1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay DNNVV tại VPBANK chi nhánh Hà Tĩnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (379.58 KB, 53 trang )


Khoa Tài chính – Ngân hàng



41



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



sở cung ứng trọn gói kết hợp cho vay với phát triển dịch vụ, cơ cấu lại hoạt động tín dụng và

các hoạt động khác nhằm đạt mục tiêu phân tán rủi ro và tối đa hoá lợi nhuận.

Trong lúc tình hình kinh tế có nhiều khó khăn, VP Bank Hà Tĩnh nên có chính

sách tín dụng thay đổi linh động, phù hợp, nhất quán với toàn hệ thông ngân hàng Công

Thương. Chi nhánh có thể hỗ trợ lãi suất cho các DNNVV để vượt qua khó khăn, cùng với

việc đồng hành, tháo gỡ khó khăn cùng các doanh nghiệp như cơ cấu lại các khoản nợ gốc,

nợ lãi, giải quyết hàng tồn kho, hỗ trợ duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp; tiếp tục đầu tư để hoàn thành dự án đưa vào khai thác, thực hiện miên giảm lãi

trong hạn, quá hạn tạo điều kiện để doanh nghiệp, khách hàng trả được nợ gốc, như hệ

thống VP Bank đã liên tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay với các đối tượng khách hàng.

Cụ thể cùng với chỉ đạo của NHNN về hạ lãi suất, CN có thể thực hiện giảm lãi

suất. Như trong tháng 3, 4, 5 và 6/2012, NHNN liên tục giảm lãi suất từ mức 14% xuống

mức 11% (mỗi lần giảm 1% và lần cuối cùng vào ngày 08/6/2012).

Trong điều kiện trên, VP Bank chi nhánh Hà Tĩnh có thể triển khai liên tiếp các gói

tín dụng hỗ trợ lãi suất cho các đối tượng khách hàng từ doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp

nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân. Nhiều chương trình cho vay ưu đãi, tri ân khách hàng

dành cho các đối tượng khách hàng doanh nghiệp, cá nhân trong các lĩnh vực sản xuất

kinh doanh với mức lãi suất có thể từ 8%-8,5%.

Với việc đáp ứng nguồn vốn kịp thời nhiều doanh nghiệp trước nguy cơ phá sản đã

phục hồi sản xuất, người lao động có việc làm trở lại, doanh nghiệp được sự giúp đỡ từ

phía ngân hàng có tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tốt lên sẽ giúp ngân hàng tránh

được những rủi ro từ những khoản vay của DN, có được điều này là do NH đã áp dụng

chính sách tín dụng hợp lý, giúp nâng cao chất lượng tín dụng. Cần lưu ý là các hành động

này tùy vào từng giai đoạn cụ thể của nền kinh tế và chính sách cần nhất quán với hệ

thống NHNN và VP Bank.

Ngoài ra, việc làm rất cần thiết của Ngân hàng để đổi mới quy trình cho vay là

thực hiện đơn giản hóa thủ tục cho vay, chú trọng những nội dung cần thiết, loại bỏ nhưng

nội dung không cần thiết. Thực tế đã chứng minh, thủ tục vay vốn phức tạp làm cho khách

hàng cảm thấy phiền hà, rắc rối nhưng đây cũng không phải là điều kiện tiên quyết làm

giảm rủi ro cho Ngân hàng mà chỉ làm cho khách hàng e ngại, hạn chế khách hàng đến với

SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



42



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Ngân hàng. Để giảm thiểu rủi ro cũng như dê dàng trong quản lý và để chứng minh việc

người vay đã nhận tiền thì phần theo dõi tiền vay cần được thiết kế đầy đủ các nội dung

như ngày, tháng, năm, số chứng từ, số tiền vay, số tiền đã nhận, chữ ký người nhận,… để

mỗi lần nhận tiền vay, người vay chỉ ký tên mình vào phần theo dõi tiền vay là đủ mà

không cần phải viết giấy nhận nợ như vẫn thường làm.

