hướng cho các Ngân

hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Tuy hệ thống văn bản liên quan tới hoạt động của

Ngân hàng đã được cải tiến nhiều nhưng vẫn còn chưa đồng bộ và khoa học, chưa đủ sức

điều chỉnh những diên biến phức tạp trong hoạt động thực tế của các Ngân hàng. Giữa hai

luật Ngân hàng và các luật khác có liên quan như Luật hình sự, dân sự, Luật đất đai, luật

doanh nghiệp , luật thuế lại đang có những điểm chưa đồng bộ. Luật đất đai liên quan đến

tài sản thế chấp, cầm cố, luật dân sự liên quan đến xử lý tài sản đảm bảo tiền vay, pháp

lệnh phá sản không bảo vệ quyền lợi cho Ngân hàng . Nhiều trường hợp quan hệ tín dụng

bị hình sự hoá khi xảy ra rủi ro. Thêm vào đó là Ngân hàng bị khống chế mức dư nợ đối

với khách hàng do Luật các tổ chức tín dụng quy định.

- Do tình trạng khó khăn khách hàng như: ốm đau, mất việc làm, hay ro thiên tai lũ

lụt xảy ra bất ngờ mà các doanh nghiệp không thể ứng phó gây nên tình trạng tổn thất

trong hoạt động sản xuất kinh doanh.



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



39



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



3.2 Định hướng phát triển hoạt động cho vay DNNVV của VPBANK chi nhánh Hà



Tĩnh

Mục tiêu



3.2.1



Từ những thành công đã đạt được trong năm 2012 và cả các năm trước đó Ngân

hàng Việt Nam thịnh vượng chi nhánh Hà Tĩnh đã đề ra các mục tiêu phấn đấu trong năm

2012 là:

- Nguồn vốn: 6,300 tỷ đồng( tăng 16%) trong đó tiền gửi dân cư chiếm 50% tương

đương với 3,150 tỷ đồng.

- Dư nợ: 2,365 tỷ đồng trong đó tỷ lệ dư nợ trung dài hạn chiếm 45%, dư nợ cho

vay khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh cho vay tiêu dung cầm cố, đời sống chiếm 40%

tổng dư nợ.

- Tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.

- Tỷ lệ thu dịch vụ từ 12% - 15% tổng dư nợ ròng.

- Tài chính: Đảm bảo có đủ về tài chính để chi lương cho cán bộ công nhân viên

theo quy định và làm các nghĩa vụ đối với nhà nước đầy đủ.

3.2.2



Định hướng hoạt động kinh doanh

- Về công tác nguồn vốn:

+ Làm tốt công tác phát triển sản phẩm như tổ chức tốt các đợt huy động vốn, xây



dựng kế hoạnh phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn tại Chi nhánh như kỳ phiếu với lãi xuất

hấp dẫn, kỳ hạn phù hợp và đợt tiết kiệm dự thưởng chào mừng 15 ngày thành lập Thành

phố Hà Tĩnh nhằm giữ vững thị phần về nguồn vốn dân cư trên địa bàn; thường xuyên tổ

chức phân tính nghiên cứu các sản phẩm cạnh tranh của các TCTD khác để xây dựng các

sản phẩm huy động vốn mới, tiếp tục triển khai tốt hình thức tiết kiệm bậc thanh mở rộng

thêm một số ưu đãi.

+ Củng cố giữ vững và phát triển thị phần tại các đơn vị mạng lưới, có kế hoạnh

nhằm nâng cao năng lực hoạt động của Chi nhánh cấp 2 ngang tầm nhiệm vụ mới.

+ Thường xuyên theo dõi biến động lãi suất để xây dựng biểu lãi suất của Chi

nhánh phù hợp với biến động của thị trường.

- Về công tác tín dụng:

+ Mở rộng tín dụng trên cơ sở đảm bảo phù hợp với tốc độ tăng trưởng nguồn vốn,

đảm bảo chất lượng và an toàn hoạt động, cơ cấu vốn hợp lý theo đúng.

+ Chuyển đổi cơ cấu đầu tư tập trung vào các hoạt động mang tính hiệu quả cao

như chuyển sang vay đồng nội tệ, cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm hàng xuất

SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



40



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



khẩu, đàm phán với doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh lãi suất vay và cùng chịu phí mua

bán ngoại tệ với Chi nhánh.

+ Thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo đúng yêu cầu, xây dựng

và triển khai phương án xử lý nợ xấu, giảm nợ xấu đi đôi với xây dựng cơ chế kiểm soát,

giám sát hữu hiệu chất lượng tín dụng.

+ Tăng trưởng tín dụng, mở rộng kinh doanh phải gắn liền kiểm tra, kiểm soát chặt

chẽ, đảm bảo có hiệu quả, phải kiểm soát được vốn đã cho vay, coi trọng công tác thẩm

định cho vay từ hồ sơ pháp lý đến hồ sơ vay vốn.

+ Hàng tháng tổ chức phân tích nợ đến hạn, nợ quá hạn, nợ đã xử lý rủi ro, có các

biện pháp thu hồi nợ triệt để, giảm tỷ lệ nợ cấu nhằm tăng năng lực tài chính.

- Về các công tác khác tiếp tục đẩy mạnh và phát huy những mặt tích cực nhằm

phát huy những kết quả tốt đẹp của các năm trước đây và xem xét khắc phục những mặt

còn yếu kém còn chưa phù hợp để có những quyết sách đúng đắn trong quá trình hoạt

động của mình.

3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay DNNVV tại VPBANK chi nhánh



Hà Tĩnh

3.3.1

Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, cải tiến thủ tục hồ sơ cho vay theo

hướng đơn giản hóa, linh hoạt và thuận lợi nhất cho DNNVV

Chi nhánh cần xây dựng chính cho mình một sách tín dụng nói chung và tín dụng

DNNVV nói riêng trong từng giai đoạn, thời kỳ cụ thể. Chính sách này cần được xây

dựng trên cơ sở mục tiêu nhất quán đối với DNNVV, định hướng phát triển kinh tế xã hội

của địa phương, mục tiêu phát triển của ngành Ngân hàng, xu hướng phát triển kinh tế

trong nước và thế giới và phù hợp với những điều kiện sẵn có của bản thân Chi nhánh.

Mở rộng tín dụng DNNVV trên cơ sở nguồn vốn và kiểm soát chất lượng tín dụng,

Mở rộng cấp tín dụng đến mọi đối tượng khách hàng, theo đó không chỉ dừng lại ở khối

khách hàng doanh nghiệp, cá nhân mà VP Bank Hà Tĩnh còn cấp tín dụng hỗ trợ ngân

sách tỉnh, các đơn vị sự nghiệp công lập và các định chế tài chính thay vì chỉ cấp tín dụng

cho các doanh nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực công, thương nghiệp như trước đây.

Phát triển hoạt động tín dụng đối với DNNVV trên cơ sở phải sàng lọc, lựa chọn các

DNNVV truyền thống, chiến lược, có uy tín, hoạt động hiệu quả ở các lĩnh vực có nhiều lợi

thế và triển vọng về hợp tác trong tương lai, có chính sách cung ứng, hỗ trợ sản phẩm trên cơ



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



41



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



sở cung ứng trọn gói kết hợp cho vay với phát triển dịch vụ, cơ cấu lại hoạt động tín dụng và

các hoạt động khác nhằm đạt mục tiêu phân tán rủi ro và tối đa hoá lợi nhuận.

Trong lúc tình hình kinh tế có nhiều khó khăn, VP Bank Hà Tĩnh nên có chính

sách tín dụng thay đổi linh động, phù hợp, nhất quán với toàn hệ thông ngân hàng Công

Thương. Chi nhánh có thể hỗ trợ lãi suất cho các DNNVV để vượt qua khó khăn, cùng với

việc đồng hành, tháo gỡ khó khăn cùng các doanh nghiệp như cơ cấu lại các khoản nợ gốc,

nợ lãi, giải quyết hàng tồn kho, hỗ trợ duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp; tiếp tục đầu tư để hoàn thành dự án đưa vào khai thác, thực hiện miên giảm lãi

trong hạn, quá hạn tạo điều kiện để doanh nghiệp, khách hàng trả được nợ gốc, như hệ

thống VP Bank đã liên tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay với các đối tượng khách hàng.

