1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN NỘI ĐỊA KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (436.65 KB, 58 trang )


8

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

không dùng tiền mặt là phương thức thanh toán qua ngân hàng không dùng tiền mặt

mà tại đó mọi giao dịch về thanh toán đều được phát sinh trong một quốc gia.

1.1.2. Đặc điểm của thanh toán nội địa không dùng tiền mặt.

Hoạt động thanh toán nội địa không dùng tiền mặt mang đầy đủ ba đặc điểm của

TTKDTM là:

Một là, TTKDTM sử dụng tiền ghi sổ hay còn gọi là bút tệ. Đây là đặc điểm cơ

bản nhất của TTKDTM, việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích tiền từ tài

khoản tiền gửi của người phải trả sang tài khoản tiền gửi của người thụ hưởng tại ngân

hàng. Vì vậy để TTKDTM khách hàng bắt buộc phải có tài khoản tại ngân hàng.

Hai là, Trong TTKDTM mỗi khoản thanh toán phải có ít nhất ba bên tham gia là

người trả tiền, người nhận tiền và trung gian thanh toán (ngân hàng thương mại).

Ba là, khi tiến hành các nghiệp vụ TTKDTM phải sử dụng các chứng từ thanh

toán riêng. Chứng từ thanh toán ở đây là các phương tiện chuyển tải các điều kiện

thanh toán và được sử dụng làm căn cứ thực hiện việc chi trả. Chứng từ thanh toán

gồm các lệnh thu, lệnh chi do chính người nhận tiền, người trả tiền hoặc trung gian

thanh toán lập ra, có thể lập dưới hình thức chứng từ giấy hoặc chứng từ điện tử.

Ngoài ra, TTNĐKDTM có một đặc điểm riêng là phạm vi thực hiện giao dịch chỉ

trong một quốc gia.

1.1.3. Vai trò của thanh toán nội địa không dùng tiền mặt.

1.1.3.1. Vai trò của TTNĐKDTM đối với nền kinh tế.

Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt đã và đang trở thành phương tiện thanh

toán phổ biến, được nhiều quốc gia trên thế giới khuyến khích sử dụng, đặc biệt là đối

với các giao dịch thương mại, các giao dịch có giá trị và khối lượng lớn. Nó đóng vai

trò quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại cũng như sự phát triển

của nền kinh tế. Cụ thể:

Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt là quá trình thanh toán không có sự xuất

hiện của tiền mặt, được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của người

chi trả vào tài khoản của người thụ hưởng. Do đó, nó góp phần tạo điều kiện cho quá

trình thanh toán được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, an toàn…từ đó sẽ thúc đẩy sản

xuất và lưu thông hàng hóa. Thanh toán vừa là khâu mở đầu, vừa là khâu kết thúc một

chu kì sản xuất kinh doanh. Vì vậy, nếu tổ chức tốt khâu thanh toán sẽ làm tăng sự vận

động của tiền vốn và vật tư, giúp cho các doanh nghiệp thu được vốn nhanh hơn để

phục vụ cho chu kì sản xuất kinh doanh sau, cũng tức là thúc đẩy quá trình tái sản xuất

không ngừng phát triển.

SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



9

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

Khi thanh toán nội địa không dùng tiền mặt, khách hàng phải mở tài khoản tại

ngân hàng và ký thác vốn của mình vào đó. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngân

hàng kiểm soát được một phần lượng tiền trong nền kinh tế. Hơn nữa, nó còn đánh giá

được khả năng tài chính, sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cũng như tổng thể

nền kinh tế.

Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt góp phần giảm tỉ trọng tiền mặt lưu

thông, từ đó có thể tiết kiệm được chi phí lưu thông như in ấn, phát hành, bảo quản,

vận chuyển, kiểm đếm. Hơn nữa, TTNĐKDTM làm giảm nhẹ khâu kế hoạch và điều

hòa lưu thông tiền tệ, tăng sức mua của đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần làm

cho lưu thông tiền tệ ổn định để tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.

