1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Bảng 2.10: Tình hình trích lập Dự phòng rủi ro tại SGD

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (891.63 KB, 60 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



CHƯƠNG 3. CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN

LÝ NỢ XẤU TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI

THƯƠNG VIỆT NAM

3.1. ......Các kết luận qua nghiên cứu thực trạng quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch Ngân

hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

3.1.1. Những thành công mà Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

đã đạt được trong công tác quản lý nợ xấu

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động với những cơ hội và thách

thức nhưng với lợi thế là một Chi nhánh lớn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam,

Sở giao dịch Vietcombank vẫn luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, có khối

lượng vốn huy động lớn, giữ vai trò cung ứng vốn cho toàn hệ thống Ngân hàng

Vietcombank để qua đó ngày càng khẳng định được vị thế “anh cả” trong đại gia đình

Vietcombank.

Công tác quản lý nợ xấu của Sở giao dịch cũng đã đạt được những kết quả khá tốt, cụ thể

như sau: SGD đã thành lập được Tổ xử lý nợ xấu, hoạt động tách biệt khỏi các Phòng tín

dụng. Tổ xử lý nợ xấu chỉ tập chung vào công tác thu hồi nợ, không thực hiện cấp tín dụng

nên đảm bảo được hiệu quả tốt hơn trước. Đồng thời SGD cũng thường xuyên tổ chức kiểm

tra, đánh giá và xếp hạng tín dụng khách hàng để qua đó thực hiện cho vay theo đúng định

hướng của HSC là theo xếp hạng tín dụng của đơn vị nhằm hạn chế những khoản nợ xấu

mới phát sinh.

Nếu như tổng nợ xấu vào năm 2010 là 585 tỷ đồng năm 2011 là 905 tỷ đồng thì đến

hết năm 2012 tổng nợ xấu đã giảm chỉ còn 332 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu đã giảm khá mạnh qua

các năm: Từ con số tỷ lệ nợ cao là 8,7% năm 2010, 9,28% năm 2011 đã giảm xuống con số

2,86% vào năm 2012.

3.1.2. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân

3.1.2.1. Những mặt còn tồn tại

-



Chính sách quản lý rủi ro tín dụng chưa hoàn thiện:

Mô hình quản lý rủi ro tín dụng còn thể hiện nhiều điểm chưa phù hợp, cụ thể là đối

với những khoản cấp tín dụng thuộc thẩm quyền của Chi nhánh, không phải trình lên Hội sở

chính, bộ phận tiếp xúc khách hàng tại Chi nhánh đảm nhiệm từ việc tiếp nhận hồ sơ cấp tín

dụng và tự thẩm định cấp tín dụng nên sẽ không tránh khỏi sự thiếu khách quan trong quá

trình quyết định cấp tín dụng, tiềm ẩn những rủi ro xảy ra đối với các khoản cấp tín dụng.

Việc thẩm định rủi ro tại Phòng quản lý rủi ro tại Hội sở chính được thực hiện theo hình

thức tái thẩm định. Hầu hết việc thẩm định được thực hiện trên cơ sở những hồ sơ đề xuất

của Chi nhánh đưa lên, những cán bộ của Phòng quản lý rủi ro tín dụng tại HSC thiếu sự tiếp

xúc trực tiếp với hoạt động kinh doanh của khách hàng nên việc thẩm định rủi ro thực sự

chưa mang lại hiệu quả cao.



43

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp

-



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



Thiếu công tác thẩm định rủi ro trong quá trình cấp tín dụng:

Từ mô hình quản lý rủi ro tín dụng được đưa ra chưa hoàn thiện dẫn đến quy trình

cấp tín dụng đối với doanh nghiệp đang thiếu khâu thẩm định rủi ro tín dụng độc lập đối với

các khoản vay tại Chi nhánh, chỉ có một số các Công ty mà mức giới hạn tín dụng thuộc

thẩm quyền phê duyệt của Hội sở chính thì Chi nhánh mới trình lên HSC, còn đối với các

khách hàng còn lại chi nhánh tự quyết định việc cấp tín dụng mà không có bộ phận thẩm

định rủi ro độc lập. Đây là một kẽ hở lớn dễ dẫn đến rủi ro tín dụng phát sinh, sẽ làm phát

sinh nợ xấu.



-



Công tác theo dõi, giám sát khoản vay, kiểm tra sử dụng vốn vay chưa đạt hiệu quả cao:

Công ty tác theo dõi, giám sát khoản vay còn mang nặng tính hình thức, đối phó. Cán

bộ tín dụng thực hiện việc theo dõi, giám sát, kiểm tra sử dụng vốn vay chưa bám sát tình

hình hoạt động kinh doanh thực tế của doanh nghiệp mà chỉ tiến hành kiểm tra mang tính

hời hợt, chưa có sự đối chiếu sổ sách kế toán của khách hàng …Vì vậy, dẫn đến nội dung

trên biên bản kiểm tra sử dụng vốn vay hoặc các báo cáo trình lên cấp trên không phản ánh

được những điểm đáng lưu ý về tình hình kinh doanh của khách hàng mà đó có thể là

nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.



