1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Thứ hai, Môi trường văn hóa-xã hội.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (436.65 KB, 58 trang )


25

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

về pháp luật sẽ làm cho ngân hàng phải có thời gian để thích ứng và chi phí để thích

ứng nhiều khi rất lớn, nếu không giải quyết tốt ngân hàng dễ mất uy tín với khách

hàng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng và kém hiệu quả.

Trong điều kiện tình hình chính trị, pháp luật ổn định các tổ chức kinh tế và dân

cư có điều kiện phát triển kinh tế do đó tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và tỷ trọng

thanh toán qua ngân hàng tăng lên tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút được lượng

tiền mặt ngoài xã hội .Từ đó, ngân hàng có thêm một nguồn vốn để đầu tư vào các lĩnh

vực sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế và mở rộng các sản phẩm dịch vụ của ngân

hàng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng.

Thứ tư, Yếu tố cạnh tranh giữa các NHTM.

Nguồn lợi nhuận béo bở từ hoạt động kinh doanh là yếu tố kích thích sự ra đời

của nhiều NHTM mới và thu hút các ngân hàng nước ngoài nhảy vào Việt Nam. Các

NHTM luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt không chỉ từ các NHTM khác mà

còn từ tất cả các tổ chức tín dụng đang cùng hoạt động kinh doanh trên thương trường

với mục tiêu: giành giật khách hàng, tăng thị phần, tăng vị thế kinh doanh cũng như

mở rộng cung ứng các dịch vụ. Chính vì vậy, cạnh tranh là yếu tố thúc đẩy các ngân

hàng phát triển và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ nói chung và dịch vụ thanh toán

không dùng tiền mặt nói riêng.

1.4.2. Các yếu tố chủ quan.

Các yếu tố chủ quan tác động đến hoạt động thanh toán nội địa không dùng tiền

mặt là các yếu tố thuộc về bản thân ngân hàng như: Năng lực tài chính, năng lực quản

trị điều hành, công nghệ thanh toán, chiến lược của ngân hàng, chính sách Marketing

ngân hàng, uy tín của ngân hàng, mạng lưới điểm giao dịch và trình độ nguồn nhân

lực. Cụ thể:

Năng lực tài chính của ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ là

nguồn lực đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của NHTM mà còn là khả năng khai

thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh.

Năng lực tài chính được thể hiện thông qua các chỉ tiêu định lượng như: quy mô vốn,

chất lượng tài sản, khả năng thanh toán và sinh lời… đây là những yếu tố tác động trực

tiếp đến khả năng mở rộng mạng lưới hoạt động, trang bị máy móc, công nghệ hiện

SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



26

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

đại giúp cho hoạt động TTNĐKDTM của ngân hàng được tiến hành một cách nhanh

chóng, an toàn. Một ngân hàng có năng lực tài chính tốt sẽ luôn duy trì được hoạt động

bình thường và phát triển một cách ổn định, bền vững trong mọi điều kiện về kinh tế,

chính trị, xã hội trong nước và thế giới. Hơn nữa, năng lực tài chính của một NHTM

càng được đảm bảo thì mức độ rủi ro trong thanh toán cũng như các hoạt động kinh

doanh khác càng thấp và năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường càng cao.

Vì vậy, năng lực tài chính của bản thân ngân hàng phải không ngừng nâng cao và hoàn

thiện là điều kiện không thể thiếu để phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

trong ngân hàng thương mại.

Năng lực quản lý điều hành: Yếu tố này được thể hiện qua quy trình kiểm tra,

kiểm soát nội bộ, quy trình quản trị rủi ro trong TTNĐKDTM của các NHTM. Kiểm

tra kiểm soát nội bộ để đảm bảo quy trình thanh toán được triển khai đúng, đồng đều

và chất lượng thông qua hệ thống thông tin hai chiều (của cả nhân viên và lãnh đạo).

Hoạt động kiểm tra kiểm soát được thực hiện tốt sẽ giúp ngân hàng phát hiện kịp thời

vi phạm, các vấn đề bất cập, vướng mắc trong quá trình thanh toán và đưa ra hướng

giải quyết, đảm bảo cung cấp dịch vụ TTNĐKDTM tốt nhất tới khách hàng. Đồng

thời, khi ngân hàng xây dựng một chế độ quản lí giám sát tốt, đảm bảo giải quyết hài

hòa và dân chủ giữa nhân viên và lãnh đạo sẽ tạo cho nhân viên phát cơ hội huy năng

lực sở trường cá nhân nhưng không vô tổ chức sẽ góp phần đảm bảo cho hoạt động

cung ứng dịch vụ TTNĐKDTM được triển khai chuyên nghiệp và hiệu quả.