Ngoài ra, thanh toán không dùng tiền mặt cung cấp cho các chủ thể thanh toán

những công cụ thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và an toàn. Thay vì luôn phải đem

theo tiền mặt để thanh toán họ chỉ cần sử dụng một trong số các hình thức thanh toán

nội địa như: thẻ thanh toán, séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi...các phương thức thanh

toán này được thực hiện một cách nhanh chóng, linh hoạt và có thể đảm bảo an toàn

cho các chủ thể tránh được các rủi ro mất trộm, nhầm lẫn, giảm thời gian thanh toán,

kiểm đếm, chi phí bảo quản tiền mặt.



1.1.3.2. Vai trò của TTNĐKDTM đối với NHTM

Hiện nay, ngân hàng trở thành trung tâm tiền tệ - tín dụng - thanh toán trong nền

kinh tế. Và TTNĐKDTM đóng vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào thành

công này của ngân hàng vì nó tác động tới tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân

hàng như: thanh toán, tín dụng, huy động vốn. Cụ thể:

Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt góp phần mở rộng đối tượng thanh toán,

tăng doanh thu từ phí thanh toán. TTNĐKDTM tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hoá,

dịch vụ một cách an toàn, hiệu quả, chính xác, tin cậy và tiết kiệm được thời gian, chi

phí. Trên cơ sở đó tạo niềm tin cho công chúng vào hoạt động của hệ thống ngân hàng,

thu hút người dân và doanh nghiệp tham gia thanh toán qua ngân hàng. Như vậy,

TTNĐKDTM giúp ngân hàng thực hiện việc mở rộng đối tượng thanh toán, phạm vi

thanh toán (trong và ngoài nước) và tăng doanh số thanh toán, tăng doanh thu từ phí

thanh toán, tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho hoạt động huy động

vốn của ngân hàng. TTNĐKDTM không những làm giảm được chi phí lưu thông mà

còn bổ sung nguồn vốn cho ngân hàng thông qua hoạt động mở tài khoản thanh toán

SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



10

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

của các tổ chức và cá nhân. Như vậy, ngân hàng sẽ luôn có một lượng tiền nhất định

tạm thời nhàn rỗi trên các tài khoản này với chi phí thấp. Nếu sử dụng nguồn vốn này

thì ngân hàng không chỉ kiếm được lợi nhuận, giành lợi thế trong cạnh tranh mà còn

mang lại lợi ích rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt còn thúc đẩy quá trình cho vay. Nhờ có

nguồn vốn tiền gửi không kì hạn, ngân hàng còn có cơ hội để tăng lợi nhuận cho mình

bằng cách cấp tín dụng cho nền kinh tế. Ngân hàng thu hút được nguồn vốn với chi phí

thấp nên trên cơ sở đó hạ lãi suất tiền vay, khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân

vay vốn ngân hàng để đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh có lãi. Mặt khác, thông

qua TTNĐKDTM, ngân hàng có thể đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh, kết

quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Từ đó giúp ngân hàng an toàn trong kinh doanh,

góp phần hạn chế rủi ro và nâng cao được hiệu quả hoạt động đầu tư tín dụng, thúc

đẩy sản xuất kinh doanh.

Thanh toán nội địa không dùng tiền mặt giúp cho NHTM thực hiện chức năng

tạo tiền. Trong thưc tế nếu thanh toán bằng tiền mặt, thì sau khi lĩnh tiền mặt ra khỏi

ngân hàng, số tiền đó không còn nằm trong phạm vi kiểm soát của ngân hàng. Nhưng

nếu TTNĐKDTM thì ngân hàng thực hiện trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của

người phải trả sang cho người thụ hưởng hoặc bù trừ giữa các tài khoản của các

NHTM với nhau. Như vậy, thực chất của cơ chế tạo tiền của hệ thống ngân hàng là tổ

chức thanh toán qua ngân hàng và cho vay bằng chuyển khoản.Vì vậy, khi

TTNĐKDTM càng phát triển thì khả năng tạo tiền càng lớn, tạo cho ngân hàng lợi

nhuận đáng kể.