-



Chất lượng công tác thẩm định tài sản thế chấp chưa cao:

Hiện nay, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói chung và SGD nói riêng đã

có quy định về nhận tài sản thế chấp nhưng quy định này chủ yếu đề cập đến nội dung về tỷ

lệ tài sản bảo đảm, chưa có quy trình nghiệp vụ cụ thể cũng như các tiêu chí trong việc định

giá sản thế chấp. Chưa có đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp cho công tác định giá tài sản thế

chấp, nguồn thông tin để khai thác, phục vụ cho công tác thẩm định tài sản còn hạn chế. Vì

vậy, đưa đến một thực trạng là, công tác thẩm định tài sản để nhận làm tài sản thế chấp tại sở

giao dịch chưa có quy chuẩn, chất lượng thẩm định chưa cao.



-



Quy trình phân loại nợ và trích lập DPRR đang được áp dụng chưa phù hợp.

Theo quy trình phân loại nợ hiện hành thì phân loại nhóm nợ dựa hoàn toàn vào mức

xếp hạng của khách hàng, không dựa vào thời gian thực tế của khoản nợ. Đây thực sự còn là

một bất cập đối với việc phân loại nợ của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói

chung và của Sở giao dịch nói riêng. Như chúng ta đã biết mỗi mỗi nhóm nợ có tỷ lệ trích

lập dự phòng cụ thể khác nhau dẫn đến số tiền trích lập dự phòng rủi ro khác nhau. Với quy

trình phân loại nợ hiện nay thì sẽ xảy ra trường hợp có những khoản nợ đã quá hạn trên 10

ngày (nghĩa là được phân vào nhóm 2 theo quy định trước đây) thì hiện nay nếu như nếu

mức xếp hạng được phân vào nhóm 1 thì đương nhiên khoản nợ vẫn ở nhóm 1 và tỷ lệ trích

lập dự phòng rủi ro cụ thể là 0%. Việc quá hạn này chỉ được đánh giá vào phần lịch sử nợ

quá hạn khi đến kỳ chấm điểm xếp hạng tín dụng tiếp theo. Đây là một vấn đề còn chưa phù

hợp khi đánh giá các khoản nợ, ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.



44

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp



-



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



Hệ thống công nghệ thông tin đã lỗi thời, chưa được cập nhật hiện đại:

Hệ thống phần mềm lõi của Ngân hàng TMCP Ngoại thương đã được ra đời từ những năm

2000 nên tính đến thời điểm hiện tại nó đã có tính lỗi thời, gây nhiều khó khăn cho công tác

quản lý của các cấp lãnh đạo và cán bộ tín dụng trong việc quản lý tín dụng.



-



Chất lượng cán bộ trong công tác thẩm định còn chưa đồng đều, trình độ thẩm định còn thể

hiện sự yếu kém:

Cán bộ làm công tác thẩm định tín dụng còn có trình độ chưa đồng đều dẫn đến công

tác điều hành, quản lý đối với hoạt động tín dụng khá khó khăn. Chất lượng cán bộ tín dụng

có trình độ chưa cao dẫn đến chất lượng công tác thẩm định còn hạn chế. Đối với một số cán

bộ tín dụng, khả năng tự phát hiện rủi ro tín dụng đối với các khoản vay là khá khó khăn.

Đặc biệt, có một số cán bộ do trình độ hạn chế nên việc nắm bắt tinh thần chỉ đạo của lãnh

đạo của cấp trên và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ chưa sâu dẫn đến sự lúng túng trong

quá trình triển khai, thực hiện nghiệp vụ tín dụng cũng là yếu tố có thể dẫn đến rủi ro tín

dụng.

3.1.2.2. Nguyên nhân

a,



Nguyên nhân Khách quan:



Môi trường pháp lý không thuận lợi: Môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động tín dụng còn

chưa thuận lợi cho hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Các quy định liên

quan đến vấn đề tài sản thế chấp còn nhiều bất cập. Có rất nhiều tài sản của Doanh nghiệp

hiện nay không có đăng ký sở hữu trong khi đây lại là điều kiện bắt buộc đối với các tài sản

được sử dụng làm tài sản thế chấp.

Ảnh hưởng của biến động thị từ thị trường trong nước và thế giới: Ngân hàng cũng

phải đối mặt với những khó khăn từ thị trường trong nước và thế giới. Đặc biệt trong giai

đoạn hiện nay, sau cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới, thị trường thế giới đang

diễn biến phức tạp, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tất cả các nước đều giảm mạnh so với các

năm trước, một nền kinh tế lớn trên thế giới là Mỹ, Châu Âu đang đứng trước nguy cơ giảm

sút về tiềm lực tài chính. Hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới đều bị những Công ty

đánh giá tín nhiệm có uy tín trên thế giới đã đánh tụt hạng nền kinh tế. Qua đó cho thấy một

dấu hiệu không mấy khả quan cho nền kinh tế thế giới.

b,



Nguyên nhân chủ quan:



Trong Công tác ngăn ngừa nợ xấu phát sinh:

-



Việc ban hành chính sách quản lý rủi ro tín dụng chưa đi liền với thực tế:

Như chúng ta đã biết, nguồn gốc của nợ xấu bắt nguồn từ rủi ro tín dụng. Chính vì

vậy, một chính sách quản lý rủi ro tín dụng chưa hoàn thiện sẽ là nguyên nhân tiềm ẩn dẫn

đến nợ xấu phát sinh. Với chính sách quản lý rủi ro tín dụng có nhiều mặt tồn tại như đã

phân tích ở phần trên bắt nguồn từ công tác ban hành chính sách quản lý rủi ro tín dụng chưa



45

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



chưa thực sự phát huy được tác dụng của việc quản lý rủi ro. Với chính sách hiện nay còn

thể hiện nhiều kẽ hở dễ dẫn đến rủi ro tín dụng xảy ra.

