1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

4 Một số kiến nghị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (379.58 KB, 53 trang )


Khoa Tài chính – Ngân hàng



49



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



- Tiếp tục xúc tiến việc thành lập các quỹ hỗ trợ về vốn từ các nguồn Ngân sách

trung ương và địa phương. Thu hút sự tham gia đóng góp của các doanh nghiệp trong đó

có doanh nghiệp lớn và Ngân hàng để giúp đỡ DNNVV có triển vọng kinh doanh hiệu

quả, sản xuất mới, đào tạo tay nghề.

- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tín dụng Ngân hàng phù hợp với đặc điểm của các

DNNVV trên nguyên tắc vừa đảm bảo an toàn cho vốn của Ngân hàng, vừa đáp ứng nhu

cầu vốn của doanh nghiệp một cách thuận tiện và nhanh chóng. Cơ chế tín dụng thay đổi

tạo điều kiện cho phép các doanh nghiệp không có tài sản thế chấp hoặc vốn tự có đủ để

tham gia dự án xin vay, được phép vay vốn Ngân hàng nhưng cần có quy định rõ ràng

tránh việc đơn giản hoá, cho phép Ngân hàng được tự chịu trách nhiệm trong các hoạt

động kinh doanh như cho vay , huy động vốn.

+ Chính sách công nghệ:

Nhà nước cần có chủ trương biện pháp định hướng công nghệ cho các doanh

nghiệp , giúp các doanh nghiệp tiếp cận các thông tin về công nghệ trên thị trường trong

và ngoài nước. Nhà nước có thể tổ chức các buổi toạ đàm, hội thảo có sự tham gia của các

DNNVV để lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp về khó khăn trong lĩnh vực công nghệ,

đồng thời tư vấn cho họ những thông tin cần thiết, có thể phần nào hỗ trợ cho những

doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên.

Mặt khác, nhà nước thúc đẩy việc tiếp cận công nghệ của doanh nghiệp bằng cách

cải thiện điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước gia nhập thị trường theo hướng càng đơn

giản càng tốt. Các thủ tục đăng ký kinh doanh hợp lý cho phép nhiều DNNVV tham gia

thị trường. Điều này sẽ tăng cường sức cạnh tranh, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển công nghệ

mới ở tất cả các DNNVV , tạo cơ hội cho các DNNVV hỗ trợ đào tạo những nhà quản lý,

cán bộ kỹ thuật và nhân viên của DNNVV.

3.4.2



Kiến nghị với NHNN Việt Nam

+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần bổ sung và đưa ra cơ chế, biện pháp cụ thể



phù hợp với môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý, kinh tế hành chính của nước ta.

Đồng thời đi kèm với những thông tư hướng dẫn nhằm một mặt tăng cường hiệu lực trong

việc chấp hành nghiêm túc những quy chế đó, một mặt cũng đảm bảo được sự đồng bộ,

thống nhất quán triệt tư tưởng trong toàn hệ thống.

+ Ban hành cụ thể những quy định về tài sản bảo đảm, thành lập riêng trung tâm

phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thuận lợi hơn trong việc định giá lại, rao bán những



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



50



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



tài sản đó giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho các NHTM trong việc bán tài sản bảo đảm

để thu hồi vốn.

+ Ngân hàng Nhà nước nên có cơ chế cho vay riêng đối với các doanh nghiệp nhỏ

và vừa để phù hợp với sự vận động, phát triển và vai trò quan trọng của loại hình doanh

nghiệp này trong nền kinh tế.

+ Khi tỷ giá biến động tăng nhanh, mặc dù lãi suất ngoại tệ có hạ xuống và lãi suất

VNĐ đang ở mức cao thì nguồn huy động VNĐ của Ngân hàng cũng tăng trưởng không

đáng kể trong khi đó doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn lại chuộng VNĐ hơn. Điều này đã

gây sức ép lên thị trường và làm cho việc khan hiếm VNĐ thêm căng thẳng. Cũng do tỷ

giá biến động nhanh khiến cho Ngân hàng cố gắng tối đa hoá trạng thái ngoại hối của

mình và cũng như vậy nhiều tổ chức và cá nhân dè dặt trong việc chuyển đổi ngoại tệ của

họ thành VNĐ. Do đó, càng khó khăn cho việc huy động vốn bằng VNĐ từ đó ảnh hưởng

đến hoạt động cho vay của Ngân hàng. Vì vậy NHNN nên có chính sách ổn định tỷ giá để

không những ngành Ngân hàng mà còn cả nền kinh tế hoạt động có hiệu quả.