1.2. Hoạt động thanh toán nội địa không dùng tiền mặt trong NHTM.

1.2.1. Chủ thể tham gia.

Khác với thanh toán quốc tế, chủ thể tham gia giao dịch TTNĐKDTM phải ở

trong phạm vi một vùng, một quốc gia. Và mỗi giao dịch phải có ít nhất ba tham gia

đó là:

Một là người trả tiền: là người mua hàng, người nhận dịch vụ, người nộp thuế, trả

nợ hoặc là người chuyển nhượng một khoản tiền nào đó.Người trả tiền đóng vai trò

quyết định trong quá trình thanh toán. Người trả tiền có nhiệm vụ trả tiền đúng hạn,

tôn trọng những thủ tục cần thiết như lập - nộp chứng từ thanh toán theo mẫu và theo

thời hạn đúng quy định. Người trả tiền có quyền từ chối thanh toán nếu các chủ thể

khác vi phạm cam kết hay những quy định.

SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



11

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

Hai là Người nhận tiền (hay còn gọi là người thụ hưởng): là người được hưởng

một khoản tiền nào đó do đã giao hàng, cung ứng dịch vụ hoặc do luật quy định hoặc

do thiện chí của một người khác. Nếu người thụ hưởng là người cung ứng hàng hóa

dịch vụ thì cơ sở để thanh toán là các chứng từ liên quan đến giao nhận hàng hóa và

cung ứng dịch vụ. Nếu người nhận tiền là chủ nợ thì cơ sở thanh toán là các hợp đồng

tín dụng hay kế ước nhận nợ. Người thụ hưởng cũng có thể là người thứ ba do người

cung cấp hàng hóa chỉ định.

Ba là Trung gian thanh toán. Trong TTNĐKDTM, trung gian thanh toán là các

ngân hàng thương mại. NHTM cung cấp các dịch vụ thanh toán cho người trả tiền,

người nhận tiền và hưởng phí dịch vụ thanh toán. Trong hoạt động này, ngân hàng vừa

là người tổ chức vừa là người thực hiện các khoản thanh toán. Chỉ có ngân hàng,

người quản lý tài khoản tiền gửi của các khách hàng mới được quyền trích chuyển

những tài khoản này theo các nguyên tắc chuyên môn đặc thù như là một nghiệp vụ

riêng của mình.

1.2.2. Các hình thức thanh toán nội địa không dùng tiền mặt trong NHTM.

1.2.2.1. Thanh toán bằng Séc

Séc là một lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu do ngân hàng Nhà

nước quy định yêu cầu đơn vị thanh toán trích ra một số tiền từ tài khoản tiền gửi thanh

toán của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc người cầm Séc.

Séc là phương tiện thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên thế

giới. Quy tắc sử dụng séc được chuẩn hóa trên luật thương mại quốc gia và công ước

quốc tế. Tại Việt Nam hiện nay (theo quyết định 30/2006/ QĐ- NHNN) thời hạn hiệu

lực thanh toán của séc là 30 ngày kể từ ngày ký phátđến khi người thụ hưởng nộp séc

vào ngân hàng xin thanh toán, tính cả ngày lễ và chủ nhật. Nếu quá thời hạn trên thì tờ

séc không còn giá trị.



Séc gồm nhiều loại tùy theo phương thức phân chia.

Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng Séc: Gồm 3 loại là séc rút tiền mặt, séc chuyển

khoản và séc thanh toán bằng tiền mặt.

Séc rút tiền mặt: là loại séc để rút tiền mặt tại ngân hàng nơi đơn vị mở tài khoản

gửi tiền hoặc các chi nhánh, đại lí của ngân hàng đó.