Cụ thể cùng với chỉ đạo của NHNN về hạ lãi suất, CN có thể thực hiện giảm lãi

suất. Như trong tháng 3, 4, 5 và 6/2012, NHNN liên tục giảm lãi suất từ mức 14% xuống

mức 11% (mỗi lần giảm 1% và lần cuối cùng vào ngày 08/6/2012).

Trong điều kiện trên, VP Bank chi nhánh Hà Tĩnh có thể triển khai liên tiếp các gói

tín dụng hỗ trợ lãi suất cho các đối tượng khách hàng từ doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp

nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân. Nhiều chương trình cho vay ưu đãi, tri ân khách hàng

dành cho các đối tượng khách hàng doanh nghiệp, cá nhân trong các lĩnh vực sản xuất

kinh doanh với mức lãi suất có thể từ 8%-8,5%.

Với việc đáp ứng nguồn vốn kịp thời nhiều doanh nghiệp trước nguy cơ phá sản đã

phục hồi sản xuất, người lao động có việc làm trở lại, doanh nghiệp được sự giúp đỡ từ

phía ngân hàng có tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tốt lên sẽ giúp ngân hàng tránh

được những rủi ro từ những khoản vay của DN, có được điều này là do NH đã áp dụng

chính sách tín dụng hợp lý, giúp nâng cao chất lượng tín dụng. Cần lưu ý là các hành động

này tùy vào từng giai đoạn cụ thể của nền kinh tế và chính sách cần nhất quán với hệ

thống NHNN và VP Bank.

Ngoài ra, việc làm rất cần thiết của Ngân hàng để đổi mới quy trình cho vay là

thực hiện đơn giản hóa thủ tục cho vay, chú trọng những nội dung cần thiết, loại bỏ nhưng

nội dung không cần thiết. Thực tế đã chứng minh, thủ tục vay vốn phức tạp làm cho khách

hàng cảm thấy phiền hà, rắc rối nhưng đây cũng không phải là điều kiện tiên quyết làm

giảm rủi ro cho Ngân hàng mà chỉ làm cho khách hàng e ngại, hạn chế khách hàng đến với

SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



42



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Ngân hàng. Để giảm thiểu rủi ro cũng như dê dàng trong quản lý và để chứng minh việc

người vay đã nhận tiền thì phần theo dõi tiền vay cần được thiết kế đầy đủ các nội dung

như ngày, tháng, năm, số chứng từ, số tiền vay, số tiền đã nhận, chữ ký người nhận,… để

mỗi lần nhận tiền vay, người vay chỉ ký tên mình vào phần theo dõi tiền vay là đủ mà

không cần phải viết giấy nhận nợ như vẫn thường làm.

Ngân hàng cần không ngừng hoàn thiện, bổ sung và cải thiện hệ thống đánh giá

chấm điểm khách hàng DNNVV sao cho phù hợp với thực trạng của DNNVV về mọi mặt

như tài sản thế chấp, hệ thống kế toán…giúp cho quá trình thẩm định món vay, phê duyệt

cho vay được nhanh chóng, hiệu quả.

3.3.2



Thực hiện linh hoạt các đảm bảo trong kinh doanh tín dụng



a) Áp dụng nghị định 178/1999/NĐ- CP qui định về bảo đảm tiền vay trong

hoạt động tín dụng.

Ngày 29 tháng 12 năm 1999, Chính phủ đã ban nghị định số 178/1999/NĐ- CP qui

định về bảo đảm tiền vay trong việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của các tổ chức

tín dụng đối với khách hàng vay theo qui định của luật các tổ chức tín dụng. Đây là văn

bản pháp lí quan trọng có hiệu lực từ ngày 13 tháng 01 năm 2000 hướng dẫn các tổ chức

tín dụng các biện pháp bảo đảm nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lí để

thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.