Ngân hàng cần không ngừng hoàn thiện, bổ sung và cải thiện hệ thống đánh giá

chấm điểm khách hàng DNNVV sao cho phù hợp với thực trạng của DNNVV về mọi mặt

như tài sản thế chấp, hệ thống kế toán…giúp cho quá trình thẩm định món vay, phê duyệt

cho vay được nhanh chóng, hiệu quả.

3.3.2



Thực hiện linh hoạt các đảm bảo trong kinh doanh tín dụng



a) Áp dụng nghị định 178/1999/NĐ- CP qui định về bảo đảm tiền vay trong

hoạt động tín dụng.

Ngày 29 tháng 12 năm 1999, Chính phủ đã ban nghị định số 178/1999/NĐ- CP qui

định về bảo đảm tiền vay trong việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của các tổ chức

tín dụng đối với khách hàng vay theo qui định của luật các tổ chức tín dụng. Đây là văn

bản pháp lí quan trọng có hiệu lực từ ngày 13 tháng 01 năm 2000 hướng dẫn các tổ chức

tín dụng các biện pháp bảo đảm nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lí để

thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.

Nghị định 178 ra đời đánh dấu sự phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt

nam về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. So với các qui định trước đây của pháp

luật thì nghị định 178 có nhiều điểm thông thoáng và cởi mở hơn trong việc nhận thế chấp,

cầm cố, bảo lãnh và sử lí tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. Cụ thể, là

nguyên tắc tự do bình đẳng trong kinh doanh được tôn trọng: các doanh nghiệp nhà nước

cũng như các thành phần kinh tế khác vay vốn Ngân hàng thương mại quốc doanh đều

phải thế chấp cầm cố tài sản hoặc phải được bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản để bảo đảm

thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ngoại trừ trường hợp khách hàng được tổ chức tín dụng cho vay

có bảo đảm tài sản được hình thành từ vốn vay hoặc cho vay không có bảo đảm bằng tài

sản theo qui định của pháp luật. Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho

vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm theo quy định của pháp luật và tự

chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trong trường hợp khách hàng không trả được

nợ theo cam kết, Ngân hàng có quyền chủ động sử lí tài sản bảo đảm tiền vay thu hồi nợ;

trước tiên, tài sản bảo đảm tiền vay được sử lí theo phương thức đã thoả thuận trong hợp



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



43



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



đồng. Trường hợp các bên không sử lí được tài sản bảo đảm tiền vay theo thoả thuận, thì

tổ chức tín dụng có quyền bán, chuyển nhượng tài sản cầm cố thế chấp để thu hồi nợ hoặc

chuyển giao quyền thu hồi nợ và uỷ quyền cho bên thứ ba xử lí tài sản bảo đảm tiền vay.

b) Bảo đảm bằng bất động sản.



Mục đích của tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế nói chung và đối với các

DNNVV nói riêng đó là: Phát triển kinh tế có lợi nhuận hợp lý, an toàn vốn, tuân thủ pháp

luật. Chất lượng tín dụng ngân hàng phải dựa trên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp, vì vậy đứng trước một nhu cầu xin vay vốn của Ngân hàng thì đầu tiên cán bộ tín

dụng cần phải quan tâm đến không phải là tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng mà

chính là dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng.

Tính khả thi của dự án, phương án là nhân tố quyết định đến việc khách hàng có

khả năng trả được nợ Ngân hàng hay không. Tài sản bảo đảm tiền vay chỉ là phương tiện

cuối cùng, là nguồn trả nợ thứ hai để giúp Ngân hàng không bị mất vốn khi chẳng may rủi

ro xảy ra. Một điều chắc chắn rằng trước khi cho vay không một tổ chức tín dụng nào lại

muốn phải sử lí tài sản bảo đảm nợ vay của doanh nghiệp để thu hồi nợ, đây là điều bất

đắc dĩ.