Séc chuyển khoản: là séc do chủ tài khoản phát hành, giao trực tiếp cho người thụ

hưởng và thanh toán bằng cách trích chuyển tiền qua tài khoản tại ngân hàng. Loại séc

này thường ghi “trả vào tài khoản” và có hai vạch chéo song song với nhau.

SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



12

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

Séc thanh toán bằng tiền mặt: là loại séc thanh toán được phát hành để thanh toán

bằng tiền mặt cho người hưởng lợi. Loại séc này thường ghi rõ chữ “tiền mặt” ở mặt

trước của tờ séc và không có hai vạch chéo song song.

Nếu căn cứ vào khả năng chuyển nhượng: Gồm 3 loại là séc kí danh (không được

chuyển nhượng); Séc theo lệnh (được chuyển nhượng thông qua thủ tục kí hậu ở mặt

sau của séc) và séc không ghi danh (chuyển nhượng tự do).

Nếu căn cứ vào khả năng thanh toán của tờ séc thì séc gồm 2 loại là séc thông

thường (séc chuyển khoản) và séc bảo chi. Đây cũng là hai loại séc được sử dụng

trong hoạt động thanh toán ở Việt Nam hiện nay.

Quy trình thanh toán

Đối với séc thông thường (séc chuyển khoản): Đây là loại séc do chủ tài khoản

phát hành và trực tiếp giao cho người thụ hưởng khi nhận hàng hóa, dịch vụ cung ứng.

Séc chuyển khoản có phạm vi thanh toán: Giữa hai khách hàng mở tài khoản tại cùng

một ngân hàng hoặc là hai khách hàng mở tại hai ngân hàng thanh toán khác nhau

nhưng trên cùng một địa bàn tham gia thanh toán bù trừ. Khả năng thanh toán của séc

phụ thuộc vào số dư tài khoản tiển gửi của người phát hành séc khi tờ séc quay trở lại

ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành.

(1)



Người trả tiền

(4)



Người thụ hưởng

(2)



(2)



(6)



(3)



Ngân hàng phục vụ người trả tiền



(5)



Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng



Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán bằng Séc thông thường

1. Sau khi nhận được hàng hóa dịch vụ, người trả tiền phát hành séc giao cho

người thụ hưởng.

2. Người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc sẽ lập 3 liên

bảng kê nộp séc cùng tờ séc nộp vào ngân hàng phục vụ mình xin thanh toán (người

thụ hưởng cũng có thể nộp trực tiếp bảng kê nộp séc kèm theo tờ séc vào ngân hàng

phục vụ người trả tiền để đòi tiền).



SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



13

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

3. Ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra (nếu lập bảng kê có gì sai sót hoặc có các tờ

séc không hợp lệ, quá thời hạn hiệu lực thanh toán thì từ chối thanh toán) sau đó

chuyển các tờ séc và bảng kê nộp séc cho ngân hàng phục vụ người trả tiền.

4. Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ

séc và số dư tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản sẽ tiến hành trích tài khoản của người

trả tiền và báo Nợ cho họ.

5. Ngân hàng phục vụ người trả tiền dùng các liên bảng kê nộp séc lập chứng từ

thanh toán bù trừ và chuyển cho ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán

cho người thụ hưởng.

6. Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng tiếp nhận các bảng kê nộp séc (thông qua

thanh toán bù trừ) sẽ ghi Có vào tài khoản cho người thụ hưởng và báo cho họ.

Đối với séc bảo chi: Đây là tờ séc chuyển khoản thông thường nhưng được ngân hàng

đảm bảo chi trả bằng cách trích trước số tiền ghi trên tờ séc từ tài khoản của bên trả tiền

đưa vào một tài khoản riêng (tài khoản tiền ký gửi đảm bảo thanh toán séc) được ngân

hàng làm thủ tục bảo chi và đánh dấu bảo chi séc trước khi giao séc cho khách hàng.