Nghị định 178 ra đời đánh dấu sự phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt

nam về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. So với các qui định trước đây của pháp

luật thì nghị định 178 có nhiều điểm thông thoáng và cởi mở hơn trong việc nhận thế chấp,

cầm cố, bảo lãnh và sử lí tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. Cụ thể, là

nguyên tắc tự do bình đẳng trong kinh doanh được tôn trọng: các doanh nghiệp nhà nước

cũng như các thành phần kinh tế khác vay vốn Ngân hàng thương mại quốc doanh đều

phải thế chấp cầm cố tài sản hoặc phải được bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản để bảo đảm

thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ngoại trừ trường hợp khách hàng được tổ chức tín dụng cho vay

có bảo đảm tài sản được hình thành từ vốn vay hoặc cho vay không có bảo đảm bằng tài

sản theo qui định của pháp luật. Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho

vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm theo quy định của pháp luật và tự

chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trong trường hợp khách hàng không trả được

nợ theo cam kết, Ngân hàng có quyền chủ động sử lí tài sản bảo đảm tiền vay thu hồi nợ;

trước tiên, tài sản bảo đảm tiền vay được sử lí theo phương thức đã thoả thuận trong hợp



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



43



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



đồng. Trường hợp các bên không sử lí được tài sản bảo đảm tiền vay theo thoả thuận, thì

tổ chức tín dụng có quyền bán, chuyển nhượng tài sản cầm cố thế chấp để thu hồi nợ hoặc

chuyển giao quyền thu hồi nợ và uỷ quyền cho bên thứ ba xử lí tài sản bảo đảm tiền vay.

b) Bảo đảm bằng bất động sản.



Mục đích của tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế nói chung và đối với các

DNNVV nói riêng đó là: Phát triển kinh tế có lợi nhuận hợp lý, an toàn vốn, tuân thủ pháp

luật. Chất lượng tín dụng ngân hàng phải dựa trên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp, vì vậy đứng trước một nhu cầu xin vay vốn của Ngân hàng thì đầu tiên cán bộ tín

dụng cần phải quan tâm đến không phải là tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng mà

chính là dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng.

Tính khả thi của dự án, phương án là nhân tố quyết định đến việc khách hàng có

khả năng trả được nợ Ngân hàng hay không. Tài sản bảo đảm tiền vay chỉ là phương tiện

cuối cùng, là nguồn trả nợ thứ hai để giúp Ngân hàng không bị mất vốn khi chẳng may rủi

ro xảy ra. Một điều chắc chắn rằng trước khi cho vay không một tổ chức tín dụng nào lại

muốn phải sử lí tài sản bảo đảm nợ vay của doanh nghiệp để thu hồi nợ, đây là điều bất

đắc dĩ.

Thực tế, ở địa bàn Thành phố phần lớn nhà ở, cửa hàng của các DNNVV, hộ gia

đình chưa có giấy tờ về quyền sử dụng đất và sở hữu nhà hợp pháp hoặc có giấy tờ nhưng

chưa đúng qui định hiện hành. Mặc dù nhà xưởng, cửa hàng, nhà ở do các cơ sở hoặc các

hộ xây dựng bằng vốn tự có của mình, hoặc mua lại từ người khác, đã có thời gian ở và

kinh doanh lâu năm ở đó được sự xác nhận của chính quyền địa phương. Các trường hợp

này nếu cứng nhắc trong việc nhận tài sản thế chấp theo qui định thì chi nhánh không thể

cho vay được. Nhưng ở đây chi nhánh có thể dựa vào các giấy tờ của chính quyền địa

phương và các loại giấy tờ khác chứng minh được nguồn gốc nhà sở hữu chính chủ, không

phải nhà đi thuê, nhảy dù, hoặc nhà vắng chủ bị lấn chiếm, nhà có tranh chấp... Nhiều

trường hợp phải tìm hiểu tại các cơ quan chức năng như sở thiết kế, sở nhà đất, sở địa

chính để loại trừ không cho vay đối với thế chấp nhà, đất thuộc khu vực đã được quy

hoạch hoặc khu vực giải toả.

Sau khi xác định được tính hợp pháp về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

của người vay để Ngân hàng nắm được căn cứ pháp lý, tất cả các món vay đều yêu cầu

người vay tự viết đơn theo hướng dẫn của cán bộ tín dụng. Trong đơn phải ghi rõ nội

dung: Chúng tôi ( vợ, chồng, con) xin cam đoan trước Ngân hàng và các cơ quan pháp luật

tài sản( nhà xưởng, nhà ở, cửa hàng ) thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình chúng tôi,



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



44



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



chưa chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn liên doanh hoặc cho tặng người khác... Nếu nợ

đến hạn chúng tôi không trả được tiền gốc và lãi thì Ngân hàng có toàn quyền sử lí tài sản

trên để thu hồi nợ gốc và lãi. Chúng tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về những

lời cam kết trên... Người vay và những người đồng sở hữu có tên trên hộ khẩu phải ký vào

đơn trước sự chứng kiến của cán bộ tín dụng và chính quyền địa phương.



c) Bảo đảm bằng máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất.