-



Còn thiếu bộ phận thẩm định tài sản bảo đảm độc lập, chuyên nghiệp:

Nguyên nhân dẫn đến chất lượng thẩm định tài sản tại SGD còn chưa đạt chất lượng tốt vì

hiện tại SGD chưa có bộ phận thẩm định tài sản bảo đảm chuyên nghiệp, việc nhận tài sản

thế chấp, định giá cũng như thẩm định tài sản thế chấp cho các khoản vay tại SGD

Vietcombank được tiến hành bởi chính cán bộ tín dụng. Trên thực tế cán bộ tín dụng chưa

hẳn đã có nghiệp vụ chuyên sâu về công tác thẩm định tài sản, không được đào tạo chuyên

sâu về lĩnh vực này nên thiếu kỹ năng thẩm định tài sản chuyên nghiệp. Mặt khác, hiện tại

theo quy định của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam thì giá trị tài sản có ảnh hưởng

đến giá trị cấp tín dụng nên khi công tác thẩm định tài sản không được tiến hành bởi một bộ

phận độc lập thì dễ dẫn đến khả năng giá trị giá tài sản được đánh giá cao hơn, dễ dẫn đến

rủi ro khi tổn thất xảy ra.



-



Chưa có bộ phận kiểm tra, giám sát khoản vay độc lập:

Nguyên nhân khiến cho công tác kiểm tra, giám sát khoản vay chưa đạt hiệu quả là do chưa

có bộ phận kiểm tra, giám sát khoản vay độc lập với bộ phận tín dụng. Hiện tại, công tác

theo dõi khoản vay và kiểm tra sau cho vay được tiến hành bởi cán bộ trực tiếp quản lý

khách hàng. Việc kiểm tra sử dụng vốn vay không được tiến hành bởi một bộ phận độc lập

nên sẽ nảy sinh vấn đề là: Cán bộ tín dụng đã quá quen thuộc khách hàng, nghĩ rằng mình đã

hiểu rõ khách hàng nên đôi khi bỏ qua những động tác kiểm tra cần thiết hoặc đôi khi vì một

lợi ích bên ngoài mà cán bộ tín dụng sẵn sàng bỏ qua việc nêu ra vấn đề khách hàng sử dụng

vốn sai mục đích....



-



Bộ phận ban hành quy trình về phân loại nợ chưa có định hướng phù hợp với thực trạng

đánh giá khoản nợ:

Trước đây, việc phân loại nợ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam được thực hiện

theo nội dung của điều 6, quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, theo đó việc phân loại sẽ

được dựa vào thời gian thực tế của khoản nợ. Tuy nhiên, đến năm 2010, Ngân hàng TMCP

Ngoại thương Việt Nam bắt đầu sửa đổi quy trình phân loại nợ, theo đó áp dụng theo nội

dung của điều 7, quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN. Theo quy định mới này, NHNT áp

dụng việc phân loại nợ chỉ dựa vào mức xếp hạng tín dụng của khách hàng, không dựa vào

tình trạng khoản nợ. Việt áp dụng như vậy đã dẫn đến quy trình phân loại nợ có nhiều tồn tại

như đã nêu ở phần trên. Nguyên nhân là do, bộ phận ban hành chính sách về phân loại nợ

của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có định hướng chưa đúng về quy trình phân

loại nợ, dẫn đến điểm chưa phù hợp. Hiện tại NHNN Việt Nam đang soạn thảo Quyết định

về phân loại nợ để thay thế quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN. Theo định hướng của Quyết

định mới này, việc phân loại nợ sẽ được áp dụng theo hướng kết hợp giữa xếp hạng tín dụng

của khách hàng và thực trạng khoản nợ.



46

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp

-



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



Việc cập nhật hệ thống công nghệ thông tin chưa kịp thời:

Hiện tại, phần mềm lõi của NHNT đang sử dụng đã lạc hậu, chưa theo kịp được một số các

Ngân hàng khác. Nguyên nhân của vấn đề này là NHNT chưa có sự đầu tư phù hợp để nâng

cấp chất lượng của hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho các hoạt động khác của Ngân

hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.



-



Chưa có chính sách tuyển dụng, đào tạo cán bộ phù hợp:

Hiện tại, chất lượng cán bộ tín dụng tại Sở giao dịch có chất lượng chưa đồng đều, chuyên

môn nghiệp vụ còn chưa đáp ứng tốt nhu cầu công việc. Nguyên nhân của vấn đề này là do

công tác tuyển dụng cán bộ còn chưa được chú trọng đúng người, đúng việc, công tác đào

tạo còn chưa được đầu tư đúng mức...