Khả năng thanh toán của séc bảo chi rộng hơn séc chuyển khoản và được đảm

bảo, không xảy ra tình trạng phát hành qua số dư. Mỗi lần phát hành séc bảo chi, chủ

tài khoản lập 2 liên giấy yêu cầu bảo chi séc kèm theo tờ séc có ghi đầy đủ các yếu tố,

trực tiếp nộp vào ngân hàng (hoặc kho bạc) nơi mình mở tài khoản.

Hai chủ thể tham gia thanh toán có thể mở tài khoản thuộc cùng một ngân hàng

hoặc mở tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau nhưng có tham gia thanh toán bù trừ. Về

cơ bản quy trình luân chuyển chứng từ trong trường hợp này giống như séc chuyển

khoản, tuy nhiên có sự khác nhau về tài khoản hạch toán.

Người trả tiền

(1a)



(1b)



(2)



(6)



Người thụ hưởng

(3)



(4)



(5)



Ngân hàng phục vụ người trả tiền



Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng



Sơ đồ 1.2: Quy trình thanh toán bằng Séc bảo chi



SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



14

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

1a. Căn cứ vào hợp đồng, người trả tiền phát hành séc và yêu cầu bảo chi mang

đến ngân hàng phục vụ mình đề nghị bảo chi séc.

1b. Ngân hàng đối chiếu séc và yêu cầu bảo chi, kiểm tra số dư tài khoản tiền gửi

của người phát hành séc. Nếu đủ điều kiện thì trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người

trả tiền vào tài khoản tiền kí gửi đảm bảo thanh toán séc và đóng dấu “bảo chi” lên séc

rồi giao cho khách hàng.

2. Người trả tiền giao nộp séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hóa, dịch vụ.

3. Người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp lệ của séc, lập 3 liên bảng kê, nộp

séc cùng các giấy tờ séc vào ngân hàng mình phục vụ mình để thanh toán.

4. Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng kiểm tra tình hợp lệ hợp pháp của séc

và các giấy tờ liên quan, nếu hợp lệ thì ghi Có vào tài khoản tiền gửi của người thụ

hưởng.

5. Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng thông báo cho ngân hàng phục vụ người

trả tiền biết về việc đã trả tiền cho người thụ hưởng.

6. Ngân hàng phục vụ người trả tiền tất toán tài khoản “tiền gửi séc bảo chi”.

1.2.2.2. Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi-Chuyển tiền (UNC-CT).

Uỷ nhiệm chi (UNC) là lệnh viết của chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng phục vụ

mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình chuyển vào tài khoản của

người thụ hưởng. Ủy nhiệm chi được sử dụng ngày một rộng rãi với các ưu thế nổi

bật: an toàn, hiệu quả và đặc biệt thuận tiện dưới sự trợ giúp của các thành tựu phát

triển trong lĩnh vực công nghệ tin học ủy nhiệm chi có thể được xử lý dưới dạng các

chứng từ điện tử.

Ở Việt Nam hiện nay, Uỷ nhiệm chi chỉ được áp dụng trong thanh toán tiền

hàng hóa dịch vụ, nộp thuế, trả nợ hoặc chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ

thanh toán tại cùng một chi nhánh ngân hàng hoặc giữa các chi nhánh ngân hàng

cùng hoặc khác hệ thống trong phạm vi cả nước.

Chuyển tiền là phương thức thanh toán theo đề nghị thanh toán của khách hàng

(người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho

người khác (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền

do khách hàng yêu cầu.



SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



15

Khóa luận tốt nghiệp

Về quy trình thanh toán:



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



Ngân hàng phục vụ chuyển tiền



(3)



(4)



Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng

(5)



(2)

(1)



Người chuyển tiền



Người thụ hưởng



Sơ đồ 1.3: Quy trình thanh toán bằng UNC-CT

1. Hai bên thực hiện giao dịch thương mại.

2. Khách hàng tiến hành lập hồ sơ thanh toán bằng hình thức UNC đề nghị thanh

toán theo các yêu cầu trên UNC.