Đối với tài sản là máy móc thiết bị, dây truyền sản xuất, khi thế chấp Ngân hàng

niêm phong máy móc dây truyền sản xuất, làm như vậy thì đảm bảo được tài sản thế chấp,

nhưng doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, như vậy cơ sở để hoàn trả vốn Ngân hàng là

không có hoặc hạn chế. Còn để máy móc dây truyền tiếp tục hoạt động thì việc hỏng hóc

nặng nhiều khi xảy ra làm máy móc thiết bị hết giá trị. Để khắc phục được vấn đề này thì

Ngân hàng tiến hành phân loại, lựa chọn khách hàng của mình, tìm những khách hàng đủ

tin cậy, tạo điều kiện cho họ được tiếp tục khai thác trên dây truyền thiết bị đó, nhưng phải

cam kết bảo quản sửa chữa máy móc thiết bị khi có sự cố xảy ra và bắt buộc khách hàng

phải gửi tiền khấu hao tài sản thế chấp vào Ngân hàng hàng tháng và cam kết phải trả cho

Ngân hàng nếu nếu rủi ro xảy ra.

Ngân hàng sẽ lập cho khách hàng một tài khoản riêng để quản lí khoản tiền này

dưới dạng tiền gửi tiết kiệm và trả lãi lãi cho khách hàng như mức huy động vốn trên thị

trường làm như vậy thì mặc dù Ngân hàng cho phép khách hàng có thể tiếp tục sử dụng tài

sản thế chấp để không làm gián đoạn công việc sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến việc

trả nợ Ngân hàng, nhưng Ngân hàng vẫn đảm bảo an toàn được vốn ở chỗ Ngân hàng vẫn

có thêm được một nguồn tiền gửi ổn định hàng tháng( nếu dây truyền thiết bị là có giá trị

và với nhiều khách hàng được áp dụng thì nguồn tiền này mỗi tháng là không nhỏ ), trong

trường hợp khách hàng làm hư hại nghiêm trọng không thể phục hồi lại tài sản thế chấp thì

Ngân hàng sẽ lấy số tiền phát mại tài sản thế chấp và có thể lấy toàn bộ hoặc một phần số

tiền từ nguồn tiền gửi khấu hao đã cam kết trong hợp đồng trên( trong trường hợp còn

thiếu), đây là biện pháp đảm bảo tương đối chắc chắn là Ngân hàng sẽ thu hồi được vốn.

Tuy nhiên, như đã nói ở phần trước việc Ngân hàng có thu được gốc và lãi hay không phải

căn cứ vào tính khả thi của dự án chứ không nên đặt vấn đề tài sản thế chấp lên hàng đầu

như là một cái lá chắn để bao bọc đồng vốn của Ngân hàng.



d) Bảo đảm bằng các hình thức khác.



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



45



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Bên cạnh đó, chi nhánh áp dụng hình thức mới để tạo ra một lối thoát cho các

DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, tiểu

thủ công nghiệp đó là việc thế chấp bằng hàng hoá mua về cơ sở sản xuất, kinh doanh:

Có thể nói thủ tục về tài sản thế chấp hiện nay vẫn còn là rào cản các DNNVV.

Hiện nay các doanh nghiệp này có vốn và tài sản rất thấp nên khi sử dụng tài sản để thế

chấp thì vay được một lượng vốn rất thấp so với năng lực sản xuất kinh doanh của họ. Do

đó các doanh nghiệp này thường phải tham gia vay nóng trên thị trường tự do điều đó sẽ

làm giá thành, chi phí sản xuất của doanh nghiệp cao, giảm tính cạnh tranh của doanh

nghiệp trên thị trường, từ đó dẫn tới chỗ phá sản, giải thể, Ngân hàng không thu hồi được

nợ, gây mất ổn định cho nền kinh tế.