Trong công tác xử lý nợ xấu:



-



Công tác xử lý nợ xấu chưa có phương pháp đúng đắn:

Mặc dù, SGD đã rất cố gắng trong công tác xử lý nợ xấu nhưng những phương pháp thực

hiện còn chưa thực sự quyết liệt và đúng đắn. Như với khoản nợ nội bảng, số dư nợ chủ yếu

là của Công ty CP container quốc tế CAS. Đây có thể nói là một điểm nhức nhối đối với nợ

xấu nội bảng của Sở giao dịch. Tuy SGD cũng đã tiến hành theo dõi tình hình hoạt động

kinh doanh của đơn vị để nắm bắt được các nguồn tiền về để thu nợ kịp thời nhưng đồng

thời cũng phải cho vay ra với số tiền lớn hơn để duy trì hoạt động kinh doanh của Công ty.

Với cách thức như trên nên tổng dư nợ xấu nhóm 5 của Sở giao dịch đã tăng thêm 300 tỷ

đồng từ 2010 đến 2011. Có thể nói, SGD đã cố gắng bám sát tình hình của Công ty để thu

nợ nhưng khi cán bộ của SGD không trực tiếp tham gia hàng ngày tại Công ty để có thể nắm

bắt tận gốc những vấn đề xảy ra tại Công ty thì chắc chắn không thể nắm bắt hết những khúc

mắc trong hoạt động kinh doanh để quản lý tốt nguồn thu nợ. Với cách thức quản lý các

khoản nợ quá hạn như những năm gần đây thì không tránh khỏi tình trạng những Công ty

như Công ty CP container quốc tế CAS tận dụng những cơ hội để dùng vốn vào những việc

không cần thiết, làm giảm bớt khả năng SGD thu được nợ.

Với các khoản nợ xấu ngoại bảng, việc thu hồi những khoản nợ này là vấn đề rất khó

khăn. Ngoài các Công ty có thể trả nợ thường xuyên Sở giao dịch như Công ty dệt may Nam

định mỗi tháng trả nợ cho Sở giao dịch khoảng 860 triệu đồng, Công ty Đức Phương trả nợ

cho Sở giao dịch khoảng 3.000 USD, còn lại các Công ty khác hầu hết là các Công ty không

còn khả năng trả nợ, có một số Công ty đã phá sản hoặc biến mất mà chưa được tuyên bố

phá sản nên không đủ điều kiện để Sở giao dịch trình xóa nợ theo quy định dẫn đến tình

trạng các khoản nợ bị treo lơ lửng mà không biết hướng giải quyết.

3.2. .....Định hướng phát triển tín dụng và quản lý nợ xấu của Sở giao dịch Ngân hàng

TMCP Ngoại thương Việt Nam

3.2.1. Định hướng chung

Trong những năm tới, Sở giao dịch Vietcombank sẽ lỗ lực phấn đấu tiếp tục giữ



47

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



vững là một trong những Chi nhánh đứng đầu của hệ thống Ngân hàng TMCP Ngoại thương

Việt Nam, là đơn vị cung ứng vốn cho hệ thống Ngân hàng Vietcombank nên công tác trọng

tâm của Sở giao dịch là công tác huy động vốn. Tốc độ tăng trưởng huy động vốn trong

những năm tới khoảng 18% đến 20%/năm (trong đó, huy động vốn từ khách hàng tổ chức là

15%/năm), giữ vững thị phần huy động vốn chiếm 22% trong toàn hệ thống và 5,5% trên địa

bàn thành phố Hà Nội. Về huy động vốn, đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 25%-28%/năm

trong đó, tỷ trọng cho vay SMEs chiếm 18%/tổng dư nợ, cho vay đầu tư dự án chiếm 40%

tổng dư nợ. Về thanh toán xuất nhập khẩu đặt mục tiêu tăng trưởng doanh số 10%/năm, phí

dịch vụ tăng 14 – 15%/năm. Đồng thời SGD Vietcombank sẽ tiếp tục phát triển hoạt động

tín dụng. Đối tượng khách hàng của SGD trong thời gian tới là những khách hàng mang mầu

sắc tư nhân, các Công ty thuộc các tập đoàn lớn. Phương thức là đẩy mạnh tiếp cận và phát

triển quan hệ tín dụng đối với các khách hàng có tỷ lệ tài sản bảo đảm cao, đáng ứng tốt theo

quy định của Hội sở chính và tăng cường mức độ an toàn cho hoạt động tín dụng của SGD.

3.2.2. Định hướng phát triển đối với hoạt động quản lý nợ xấu.

a. Đối với công tác ngăn ngừa nợ xấu phát sinh.

Đối với công tác ngăn ngừa nợ xấu, Sở giao dịch có định hướng như sau:

+ Chính sách quản lý rủi ro tín dụng: Bên cạnh việc tuân thủ theo quy trình quản lý rủi ro

tín dụng theo quy định của Hội sở chính Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Sở giao

dịch có những biện pháp riêng để ngăn ngừa rủi ro tín dụng có thể xảy ra đối với các khoản

cấp tín dụng thuộc thẩm quyền của SGD.