3. Ngân hàng kiểm tra các thông tintrên UNC với tài khoản của khách hàng về

tính hợp pháp và số tiền.

4. Ngân hàng chuyển tiền chuyển trả vào tài khoản người thụ hưởng thông qua

ngân hàng phục vụ người thụ hưởng mà người hưởng lợi yêu cầu theo đúng số tiền

trên UNC và đúng số tài khoản.

5. Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng báo Có cho người thụ hưởng và kết thúc

giao dịch thanh toán.

1.2.2.3. Thanh toán bằng ủy nhiệm thu (UNT).

Ủy nhiệm thu là giấy uỷ nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng phát hành và gửi vào

ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền từ người mua hàng hóa dịch vụ.

Ủy nhiệm thu được sử dụng rộng rãi trong việc thanh toán các hoá đơn định kỳ

cho người cung ứng dịch vụ công cộng như điện, nước, điện thoại…bởi nó thường

được dùng cho các giao dịch thanh toán có giá trị nhỏ nên các UNT chiếm tỷ lệ không

đáng kể trong tổng các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt.

Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức UNT đối

với những điều kiện cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế, đồng thời phải thông báo

bằng văn bản cho ngân hàng phục vụ người thụ hưởng biết làm căn cứ để thực hiện

các UNT.



Về quy trình thanh toán:

SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



16

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

Giao hàng

(1c)

(3)

(5)



(1a)



(2)

(4)



Sơ đồ 1.4: Quy trình thanh toán bằng Ủy nhiệm thu

1a. Sauk hi giao hàng, cung ứng dịch vụ người thụ hưởng lập 4 liên ủy nhiệm thu

kèm theo chứng từ giao hàng nộp vào ngân hàng phục vụ mình. Hoặc (1b) nộp vào

ngân hàng phục vụ người trả tiền. (1c) Người mua thông báo cho ngân hàng phục vụ

mình về việc thanh toán cho người thụ hưởng bằng UNT.

2. Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sau khi nhận được bộ chứng từ do người

thụ hưởng gửi đến sẽ tiến hành ký tên, đóng dấu ghi vào sổ theo dõi UNT và gửi bộ

chứng từ này cho ngân hàng phục vụ người trả tiền.

3. Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi nhận được bộ chứng từ sẽ kiểm tra các

yếu tố cần thiết và làm thủ tục trích tài khoản tiền gửi của bên trả tiền và báo Nợ cho họ.

4. Ngân hàng phục vụ người trả tiền chuyển tiền đến ngân hàng phục vụ người

thụ hưởng để thanh toán cho người thụ hưởng.

5.Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng ghi Có vào tài khoản của người thụ hưởng

và báo Có cho họ.

1.2.2.4. Thanh toán bằng thẻ thanh toán.

Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán do ngân hàng hoặc các tổ chức tài

chính phi ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hóa,

dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán

hay tại các quầy rút tiền tự động.



SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



17

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán hiện đại dựa trên sự phát triển kỹ thuật tin

học ứng dụng trong ngân hàng, có khả năng chi trả được nhiều loại tiền, nó sẽ dần thay

thế hình thức gửi tiết kiệm một nơi, lấy nhiều nơi đang được áp dụng trong các NHTM.

Người sở hữu thẻ có thể sử dụng để rút tiền tại các cây ATM (Automated teller machine),

các quầy dịch vụ của ngân hàng đồng thời có thể được sử dụng để thanh toán tiền hàng

hóa dịch vụ tái các cơ sở chấp nhận thẻ (các thiết bị đọc thẻ - POS).