Thực tế cho thấy năng lực sản xuất kinh doanh của các DNNVV thường lớn hơn

nhiều so với tài sản thực có của họ. Bởi vậy muốn mở rộng được tín dụng Ngân hàng đồng

thời tạo ra được lối thoát cho các doanh nghiệp, Ngân hàng nghiên cứu áp dụng hình thức

cho vay có thế chấp bằng hàng hoá, nghiệp vụ này được tóm tắt như sau: Doanh nghiệp

cần một khối lượng vốn để mua nguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất hoặc

mua hàng hoá dự trữ để bán... Ngân hàng có thể giải quyết cho vay hay không căn cứ vào

số vốn mà doanh nghiệp cần vay, tính khả thi của việc sản xuất, kinh doanh hàng hoá và

mức độ tiêu thụ sắp tới của nó trên thị trường. Khi Ngân hàng đánh giá là dự án khả thi thì

sẽ tiến hành cấp vốn và cử một hoặc hai cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn phụ trách

( tuỳ thuộc vào khối lượng công việc và tính chất của phương án sản xuất kinh doanh ).

Khi hàng hoá được nhập kho thì Ngân hàng và doanh nghiệp cùng kiểm duyệt

niêm phong. Ngân hàng có thể giữ chìa khoá hoặc thoả thuận với doanh nghiệp thuê địa

điểm ở một nơi thứ ba và giao cho nơi này quản lý, bảo vệ số hàng hoá nói trên . Khi

doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng, tiêu thụ hàng hoá thì phải có sự giám sát, quản lí của

Ngân hàng ( Khi nguyên vật liệu hoặc hàng hoá xuất kho phải được sự đồng ý của Ngân

hàng ), tiền bán hàng thu được hàng ngày cán bộ tín dụng phụ trách phải theo dõi thường

xuyên, yêu cầu khách hàng gửi vào một tài khoản riêng tại Ngân hàng mình để đảm bảo

thu hồi lại được vốn đã cho vay. Cuối đợt bán hàng Ngân hàng thu hồi nợ gốc và lãi đồng

thời trả lại tiền thừa từ tài khoản cho khách hàng rõ ràng với cách làm này thì Ngân hàng

không lo bị mất vốn. Với cách làm trên Ngân hàng vẫn có thường xuyên một khối lượng

tiền gửi vào hàng ngày để tiếp tục tiến hành cho vay tiếp, đồng thời doanh nghiệp vẫn duy

trì được sản xuất, mà không phải lo thiếu nguyên liệu đầu vào, các doanh nghiệp thương

mại dịch vụ vẫn không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Tóm lại đây là một cách làm có triển



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



46



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



vọng, chi nhánh cần nghiên cứu đưa vào áp dụng để mở rộng và nâng cao hiệu quả cho

vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh.



3.3.3 Giải pháp lành mạnh hóa năng lực tài chính

Phân tích, đánh giá thực trạng của các khoản nợ vay, nợ xấu từ đó trích lập quỹ dự

phòng rủi ro đầy đủ.

Đánh giá, phân tích các khoản nợ Tiềm Ẩn rủi ro, xây dựng phương án thu, giảm

dần lãi treo

Đẩy mạnh triển khai thực hiện các giải pháp đổi mới về quản trị điều hành. Thực

hiện cơ cấu lại nguồn thu theo hướng nâng cao tỷ trọng thu từ dịch vụ.

Thực hiện quản lý chỉ tiêu theo định mức, tiết kiệm chi phí.



3.3.4 Nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật và hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng phục

vụ hoạt động tín dụng

Cơ sở vật chất kỹ thuật của một Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong

công tác tín dụng, khách hàng không thể có một ấn tượng tốt đẹp về Ngân hành nếu nó

không có quy mô và hiện đại. Đôi khi khách hành đi vay Ngân hàng lại dựa chủ yếu vào

tâm lý của bản thân, chính vì thế một cơ sở hiện đại với đầy đủ các trang thiết bị, và phong

cách phục vụ chuyên nghiệp sẽ gây thiện cảm tốt đẹp cho khách hàng. Chính vì vậy Ngân

hàng cần phải không ngừng học hỏi và đầu tư những công nghệ hiện đại phục vụ hữu ích

cho quá trình hoạt động của mình. Đồng thời cải thiện hơn nữa tác phong trong công việc,

giao dịch với khách hàng cần nắm bắt tâm lý của khách hàng, thỏa mãn ở mức cao nhất

những đòi hỏi của khách hàng, giải quyết nhanh chóng các thủ tục pháp lý có thể nhằm

giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, nhằm tạo ấn tượng một Ngân hàng hiện đại và an

toàn.