Thực tế, ở địa bàn Thành phố phần lớn nhà ở, cửa hàng của các DNNVV, hộ gia

đình chưa có giấy tờ về quyền sử dụng đất và sở hữu nhà hợp pháp hoặc có giấy tờ nhưng

chưa đúng qui định hiện hành. Mặc dù nhà xưởng, cửa hàng, nhà ở do các cơ sở hoặc các

hộ xây dựng bằng vốn tự có của mình, hoặc mua lại từ người khác, đã có thời gian ở và

kinh doanh lâu năm ở đó được sự xác nhận của chính quyền địa phương. Các trường hợp

này nếu cứng nhắc trong việc nhận tài sản thế chấp theo qui định thì chi nhánh không thể

cho vay được. Nhưng ở đây chi nhánh có thể dựa vào các giấy tờ của chính quyền địa

phương và các loại giấy tờ khác chứng minh được nguồn gốc nhà sở hữu chính chủ, không

phải nhà đi thuê, nhảy dù, hoặc nhà vắng chủ bị lấn chiếm, nhà có tranh chấp... Nhiều

trường hợp phải tìm hiểu tại các cơ quan chức năng như sở thiết kế, sở nhà đất, sở địa

chính để loại trừ không cho vay đối với thế chấp nhà, đất thuộc khu vực đã được quy

hoạch hoặc khu vực giải toả.

Sau khi xác định được tính hợp pháp về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

của người vay để Ngân hàng nắm được căn cứ pháp lý, tất cả các món vay đều yêu cầu

người vay tự viết đơn theo hướng dẫn của cán bộ tín dụng. Trong đơn phải ghi rõ nội

dung: Chúng tôi ( vợ, chồng, con) xin cam đoan trước Ngân hàng và các cơ quan pháp luật

tài sản( nhà xưởng, nhà ở, cửa hàng ) thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình chúng tôi,



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



44



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



chưa chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn liên doanh hoặc cho tặng người khác... Nếu nợ

đến hạn chúng tôi không trả được tiền gốc và lãi thì Ngân hàng có toàn quyền sử lí tài sản

trên để thu hồi nợ gốc và lãi. Chúng tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về những

lời cam kết trên... Người vay và những người đồng sở hữu có tên trên hộ khẩu phải ký vào

đơn trước sự chứng kiến của cán bộ tín dụng và chính quyền địa phương.



c) Bảo đảm bằng máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất.

Đối với tài sản là máy móc thiết bị, dây truyền sản xuất, khi thế chấp Ngân hàng

niêm phong máy móc dây truyền sản xuất, làm như vậy thì đảm bảo được tài sản thế chấp,

nhưng doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, như vậy cơ sở để hoàn trả vốn Ngân hàng là

không có hoặc hạn chế. Còn để máy móc dây truyền tiếp tục hoạt động thì việc hỏng hóc

nặng nhiều khi xảy ra làm máy móc thiết bị hết giá trị. Để khắc phục được vấn đề này thì

Ngân hàng tiến hành phân loại, lựa chọn khách hàng của mình, tìm những khách hàng đủ

tin cậy, tạo điều kiện cho họ được tiếp tục khai thác trên dây truyền thiết bị đó, nhưng phải

cam kết bảo quản sửa chữa máy móc thiết bị khi có sự cố xảy ra và bắt buộc khách hàng

phải gửi tiền khấu hao tài sản thế chấp vào Ngân hàng hàng tháng và cam kết phải trả cho

Ngân hàng nếu nếu rủi ro xảy ra.

Ngân hàng sẽ lập cho khách hàng một tài khoản riêng để quản lí khoản tiền này

dưới dạng tiền gửi tiết kiệm và trả lãi lãi cho khách hàng như mức huy động vốn trên thị

trường làm như vậy thì mặc dù Ngân hàng cho phép khách hàng có thể tiếp tục sử dụng tài

sản thế chấp để không làm gián đoạn công việc sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến việc

trả nợ Ngân hàng, nhưng Ngân hàng vẫn đảm bảo an toàn được vốn ở chỗ Ngân hàng vẫn

có thêm được một nguồn tiền gửi ổn định hàng tháng( nếu dây truyền thiết bị là có giá trị

và với nhiều khách hàng được áp dụng thì nguồn tiền này mỗi tháng là không nhỏ ), trong

trường hợp khách hàng làm hư hại nghiêm trọng không thể phục hồi lại tài sản thế chấp thì

Ngân hàng sẽ lấy số tiền phát mại tài sản thế chấp và có thể lấy toàn bộ hoặc một phần số

tiền từ nguồn tiền gửi khấu hao đã cam kết trong hợp đồng trên( trong trường hợp còn

thiếu), đây là biện pháp đảm bảo tương đối chắc chắn là Ngân hàng sẽ thu hồi được vốn.