+ Thường xuyên cập nhật diễn biến tình hình thị trường, có chính sách cơ cấu danh mục

đầu tư hợp lý, đảm bảo tăng dư nợ cho vay đối với những ngành nghề ít rủi ro, có lộ trình

giảm dư nợ đối với các ngành nghề có nhiều rủi ro.

+ Tập trung công tác đào tạo để nâng cao trình độ cán bộ thẩm định tín dụng, cán bộ kiểm

tra, giám sát tuân thủ.

b. Đối với công tác xử lý nợ xấu:

 Với nợ nội bảng:



Về nợ xấu nội bảng: Trong thời gian sắp tới, Sở giao dịch đặt ra kế hoạch duy trì tỷ lệ nợ

xấu là: Tính đến cuối năm 2013 sẽ dưới 2%. Đồng thơi Sở giao dịch tiếp tục thực hiện tăng

trưởng dư nợ đủ tiêu chuẩn và không làm gia tăng nợ xấu để giúp cho tỷ lệ nợ xấu của Sở

giao dịch Vietcombank giảm xuống. Ngoài ra, để thực hiện tốt việc giảm tỷ lệ nợ xấu, với

các khoản nợ nợ xấu của các khách hàng khác như: Công ty Việt Hoa, Công ty TNHH

khuôn mẫu và cơ khí SQC, công ty kim loại Hoàng Gia, Công ty đầu tư XNK XD&P..., Sở

giao dịch tập trung thực hiện các biện pháp cần thiết để thu nợ, giảm tỷ lệ nợ xấu của Sở

giao dịch.

 Đối với nợ đang được hạch toán ngoại bảng:



Sở giao dịch đặt ra mục tiêu đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu ngoại bảng. Cụ thể năm 2013,



48

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



Sở giao dịch đặt ra mục tiêu thu hồi được khoảng hơn 30 tỷ đồng từ nợ đã xử lý dự phòng

rủi ro. Để thực hiện tốt việc thu hồi nợ xấu, SGD cần thực hiện thống kê lại toàn bộ tình

hình của các khoản nợ, đánh giá khả năng thu hồi của từng khoản nợ để có biện pháp thực

hiện cần thiết đối với từng khoản nợ. Phương hướng cụ thể đối với từng khoản nợ như sau:

+



Đối với khoản nợ của Công ty CP Đầu tư XNK XD&P, Sở giao dịch cần đẩy mạnh quá



trình làm việc với Toà án kinh tế để kiến nghị Toà án yêu cầu Tổ thanh lý tài sản Công ty

CP Đầu tư XNK XD&P để hoàn thiện việc bàn giao tài sản cho bên mua nợ.

+



Đối với các khoản nợ mà Sở giao dịch Vietcombank xác định được là còn khả năng thu



nợ nhưng khách hàng không hợp tác trong việc trả nợ, SGD vận dụng toàn bộ các biện pháp

cần thiết để gây sức ép trả nợ đối với khách hàng.

+



Đối với các khoản nợ không xác định được khách hàng còn tồn tại hay không, Sở giao



dịch kiến nghị với các cấp có thẩm quyền để ban hành các chính sách nhằm có biện pháp

giải quyết các khoản nợ dạng như trên, tránh trường hợp để tồn tại theo dõi ngoại bảng quá

lâu mà không có cách giải quyết.

3.3. Các giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu trong thời gian tới tại Sở giao dịch Ngân

hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

3.3.1. Giải pháp phòng ngừa nợ xấu phát sinh

+



Về cơ chế chính sách: Hoàn thiện các Chính sách áp dụng.

Về cơ chế chính sách, SGD Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chủ yếu thực



hiện theo những cơ chế chính sách nội bộ được Hội sở chính ban hành, SGD Vietcombank

không có chức năng ban hành chính sách nên việc sửa đổi cơ chế, chính sách sẽ do Hội sở

chính thực hiện, SGD chỉ có thể thực hiện góp ý với Hội sở chính để hoàn thiện những

Chính sách sau:

-



Chính sách quản lý rủi ro tín dụng:

Chính sách quản lý rủi ro tín dụng hiện nay đang được áp dụng trong hệ thống Ngân

hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam còn có nhiều bất cập. Tại các Chi nhánh không có bộ

phận quản lý rủi ro tín dụng nên dẫn đến việc công tác thẩm định rủi ro có nhiều hạn chế. Sở

giao dịch Vietcombank nên có ý kiến với Hội sở chính để hoàn thiện hơn chính sách quản lý

rủi ro tín dụng áp dụng trong toàn hệ thống Ngân hàng Vietcombank. Trên thực tế, quy trình

quản lý rủi ro tín dụng theo quy trình trước đây đã được áp dụng (Quy trình có Phòng quản

lý rủi ro tín dụng tại các Chi nhánh) thực sự là quy trình mà các nước trên thế giới đang áp

dụng. Tuy nhiên, khi áp dụng vào bối cảnh của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

thì đưa lại một thực tế chưa phù hợp do tính hợp tác giữa các Phòng, ban còn chưa cao. Tuy

nhiên, với quy trình như hiện nay là bỏ đi bộ phận quản lý rủi ro tín dụng tại các Chi nhánh

cũng sẽ khiến cho việc phát sinh rủi ro tín dụng dễ xảy ra. Vì vậy, để có một mô hình quản

lý rủi ro tín dụng hiệu quả, Ngân hàng Vietcombank nên nghiên cứu để sửa đổi lại quy trình

quản lý rủi ro tín dụng, đồng thời có những quy chế chặt chẽ về mặt thời hạn thực hiện tác



49

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



nghiệp giữa bộ phận khách hàng, bộ phận quản lý rủi ro để đưa đến hiệu quả cấp tín dụng tốt

hơn, đảm bảo vừa quản lý được rủi ro tín dụng vừa đáp ứng yêu cầu tiến độ cấp tín dụng đối

với khách hàng.