3.3.5 Hoàn thiện công tác cán bộ

Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ cụ thể của từng phòng ban, từng

đơn vị trực thuộc để nâng cao khả năng tác nghiệp, tránh chồng chéo, phiền phức cho

khách hàng khi đến mở quan hệ.

Làm tốt công tác quy hoạch bổ nhiệm, miên nhiệm, điều động cán bộ theo định

hướng xuất phát từ yêu cầu công tác, quan tâm đến quyền lợi hợp pháp chính đáng của

nguời lao động, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở.

Đẩy mạnh công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ chi nhánh đặc biệt chú

trọng đào tạo tại chỗ, khuyến khích cán bộ tự học tập nhằm không nghừng nâng cao trình

độ nghiệp vụ, trình độ lý luận và thực tiên phục vụ cho công tác chuyên môn.

SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



47



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Thực hiện chăm lo đời sống, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho cán bộ

công nhân viên, tổ chức tốt các phong trào văn hóa văn nghệ thể thao giúp người lao động

gắn bó hơn với cơ quan, cùng chung sức xây dựng Ngân hàng trong sạch vững mạnh.

Phát huy mạnh mẽ các phong trào thi đua trong đó kịp thời khen thưởng động viên

các thành tích xuất sắc trong công tác và xử lý kỷ luật nghiêm minh các trường hợp vi

phạm, tạo động lực làm việc cho cán bộ Chi nhánh.



3.3.6 Đổi mới chính sách khách hàng, quảng cáo sâu rộng về chính sách chế độ, thể

lệ tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Để xây dựng được hình ảnh của Ngân hàng trong lòng người công chúng thì biện

pháp hữu hiệu nhất là quảng cáo vì vậy trong thời gian tới chi nhánh nên tiến hành một số

biện pháp như sau:

- Quảng cáo qua quan hệ giao dịch trực tiếp với khách hàng trong quá trình giải

quyết nghiệp vụ cho vay. Đây là hình thức quảng cáo đơn giản nhất và cũng là hình thức ít

tốn kém nhất nhưng hiệu quả tương đối cao. Do đó, phong cách làm việc của cán bộ tín

dụng trong giao dịch với khách hàng là rất quan trọng, đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ

giỏi về nghiệp vụ mà còn phải có thái độ tận tình lịch thiệp với khách hàng. Từ chỗ thoả

mãn một cách tốt nhất những nhu cầu của khách hàng, Ngân hàng không chỉ giữ được

những khách hàng quen thuộc mà còn thu hút thêm được những khách hàng mới tới đặt

quan hệ giao dịch từ đó mở rộng được công tác tín dụng.

- Ngoài ra hình thức quảng cáo tương đối phổ biến hiện nay là quảng cáo qua hệ

thống thông tin đại chúng như đài, báo, vô tuyến truyền hình... hình thức này tỏ ra rất có

hiệu quả trong việc tuyên truyền các thể thức giao dịch, các đợt phát hành kỳ phiếu, áp

dụng các hành thức cho vay mới... Đây là một công cụ cạnh tranh tương đối mạnh của

Ngân hàng trên thế giới nhằm khuyếch trương uy tín cũng như sản phẩm của mình trên thị

trường, tuy nhiên ở Việt nam hình thức này còn rất hạn chế, chủ yếu được tiến hành ở một

số Ngân hàng nước ngoài. Để làm được những công việc trên thì chi nhánh cũng cần phải

có một tổ chuyên nghiên cứu, thu thập những thông tin về thị trường, chi nhánh cần phải

biết được hiện nay khách hàng đang cần hình thức tín dụng nào, loại lãi suất nào là phù

hợp nhất, phương thức thu nợ gốc và lãi như thế nào được ưa chuộng hơn cả... chỉ có làm

như vậy thì Ngân hàng mới có thể là người bạn đồng hành của doanh nghiệp trong thương

trường kinh doanh.

Ngoài ra việc đổi mới chính sách khách hàng cũng đóng vai trò hết sức quan trọng:

Việc đổi mới này thu hút hơn nữa những khách hàng có uy tín đến giao dịch, mở rộng thị

SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

×