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều dạng thẻ thanh toán, dựa vào các tiêu thức

khác nhau chúng ta có thể chia thẻ thanh toán thành những loại cụ thể sau:

Nếu căn cứ theo cơ chế thanh toán thì thẻ thanh toán gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi

nợ, thẻ rút tiền mặt và thẻ lưu trữ giá trị.

Thẻ tín dụng(Credit Card): Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người

chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng

hóa, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng thường do ngân

hàng phát hành và thường được quy định một hạn mức nhất định trên cơ sở khả năng

tài chính, tài sản thế chấp của chủ thẻ. Chủ thẻ được phép chi tiêu trong hạn mức đã

cho và phải thanh toán cho ngân hàng phát hành thẻ theo định kì hàng tháng. Visa,

Master Card, American Express, Discover, JBC, Amex là các loại thẻ tín dụng phổ

biến trên thị trường hiện nay.

Thẻ ghi nợ (Debit Card): Đây là loại thẻ mà số tiền chủ thẻ có thể chi trả phụ

thuộc vào số dư tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai của họ tại NH phát hành.

Loại thẻ này khi sử dụng để mua hàng hóa hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được

khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại

cửa hàng, khách sạn (ATM, POS)...đồng thời chuyển tiền ngay lập tức vào tài khoản

của cửa hàng, khách sạn. Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại các máy

rút tiền tự động.

Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): Là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động

hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra với

loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gửi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được

cấp tín dụng thấu chi mới được sử dụng.

Thẻ lưu trữ giá trị (stored value card): là thẻ được phát hành bằng cách nộp một

số tiền nhất định để mua một thẻ, một lần sử dụng là số tiền bị trừ dần. Thẻ này thường



SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



18

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

được sử dụng để mua những hàng hóa có giá trị tương đối nhỏ như xăng, gọi điện

thoại, thẻ điện thoại, thanh toán phí cầu đường…

Nếu căn cứ theo công nghệ sản xuất thì thẻ thanh toán gồm thẻ khắc chữ nổi, thẻ

băng từ và thẻ thông minh.

Thẻ khắc chữ nổi (Embossed card): Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi

các thông tin cần thiết. Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ

thuật quá thô sơ dễ lợi dụng, làm giả mạo.

Thẻ băng từ (Magneic stripe): Là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật những

thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hóa trên băng từ ở mặt sau của thẻ.

Thẻ thông minh (smart card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, dựa trên

kỹ thuật vi xử lý tin học, một “chíp” điện tử có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính

được gắn vào thẻ khiến cho thẻ có tính an toàn và bảo mật rất cao.

Nếu căn cứ theo phạm vi lãnh thổ thì thẻ thanh toán gồm thẻ nội địa và thẻ quốc

tế.

Thẻ nội địa: Là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền

giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó. Hoạt động của loạt thẻ này rất đơn giản, chỉ

do một ngân hàng hoặc một tổ chức điều hành từ việc phát hành, xử lý trung gian cho

đến thanh toán.

Thẻ quốc tế: Đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại

tệ mạnh để thanh toán. Thẻ được hỗ trợ quản lý trên toàn thế giới bởi các tổ chức tài

chính lớn như Master Card, Visa, American Express...hoạt động thống nhất, đồng bộ.

Thẻ quốc tế rất được ưa chuộng vì tính an toàn và tiện lợi

Nếu căn cứ theo chủ thể phát hành thì thẻ thanh toán gồm thẻ do ngân hàng phát

hành (Visa, Mastercard, JBC, ATM, thẻ đa năng...) và Thẻ do các tổ chức phi ngân

hàng phát hành (Dinners club, Amex, Lingo…).

Về quy trình thanh toán:

(2)



Người sử dụng thẻ

(1a)



(3)



(1b)



Cơ sở tiếp nhận thẻ

(4)



(5)



(6)



NH phát hành thẻ

SVTH: Đỗ Hoài Nam



NH đại lý thanh toán thẻ



Lớp: K45H4



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (58 trang)

×