-



Thay đổi chính sách quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đang được

áp dụng cho phù hợp:

Chính sách phân loại nợ đang được Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói chung và

SGD Vietcombank nói riêng đang áp dụng có nhiều điểm chưa phù hợp. Việc phân loại nợ

được dựa hoàn toàn vào xếp hạng tín dụng, không căn cứ vào thời gian của khoản nợ để lấy

cơ sở trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là chưa hợp lý để đánh giá khoản nợ. Với quy định

như hiện nay sẽ xảy ra trường hợp, khoản nợ của khách hàng có thể quá hạn đến hơn 10

ngày, đáng ra sẽ bị phân loại vào nhóm 2 để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Nhưng với

quy định hiện nay thì trong thời gian còn lại trong quý mà khoản nợ bị phát sinh quá hạn

(chưa đến kỳ chấm điểm, xếp hạng Quý tiếp theo) thì khoản nợ quá hạn về thời gian đó vẫn

được phân loại vào nhóm 1, chỉ đến kỳ chấm điểm, xếp hạng của quý tiếp theo thì việc nợ

quá hạn trên mới được đánh giá vào lịch sử trả nợ trong phần đánh giá phi tài chính. Vấn đề

này thực sự chưa phù hợp với tình hình thực tế. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang soạn

thảo quyết định để thay thế quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN quy định về phân loại nợ và

trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Hướng thay đổi của NHNN trong quyết định này là sẽ áp

dụng việc phân loại nợ theo tinh thần của Điều 7, quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN trước

đây. Việc phân loại nhóm nợ của khách sẽ được căn cứ vào mức xếp hạng của khách hàng

và cả thời gian của khoản nợ. Như vậy, Ngân hàng Vietcombank nên sớm sửa đổi lại quy

định về phân loại nợ cho phù hợp.

+ Về quy trình thực hiện: Chuẩn hoá quy trình nghiệp vụ, bao gồm các quy trình sau:

- Chuẩn hoá quy trình cấp tín dụng: Việc chuẩn hoá cơ chế chính sách được ban hành ở

phần trên sẽ là cơ sở để chuẩn hoá quy trình nghiệp vụ. Vì vậy, Sở giao dịch Vietcombank

cần góp ý với Hội sở chính để chuẩn hoá quy trình cấp tín dụng áp dụng trong toàn hệ thống.

Trong thời gian chờ HSC sửa đổi quy trình, Sở giao dịch nên triển khai theo hướng tại các

Phòng cấp tín dụng có bộ phận thẩm định rủi ro góp phần nâng cao chất lượng công tác

thẩm định khách hàng, từ đó để tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng, chủ động sớm

phát hiện những rủi ro tiềm ẩn nhằm ngăn ngừa nợ xấu phát sinh. Công tác thẩm định rủi ro

tín dụng tại Sở giao dịch phải thực sự được chú trọng để đảm bảo chất lượng cấp tín dụng

được tốt nhất.

- Thành lập bộ phận thẩm định tài sản bảo đảm độc lập tại Sở giao dịch.

Như đã phân tích ở phần trên, việc có một bộ phận thẩm định tài sản độc lập là hết

sức cần thiết đối với hoạt động tín dụng tại SGD. Hiện tại Sở giao dịch không có bộ phận

thẩm định tài sản độc lập, mọi công việc về định giá tài sản do cán bộ tín dụng tiến hành.

Việc này dẫn đến bất cập là nhiều cán bộ tín dụng không đủ chuyên môn chuyên sâu về



50

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



công tác thẩm định tài sản nên chất lượng thẩm định tài sản không cao. Mặt khác, theo quy

định của VCB, giá trị thẩm định tài sản có tính chất quyết định đến số tiền cấp tín dụng. Vì

vậy, việc cán bộ tín dụng tự thẩm định tài sản khiến cho công tác thẩm định tài sản thiếu tính

khách quan. Một trong những giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng xảy ra là cần phải thành

lập bộ phận thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay độc lập tại SGD.

-



Nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ.

Để nâng cao năng lực hoạt động của bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ cần thực hiện một

số biện pháp sau đây:

Thứ nhất, kiện toàn tổ chức hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ

hiện có, thành lập bộ phận kiểm tra giám sát tín dụng độc lập trực thuộc Phòng kiểm tra

giám sát nội bộ. Trước đây, việc kiểm tra các khoản vay sau khi giải ngân đều giao cho

cán bộ tín dụng thực hiện. Như vậy, để đảm bảo quản lý rủi ro một cách khách quan, hạn

chế rủi ro phát sinh thì Sở giao dịch cần thành lập bộ phận kiểm tra giám sát tín dụng

thuộc bộ phận kiểm tra giám sát tuân thủ. Bộ phận này có chức năng giám sát tín dụng,

kiểm tra sử dụng vốn vay ngay sau cho vay.