Tuy nhiên, như đã nói ở phần trước việc Ngân hàng có thu được gốc và lãi hay không phải

căn cứ vào tính khả thi của dự án chứ không nên đặt vấn đề tài sản thế chấp lên hàng đầu

như là một cái lá chắn để bao bọc đồng vốn của Ngân hàng.



d) Bảo đảm bằng các hình thức khác.



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



45



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Bên cạnh đó, chi nhánh áp dụng hình thức mới để tạo ra một lối thoát cho các

DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, tiểu

thủ công nghiệp đó là việc thế chấp bằng hàng hoá mua về cơ sở sản xuất, kinh doanh:

Có thể nói thủ tục về tài sản thế chấp hiện nay vẫn còn là rào cản các DNNVV.

Hiện nay các doanh nghiệp này có vốn và tài sản rất thấp nên khi sử dụng tài sản để thế

chấp thì vay được một lượng vốn rất thấp so với năng lực sản xuất kinh doanh của họ. Do

đó các doanh nghiệp này thường phải tham gia vay nóng trên thị trường tự do điều đó sẽ

làm giá thành, chi phí sản xuất của doanh nghiệp cao, giảm tính cạnh tranh của doanh

nghiệp trên thị trường, từ đó dẫn tới chỗ phá sản, giải thể, Ngân hàng không thu hồi được

nợ, gây mất ổn định cho nền kinh tế.

Thực tế cho thấy năng lực sản xuất kinh doanh của các DNNVV thường lớn hơn

nhiều so với tài sản thực có của họ. Bởi vậy muốn mở rộng được tín dụng Ngân hàng đồng

thời tạo ra được lối thoát cho các doanh nghiệp, Ngân hàng nghiên cứu áp dụng hình thức

cho vay có thế chấp bằng hàng hoá, nghiệp vụ này được tóm tắt như sau: Doanh nghiệp

cần một khối lượng vốn để mua nguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất hoặc

mua hàng hoá dự trữ để bán... Ngân hàng có thể giải quyết cho vay hay không căn cứ vào

số vốn mà doanh nghiệp cần vay, tính khả thi của việc sản xuất, kinh doanh hàng hoá và

mức độ tiêu thụ sắp tới của nó trên thị trường. Khi Ngân hàng đánh giá là dự án khả thi thì

sẽ tiến hành cấp vốn và cử một hoặc hai cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn phụ trách

( tuỳ thuộc vào khối lượng công việc và tính chất của phương án sản xuất kinh doanh ).

Khi hàng hoá được nhập kho thì Ngân hàng và doanh nghiệp cùng kiểm duyệt

niêm phong. Ngân hàng có thể giữ chìa khoá hoặc thoả thuận với doanh nghiệp thuê địa

điểm ở một nơi thứ ba và giao cho nơi này quản lý, bảo vệ số hàng hoá nói trên . Khi

doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng, tiêu thụ hàng hoá thì phải có sự giám sát, quản lí của

Ngân hàng ( Khi nguyên vật liệu hoặc hàng hoá xuất kho phải được sự đồng ý của Ngân

hàng ), tiền bán hàng thu được hàng ngày cán bộ tín dụng phụ trách phải theo dõi thường

xuyên, yêu cầu khách hàng gửi vào một tài khoản riêng tại Ngân hàng mình để đảm bảo

thu hồi lại được vốn đã cho vay. Cuối đợt bán hàng Ngân hàng thu hồi nợ gốc và lãi đồng

thời trả lại tiền thừa từ tài khoản cho khách hàng rõ ràng với cách làm này thì Ngân hàng

không lo bị mất vốn. Với cách làm trên Ngân hàng vẫn có thường xuyên một khối lượng

tiền gửi vào hàng ngày để tiếp tục tiến hành cho vay tiếp, đồng thời doanh nghiệp vẫn duy

trì được sản xuất, mà không phải lo thiếu nguyên liệu đầu vào, các doanh nghiệp thương

mại dịch vụ vẫn không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Tóm lại đây là một cách làm có triển



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



46



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



vọng, chi nhánh cần nghiên cứu đưa vào áp dụng để mở rộng và nâng cao hiệu quả cho

vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh.