+ Muốn thu hút được vốn chúng ta cần sử dụng đồng bộ các biện pháp, chính sách

để đảm bảo sự ổn định của thị trường giá cả. Nhưng khi những yếu tố ở trên giao động

theo chiều hướng không có lợi thì điều quan trọng có tính chất quyết định là phải đảm bảo

an toàn về tiền gửi cho người gửi tiền.

3.4.3



Kiến nghị với Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chi nhánh Hà Tĩnh

- Trong các năm vừa qua Ngân hàng đã rất thành công trong công tác huy động



vốn tuy nhiên vẫn còn chưa đa dạng hóa, các đối tượng huy động, đối tượng huy động vẫn

chỉ là dân cư và các doanh nghiệp ngoài quốc dân, như vậy trong năm 2007 và các năm

tiếp theo Ngân hàng phải có chiến lược ổn định và gia tăng các đối tượng huy động, đây

chính là điều kiện cho công tác mở rộng hoạt động tín dụng.

- Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng đã đạt được nhiều thành công trong các

năm trước đây, nhưng hoạt động tín dụng của Ngân hàng vẫn chỉ hướng chủ yếu đến các

doanh nghiệp thương mại dịch vụ, chính vì vậy mà trong các năm tiếp theo Ngân hành

phải không ngừng tìm tòi và mở rộng các hoạt động tín dụng của mình vào nhiều đối

tượng khác nhau, đa dạng hóa các hình thức dịch vụ. Thực hiện công tác nghiên cứu thị

trường, xu thế hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là đối với

doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm kịp thời đưa ra các quyết định tín dụng hợp lý.



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



51



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



- Có chính sách hỗ trợ các Chi nhánh về công nghệ trang thiết bị . Thực hiện đào

tạo, đào tạo lại cán bộ công nhân viên tại các chi nhánh, thực hiện quyền dân chủ trong đối

thoại giữa nhân viên và người quản lý.

- Thực hiện công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ hàng quý, hàng năm. Chú trọng

đến công tác đào tạo cán bộ, tăng cường công tác quảng bá hình ảnh của Ngân hàng thông

qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo vv…



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



52



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



KẾT LUẬN CHUNG

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình doanh nghiệp có vai trò quan trọng và chiếm

ưu thế trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, đặc biệt là khi đất nước chúng ta đã

ra nhập WTO. Vì thế việc phát triển tín dụng cho các doanh nghiệp này chiến lược vô

cùng quan trọng đối với các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Việt Nam

thịnh vượng chi nhánh Hà Tĩnh nói riêng.

Trong những năm vừa qua nhận biết được những vai trò quan trọng của DNNVV,

nên Chi nhánh Ngân hàng đã không nghừng đổi mới tư duy và phương thức làm việc phù

hợp với yêu cầu và tình hình mới trên thị trường. Chính vì lẽ đó mà trong bốn năm gần

đây Ngân hàng đã thu được những thành công rực rỡ, tuy còn nhiều khó khăn phía trước

nhưng với thời cơ và vận hội mới tôi tin rằng Ngân hàng sẽ ngày càng phát triển đóng góp

một phần không nhỏ vào sự phát triển của nước nhà.

Để hoàn thành được bài viết này tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình

của các bác, các cô và các anh chị cán bộ công nhân viên phòng tín dụng của ngân hàng

Việt Nam thịnh vượng chi nhánh Hà Tĩnh.

Và đặc biệt một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình

của TS.Vũ Tiến Dũng đã giúp em hoàn thành chuyên đề này. Do thời gian nghiên cứu,

kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên chuyên đề này không tránh khỏi có

nhiều khiếm khuyết, nên em kính mong thầy giáo và các cô chú trong chi nhánh chỉ bảo

để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn.



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Khoa Tài chính – Ngân hàng



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Các giáo trình

- Giáo trình “Ngân hàng thương mại”, 2009, PGS.TS Phan Thị Thu Hà, Nhà xuất bản



Thống kê

- Giáo trình “Ngân hàng thương mại” của tác giả Vương Trọng Nghĩa, Đại học Kinh tế



Quốc Dân.

- Giáo trình “Tài chính doanh nghiệp”, 2009, PGS.TS Lưu Thị Hương, Nhà xuất bản Thống



- Giáo trình “Tín dụng ngân hàng”, Học viện Ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê

- Hướng dẫn Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Luật các tổ chức tín dụng, năm 2011

- Báo cáo tài chính tổng hợp năm 20010 – 2012, ngân hàng Việt Nam thịnh vượng chi

nhánh Hà Tĩnh

2. Các Website

http://doanhnhansaigon.vn/

https://www.vpb.com.vn/

https://www.google.com.vn/

http://thuvienluanvan.net/



SVTH: Phạm Thị Hoa



Lớp: K45H1



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

×