Hai là, Phát huy chức năng của hoạt động kiểm toán độc lập, phối hợp giữa kiểm toán bên

trong và bên ngoài thật chặt chẽ, làm hạn chế tối đa khả năng che dấu rủi ro tín dụng, qua đó

phát hiện và xử lý kịp thời rủi ro.



-



Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, đánh giá khoản vay dựa trên các tiêu chuẩn thống

nhất:

Công tác thẩm định tín dụng đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình cấp tín dụng đối

với khách hàng. Vì vậy, Sở giao dịch Vietcombank cần có biện pháp để nâng cao chất lượng

trong công tác thẩm định tín dụng. Muốn vậy cần phải xuất phát từ việc đánh giá khoản vay.

Có 5 tiêu chuẩn để đánh giá khoản vay, cụ thể như sau:

Thứ nhất là tính cách: Cán bộ tín dụng cần xác định được mục tiêu rõ ràng của

khách hàng khi vay vốn, có kế hoạch trả nợ nghiêm túc. Khi mục đích vay được làm rõ, cán

bộ tín dụng cần phải quyết định xem quyết định cho vay phương án đó có phù hợp với chính

sách của Ngân hàng không? Cán bộ tín dụng phải có phương pháp đánh giá đối tượng vay

vốn có thể hiện trách nhiệm trong việc trả nợ Sở giao dịch Vietcombank hay không.

Thứ hai là năng lực: Cán bộ tín dụng cần xem xem khách hàng có đủ năng lực vay

vốn và đủ tư cách pháp lý trong việc ký kết hợp đồng tín dụng và các giấy tờ có liên quan

hay không. Khả năng trả nợ của khách hàng thể hiện qua sự khỏe mạnh về khả năng tài

chính của khách hàng. Năng lực là yếu tố rất quan trọng để giúp cho khách hàng có khả

năng trả nợ đúng hạn hay không? Vì vậy, khi thẩm định vay vốn, việc đánh giá năng lực trả

nợ của khách hàng là cần thiết.

Thứ ba là dòng tiền mặt: Dòng tiền mặt có ý nghĩa rất quan trọng quyết định đến khả

năng trả nợ của khách hàng. Điều này thể hiện khách hàng có khả năng tạo ra dòng tiền đủ



51

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



đáp ứng khả năng trả nợ hay không. Dòng tiền thường có 03 nguồn:(i) nguồn từ doanh thu

bán hàng, (ii) nguồn từ bán tài sản, (iii) nguồn huy động khác. Tuy nhiên, trong 03 nguồn

trên thì nguồn mà Ngân hàng có thể hy vọng để trả nợ trong điều kiện bình thường là nguồn

thu từ doanh thu bán hàng. Chính vì vậy, việc cần thiết đối với cán bộ tín dụng là thẩm định

khả năng tiêu thụ hàng hoá, mang lại nguồn tiền trả nợ.

Thứ tư là tài sản thế chấp: Khách hàng phải có đủ tỷ lệ tài sản thế chấp theo quy

định của Ngân hàng Vietcombank. Cán bộ tín dụng cần khuyến khích những khách hàng bổ

sung nhiều tài sản thế chấp cho các khoản vay vì tài sản thế chấp là biện pháp hạn chế rủi ro

khá tốt khi khách hàng không có khả năng trả nợ.

Thứ năm là các điều kiện môi trường kinh tế: Cán bộ tín dụng cần phải có cái nhìn

chủ quan, sắc bén đối với môi trường kinh tế tác động đến khả năng hoạt động của khách

hàng vì điều kiện môi trường kinh tế đặc biệt là tình hình ngành hàng của mặt hàng xin vay

mà có xu hướng xấu đi sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ hàng hoá của khách hàng và ảnh

hưởng đến khả năng trả nợ.

-



Nâng cao ý thức tuân thủ tốt các quy định của Ngân hàng Nhà nước, những quy định của

Hội sở chính trong việc cấp tín dụng đối với khách hàng:

Việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc cấp tín dụng không những là yêu cầu bắt

buộc đối với các Tổ chức tín dụng mà còn là yếu tố cần thiết để Tổ chức tín dụng có thể

phòng ngừa rủi ro tốt nhất. Vì vậy, Sở giao dịch Vietcombank nhất thiết phải tuân thủ chặt

chẽ các quy định của Chính Phủ, Ngân hàng Nhà nước và các quy định nội bộ của Ngân

hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, tránh các trường không tuân thủ các văn bản quy định

dẫn đến rủi ro xảy ra trong quá trình cấp tín dụng.



-



Xây dựng hệ thống dự báo diễn biến thị trường của các ngành hàng chủ yếu mà Sở giao

dịch có dư nợ lớn:

Việc xây dựng được hệ thống dự báo về diễn biến thị trường theo từng ngành hàng sẽ giúp

cho Sở giao dịch có được định hướng cụ thể trong việc phát triển dư nợ, theo đó SGD có thể

lượng hoá được dư nợ đối với từng ngành hàng. Khi có được thông tin dự báo kịp thời về

từng ngành hàng sẽ giúp cho Sở giao dịch chủ động trong kế hoạch phát triển tín dụng.