3.3.3 Giải pháp lành mạnh hóa năng lực tài chính

Phân tích, đánh giá thực trạng của các khoản nợ vay, nợ xấu từ đó trích lập quỹ dự

phòng rủi ro đầy đủ.

Đánh giá, phân tích các khoản nợ Tiềm Ẩn rủi ro, xây dựng phương án thu, giảm

dần lãi treo

Đẩy mạnh triển khai thực hiện các giải pháp đổi mới về quản trị điều hành. Thực

hiện cơ cấu lại nguồn thu theo hướng nâng cao tỷ trọng thu từ dịch vụ.

Thực hiện quản lý chỉ tiêu theo định mức, tiết kiệm chi phí.



3.3.4 Nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật và hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng phục

vụ hoạt động tín dụng

Cơ sở vật chất kỹ thuật của một Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong

công tác tín dụng, khách hàng không thể có một ấn tượng tốt đẹp về Ngân hành nếu nó

không có quy mô và hiện đại. Đôi khi khách hành đi vay Ngân hàng lại dựa chủ yếu vào

tâm lý của bản thân, chính vì thế một cơ sở hiện đại với đầy đủ các trang thiết bị, và phong

cách phục vụ chuyên nghiệp sẽ gây thiện cảm tốt đẹp cho khách hàng. Chính vì vậy Ngân

hàng cần phải không ngừng học hỏi và đầu tư những công nghệ hiện đại phục vụ hữu ích

cho quá trình hoạt động của mình. Đồng thời cải thiện hơn nữa tác phong trong công việc,

giao dịch với khách hàng cần nắm bắt tâm lý của khách hàng, thỏa mãn ở mức cao nhất

những đòi hỏi của khách hàng, giải quyết nhanh chóng các thủ tục pháp lý có thể nhằm

giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, nhằm tạo ấn tượng một Ngân hàng hiện đại và an

toàn.



3.3.5 Hoàn thiện công tác cán bộ

Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ cụ thể của từng phòng ban, từng

đơn vị trực thuộc để nâng cao khả năng tác nghiệp, tránh chồng chéo, phiền phức cho

khách hàng khi đến mở quan hệ.

Làm tốt công tác quy hoạch bổ nhiệm, miên nhiệm, điều động cán bộ theo định

hướng xuất phát từ yêu cầu công tác, quan tâm đến quyền lợi hợp pháp chính đáng của

nguời lao động, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở.

Đẩy mạnh công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ chi nhánh đặc biệt chú

trọng đào tạo tại chỗ, khuyến khích cán bộ tự học tập nhằm không nghừng nâng cao trình

độ nghiệp vụ, trình độ lý luận và thực tiên phục vụ cho công tác chuyên môn.

SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



47



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



Thực hiện chăm lo đời sống, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho cán bộ

công nhân viên, tổ chức tốt các phong trào văn hóa văn nghệ thể thao giúp người lao động

gắn bó hơn với cơ quan, cùng chung sức xây dựng Ngân hàng trong sạch vững mạnh.

Phát huy mạnh mẽ các phong trào thi đua trong đó kịp thời khen thưởng động viên

các thành tích xuất sắc trong công tác và xử lý kỷ luật nghiêm minh các trường hợp vi

phạm, tạo động lực làm việc cho cán bộ Chi nhánh.