-



Đẩy mạnh sự phối kết hợp giữa các phòng, ban trong cùng Chi nhánh cũng như giữa các

chi nhánh với Hội sở chính, với các chi nhánh khác trong công tác tín dụng và công tác xử

lý nợ xấu.

Trong công tác tín dụng và công tác quản lý nợ xấu cần có sự phối hợp nhịp nhàng

giữa các bộ phận có liên quan, vì vậy việc các Phòng ban trong cùng Chi nhánh như Phòng

Khách hàng và Phòng Quản lý nợ kết hợp tốt với nhau sẽ dẫn đến công tác xử lý hồ sơ, tiến

độ giải ngân hàng của khách hàng nhanh chóng hơn cũng như có thể phát hiện ra những sai

sót trong quá trình tác nghiệp. Ngoài ra cần có sự phối hợp tốt giữa Chi nhánh và Hội sở

chính sẽ giúp cho công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các Chi nhánh được tốt hơn. Sự phối



52

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS.Vũ Xuân Dũng



hợp giữa Chi nhánh và HSC trong hệ thống Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam thể

hiện ở chỗ, Chi nhánh báo cáo các thông tin lên Hội sở chính phải đầy đủ, kịp thời, có tính

chính xác cao. Ngược lại, Hội sở chính có các quyết sách chính xác trong từng vấn đề để

ngăn ngừa rủi ro một các tốt nhất. Bên cạnh đó, Phòng quản lý rủi ro tín dụng tại HSC cần

thường xuyên có những dự báo kịp thời về tình hình thị trường của các ngành hàng, những

rủi ro mang tính chất ngành có thể xảy ra để cảnh báo cho các Chi nhánh. Sự phối hợp càng

chặt chẽ sẽ dẫn đến công tác phòng ngừa rủi ro càng tốt hơn.

-



Sở giao dịch Vietcombank cần chú trọng đến việc hỗ trợ khách hàng sau cho vay:

Bộ phận tín dụng cần thường xuyên theo dõi quá trình sử dụng vốn của khách hàng,

đảm bảo khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, đồng thời cán bộ SGD Ngân hàng

TMCP Ngoại thương Việt Nam cần phải thu thập thông tin nhiều chiều, có sự tư vấn kịp

thời cho khách hàng về các vấn đề pháp lý, về thông tin ngành hàng để hoạt động kinh

doanh của khách hàng có thể tránh được rủi ro xảy ra. Ngược lại phải làm sao để khách hàng

sẵn sàng thông tin kịp thời cho Sở giao dịch về những khó khăn để khách hàng và Ngân

hàng cùng tìm cách tháo gỡ.

+



Về công tác tổ chức, quản lý, chú trọng công tác nguồn lực nhân sự: Hoàn thiện



công tác tổ chức quản lý của Sở giao dịch nói chung, đặc biệt trong công tác cấp tín dụng,

quản lý tín dụng nói riêng, cụ thể có các giải pháp như sau:

-



Chú trọng chất lượng trong công tác tuyển dụng cán bộ cho bộ phận tín dụng, bộ phận ban

hành chính sách tín dụng:

Đội ngũ cán bộ tín công tác tại các Phòng tín dụng đòi hỏi phải có trình độ chuyên cao, được

đào tạo đúng chuyên ngành. Vì vậy, trong công tác tuyển dụng cán bộ, Sở giao dịch nên chú

trọng để tuyển chọn những cán bộ làm việc trong các bộ phận tín dụng phải có kết quả học

tập tốt, có phẩm chất đạo đức tốt, có hiểu biết về quy trình cấp tín dụng theo quy định của

Ngân hàng Nhà nước...Đặc biệt, đội ngũ cán bộ làm việc tại Phòng Chính sách tín dụng

HSC phải là những người có trình độ chuyên môn cao, am hiểu về công tác tín dụng, đã trải

qua kinh nghiệm làm tín dụng, có như vậy mới có thể ban hành chính sách phù hợp để thực

hiện trong toàn hệ thống, đồng thời hỗ trợ các Chi nhánh trong quá trình thực hiện tác

nghiệp.



-



Chú trọng nâng cao chất lượng trong công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo thuộc các bộ phận

tín dụng:

Công tác tổ chức, quản lý trong bộ phận tín dụng có vai trò rất cần thiết trong công tác

quản lý rủi ro tín dụng. Vì vậy, đòi hỏi những người lãnh đạo trong các bộ phận tham gia

công tác tín dụng phải có trình độ chuyên môn cao, nắm bắt kiến thức chuyên môn sâu,

có khả năng lãnh đạo nhậy bén, thấu tình đạt lý để cùng với cán bộ tín dụng phát hiện rủi

ro tín dụng kịp thời để góp phần hạn chế rủi ro tín dụng xảy ra. Bản thân đội ngũ lãnh

đạo cần phải nâng cao hơn nữa trình độ quản lý, phát huy vai trò của người lãnh đạo



53

SV: Nguyễn Thị Chinh



Lớp:K45H2



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (60 trang)

×