3.3.6 Đổi mới chính sách khách hàng, quảng cáo sâu rộng về chính sách chế độ, thể

lệ tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Để xây dựng được hình ảnh của Ngân hàng trong lòng người công chúng thì biện

pháp hữu hiệu nhất là quảng cáo vì vậy trong thời gian tới chi nhánh nên tiến hành một số

biện pháp như sau:

- Quảng cáo qua quan hệ giao dịch trực tiếp với khách hàng trong quá trình giải

quyết nghiệp vụ cho vay. Đây là hình thức quảng cáo đơn giản nhất và cũng là hình thức ít

tốn kém nhất nhưng hiệu quả tương đối cao. Do đó, phong cách làm việc của cán bộ tín

dụng trong giao dịch với khách hàng là rất quan trọng, đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ

giỏi về nghiệp vụ mà còn phải có thái độ tận tình lịch thiệp với khách hàng. Từ chỗ thoả

mãn một cách tốt nhất những nhu cầu của khách hàng, Ngân hàng không chỉ giữ được

những khách hàng quen thuộc mà còn thu hút thêm được những khách hàng mới tới đặt

quan hệ giao dịch từ đó mở rộng được công tác tín dụng.

- Ngoài ra hình thức quảng cáo tương đối phổ biến hiện nay là quảng cáo qua hệ

thống thông tin đại chúng như đài, báo, vô tuyến truyền hình... hình thức này tỏ ra rất có

hiệu quả trong việc tuyên truyền các thể thức giao dịch, các đợt phát hành kỳ phiếu, áp

dụng các hành thức cho vay mới... Đây là một công cụ cạnh tranh tương đối mạnh của

Ngân hàng trên thế giới nhằm khuyếch trương uy tín cũng như sản phẩm của mình trên thị

trường, tuy nhiên ở Việt nam hình thức này còn rất hạn chế, chủ yếu được tiến hành ở một

số Ngân hàng nước ngoài. Để làm được những công việc trên thì chi nhánh cũng cần phải

có một tổ chuyên nghiên cứu, thu thập những thông tin về thị trường, chi nhánh cần phải

biết được hiện nay khách hàng đang cần hình thức tín dụng nào, loại lãi suất nào là phù

hợp nhất, phương thức thu nợ gốc và lãi như thế nào được ưa chuộng hơn cả... chỉ có làm

như vậy thì Ngân hàng mới có thể là người bạn đồng hành của doanh nghiệp trong thương

trường kinh doanh.

Ngoài ra việc đổi mới chính sách khách hàng cũng đóng vai trò hết sức quan trọng:

Việc đổi mới này thu hút hơn nữa những khách hàng có uy tín đến giao dịch, mở rộng thị

SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



48



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



phần tín dụng của Ngân hàng trên địa bàn cạnh tranh ác liệt hiện nay. Trên cơ sở đó việc

đổi mới là phải tạo mọi điều kiện để phục vụ khách hàng nhanh chóng bằng công nghệ

hiện đại các tiện ích nhằm giúp các khách hàng có điều kiện cạnh tranh lành mạnh, đem

lại hiệu quả trong lĩnh vực kinh doanh. Ngân hàng phải có chính sách ưu đãi về vật chất

đối với các DNNVV, phù hợp với chiến lược kinh doanh từng thời kỳ. Những khách hàng

có uy tín, có quan hệ tín dụng thường xuyên, trả nợ gốc và lãi đúng hạn thì được giảm lãi

suất tiền vay, tăng lãi suất tiền gửi, giảm phí dịch vụ.

3.4 Một số kiến nghị

3.4.1 Kiến nghị với Chính phủ



Ngày nay nhà nước ta đã thấy tác dụng to lớn của DNNVV đối với nền kinh tế và

đã có một số biện pháp nhằm khuyến khích, hỗ trợ phát triển khu vực này. Tuy nhiên nhà

nước cần phải nâng cao vai trò của mình hơn nữa trong việc tạo ra những điều kiện thuận

lợi để Ngân hàng có thể mở rộng tín dụng đến các DNNVV, cũng như các doanh nghiệp

có thể tiếp cận dê dàng nguồn vốn hơn nữa.

+ Xúc tiến xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển khu vực DNNVV.

Nghị định 90/2001 NĐ-CP của chính phủ là một tiền đề quan trọng tạo điều kiện

cho sự ra dời và phát triển của DNNVV. Tuy nhiên để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát

triển này cần có một chiến lượng dài hơi của nhà nước, chiến lược này cần khẳng định và

nên bật tầm quan trọng của DNNVV trong nền kinh tế của đất nước ta hiện nay. Đưa ra

những hướng ưu tiên phát triển khu vực này theo nghành, vùng lãnh thổ, lĩnh vực hoạt

động sản xuất kinh doanh. Có những biện pháp khuyến khích đối với một số đối tượng là

các DNNVV sản xuất các sản phẩm thuộc ngành nghề truyền thống như mây tre đan, đồ

gỗ mỹ nghệ vv…và các sản phẩm tiêu dùng thuộc ngành công nghiệp và tiểu thủ công

nghiệp. Đồng thời có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tìm đầu ra cho

sản phẩm, hỗ trợ về mặt công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.

+ Chính sách tài chính tín dụng :

Trong những khó khăn trực tiếp tác động đến việc mở rộng tín dụng của ngân hàng

nói chung và Ngân hàng Việt Nam thịnh vượng chi nhánh Hà Tĩnh nói riêng đối với

DNNVV là chính sách tài chính tín dụng. Chính sách này thực sự nhiều bất cập, chưa

thông thoáng, chưa tạo điều kiện pháp lý để doanh nghiệp được vay vốn Ngân hàng.

Chính sách tài chính tín dụng cần được thay đổi như sau:



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



49



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



- Tiếp tục xúc tiến việc thành lập các quỹ hỗ trợ về vốn từ các nguồn Ngân sách

trung ương và địa phương. Thu hút sự tham gia đóng góp của các doanh nghiệp trong đó

có doanh nghiệp lớn và Ngân hàng để giúp đỡ DNNVV có triển vọng kinh doanh hiệu

quả, sản xuất mới, đào tạo tay nghề.

- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tín dụng Ngân hàng phù hợp với đặc điểm của các

DNNVV trên nguyên tắc vừa đảm bảo an toàn cho vốn của Ngân hàng, vừa đáp ứng nhu

cầu vốn của doanh nghiệp một cách thuận tiện và nhanh chóng. Cơ chế tín dụng thay đổi

tạo điều kiện cho phép các doanh nghiệp không có tài sản thế chấp hoặc vốn tự có đủ để

tham gia dự án xin vay, được phép vay vốn Ngân hàng nhưng cần có quy định rõ ràng

tránh việc đơn giản hoá, cho phép Ngân hàng được tự chịu trách nhiệm trong các hoạt

động kinh doanh như cho vay , huy động vốn.

+ Chính sách công nghệ:

Nhà nước cần có chủ trương biện pháp định hướng công nghệ cho các doanh

nghiệp , giúp các doanh nghiệp tiếp cận các thông tin về công nghệ trên thị trường trong

và ngoài nước. Nhà nước có thể tổ chức các buổi toạ đàm, hội thảo có sự tham gia của các

DNNVV để lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp về khó khăn trong lĩnh vực công nghệ,

đồng thời tư vấn cho họ những thông tin cần thiết, có thể phần nào hỗ trợ cho những

doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên.

Mặt khác, nhà nước thúc đẩy việc tiếp cận công nghệ của doanh nghiệp bằng cách

cải thiện điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước gia nhập thị trường theo hướng càng đơn

giản càng tốt. Các thủ tục đăng ký kinh doanh hợp lý cho phép nhiều DNNVV tham gia

thị trường. Điều này sẽ tăng cường sức cạnh tranh, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển công nghệ

mới ở tất cả các DNNVV , tạo cơ hội cho các DNNVV hỗ trợ đào tạo những nhà quản lý,

cán bộ kỹ thuật và nhân viên của DNNVV.

3.4.2



Kiến nghị với NHNN Việt Nam

+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần bổ sung và đưa ra cơ chế, biện pháp cụ thể



phù hợp với môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý, kinh tế hành chính của nước ta.

Đồng thời đi kèm với những thông tư hướng dẫn nhằm một mặt tăng cường hiệu lực trong

việc chấp hành nghiêm túc những quy chế đó, một mặt cũng đảm bảo được sự đồng bộ,

thống nhất quán triệt tư tưởng trong toàn hệ thống.

+ Ban hành cụ thể những quy định về tài sản bảo đảm, thành lập riêng trung tâm

phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thuận lợi hơn trong việc định giá lại, rao bán những



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

×