Trong cung cấp dịch vụ thanh toán nội địa không dùng tiền mặt, mặc dù mức độ rủi

ro đối với hoạt động này được đánh giá ít hơn so với hoạt động tín dụng nhưng không

có nghĩa là không có rủi ro. Các rủi ro xảy ra thường liên quan tới kĩ thuật, an ninh

hay do nhầm lẫn trong quá trình thực hiện thanh toán…gây ra thiệt hại cho khách

hàng, làm mất uy tín của ngân hàng. Vì vậy, quản lý và kiểm soát rủi ro trong thanh

toán không dùng tiền mặt cũng là một nội dung quan trọng trong quy trình quản trị

hoạt động mà các NHTM cần phải chú ý.

Công nghệ thanh toán: Đây là yếu tố vô cùng quan trọng, tác động trực tiếp tới

chất lượng dịch vụ thanh toán nội địa không dùng tiền mặt được cung ứng. Theo xu

thế phát triển hiện nay, các thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất luôn được ưu tiên

ứng dụng vào lĩnh vực ngân hàng, để sáng chế và đưa vào sử dụng các phương tiện

SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



27

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

thanh toán hiện đại nhất với mục đích thỏa mãn như cầu khách hàng. Việc ứng dụng

các thành tựu công nghệ tin học và tự động hóa vào thanh toán sẽ đáp ứng được yêu

cầu nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiết kiệm được chi phí trong thanh toán. Cụ

thể, ngân hàng đã sử dụng hệ thống chuyển tiền nhanh, máy gửi, rút tiền tự động

ATM, các điểm chấp nhận thẻ thanh toán (POS), tham gia hệ thống thanh toán điện tử

liên ngân hàng, thẻ điện tử, ngân hàng tự động, ngân hàng internet…việc thay thế các

chứng từ giấy bằng các chứng từ điện tử đã mang lại những cải biến rõ rệt về thời

gian, khối lượng và chất lượng thanh toán. Như vậy, công nghệ thanh toán là yếu tố

không thể thiếu, đóng vai trò quyết định tới chất lượng, sự phát triển và khả năng cạnh

tranh của NHTM trong hoạt động TTNĐKDTM.

Chiến lược và chính sách Marketing của ngân hàng: Tùy vào mỗi thời kì, mỗi

giai đoạn phát triển mà ngân hàng có những chiến lược, chính sách marketing khác

nhau. Các chiến lược, chính sách này quyết định hướng thực hiện của tất cả hoạt động

kinh doanh để đạt được những mục tiêu trong giai đoạn đó.

Uy tín của ngân hàng: Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng quyết định đến sự

tồn tại của một ngân hàng. Một ngân hàng có uy tín sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng và

duy trì nguồn khách hàng cho mình. Khách hàng chỉ sử dụng các sản phẩm dịch vụ tại

ngân hàng có uy tín. Kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, do

vậy mọi sản phẩm dịch vụ đều rất trừu tượng. Khách hàng sẽ không sẵn sàng để sử dụng

các sản phẩm dịch vụ tại một ngân hàng mà họ cho rằng nó không có uy tín. Vì vậy việc

tạo dựng lòng tin và uy tín với khách hàng là điều vô cùng quan trọng trong hoạt động

ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán nội không dùng tiền địa nói riêng.

Mạng lưới, địa điểm giao dịch: Yếu tố này có tác động khá lớn đến hoạt động

thanh toán nội địa tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Ngân hàng có

số lượng mạng lưới, điểm giao dịch, cây ATM, POS càng lớn thì khả năng đáp ứng

nhu cầu của khách hàng càng cao. Bên cạnh đó ngân hàng còn có cơ hội khai thác

thêm nhiều đối tượng khách hàng mới tại các khu vực đó. Hoạt động thanh toán nội

địa không dùng tiền sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu các sản phẩm dịch vụ TTNĐKDTM

được tiếp cận đến với nhiều khách hàng hơn.



SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



28

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

Trình độ nguồn nhân lực: Hoạt động thanh toán nội địa không dùng tiền mặt với

tiêu chí là nhanh chóng, kịp thời, chính xác và an toàn thì điều đầu tiên cần phải quan

tâm là trình độ cán bộ công nhân viên – người trực tiếp làm việc với khách hàng và

thực hiện thanh toán. Hiện nay, các ngân hàng với xu hướng ứng dụng khoa học kỹ

thuật cao vào lĩnh vực hoạt động của mình thì yếu tố con người không những không

mất đi vai trò của mình mà ngược lại ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn. Công

nghệ cao cho phép giảm số lượng cán bộ hoạt động trong hệ thống ngân hàng, nhưng

đòi hỏi rất cao về trình độ nghiệp vụ và kỹ năng công tác của mỗi cán bộ. Bởi vì, một

công nghệ có hiện đại nhất cũng không thể thay thế con người trong tất cả các hoạt

động, đặc biệt là trong những vấn đề cần tới tư duy sáng tạo của con người mà không

máy móc nào có được. Ứng dụng công nghệ cao thì các vấn đề nảy sinh trong quá

trình hoạt động càng phức tạp và hậu quả của những sai sót càng lớn đòi hỏi phải có sự

can thiệp một cách sáng tạo và linh hoạt của con người. Sự kết hợp tốt giữa con người và

máy móc là điều kiện tiên quyết để một ngân hàng hoạt động mạnh và có hiệu quả. Yếu tố

con người là điều kiện để các máy móc phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TTNĐ KDTM TẠI NGÂN

HÀNG TMCP ĐÔNG Á CHI NHÁNH HÀ NỘI.

2.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Đông Á - chi nhánh Hà Nội.

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng.

Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á

Tên giao dịch quốc tế: DONG A COMMERCIAL JOINT STOCK BANK

Tên viết tắt: EAB

Trụ sở chính: 130 Phan Đăng Lưu, Phường 3, Quận Phú Nhuận, Tp.Hồ Chí Minh

Website: www.dongabank.com.vn

Loại hình đơn vị: Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng TMCP Đông Á (Đông Á Bank) là một trong ngân hàng cổ phần đầu

tiên được thành lập và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 1/7/1992, với số vốn điều

lệ 20 tỷ đồng, 56 cán bộ nhân viên và 3 phòng ban nghiệp vụ.Trải qua chặng đường 20

năm hoạt động, Đông Á Bank đã lập được “chiến tích” là trở thành ngân hàng dẫn đầu



SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



29

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy

về phát triển dịch vụ thẻ. Những thành tựu vượt bậc của Đông Á Bank được thể hiện

qua những con số ấn tượng như sau:





Vốn điều lệ tăng 250 lần, từ 20 tỷ đồng lên 5000 tỷ đồng, xếp thứ 12 về vốn điều lệ

trong khối các ngân hàng TMCP.







Tổng tài sản đến cuối năm 2012 là 69.278 tỷ đồng, xếp thứ 17 về tổng tải sản trong

khối các ngân hàng TMCP.







Từ 03 phòng nghiệp vụ chính là tín dụng, ngân quỹ và kinh doanh lên 32 phòng ban

thuộc hội sở và các trung tâm cùng với 3 công ty thành viên và 240 chi nhánh & phòng

giao dịch, trung tâm giao dịch 24h trên toàn quốc; 1500 cây ATM; Ngân hàng điện tử

E-Banking với 4 phương thức SMS Banking, Mobile Banking, Phone Banking và

Internet Banking.







Nhân sự tăng 7800%, từ 56 người lên 4.368 người.







Sở hữu gần 6 triệu khách hàng cá nhân và doanh nghiệp







Đơn vị chuyển tiền tiên phong nhất năm 2010 – Kiều Hối Đông Á

Trong quá trình hoạt động, Đông Á Bank đã được các tổ chức uy tín trong nước,

nước ngoài và cộng đồng xã hội ghi nhận bằng nhiều danh hiệu và giải thưởng như:

Giải thưởng dịch vụ ngân hàng tiết kiệm, cho vay, thẻ ATM tốt nhất, chứng nhận “Kỷ

lục Việt Nam” - Máy ATM TK21 – nhận và đổi tiền trực tiếp qua máy ATM, hứng

nhận chất lượng “Thanh toán quốc tế xuất sắc”, giải thưởng "Thương hiệu Việt nam

nổi tiếng nhất ngành Ngân hàng - Tài chính - Bảo hiểm”…

Tầm nhìn: Tập đoàn Tài chính Ngân hàng hàng đầu Việt Nam – Vươn ra quốc

tế, được khách hàng mến yêu, tín nhiệm và giới thiệu.

2.1.2. Giới thiệu về Đông Á Bank - chi nhánh Hà Nội.

Tên đơn vị: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á- chi nhánh Hà Nội

Địa chỉ: 181 Nguyễn Lương Bằng, Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: (04) 3733 6113



Fax: (04) 3733 9871



Cơ cấu tổ chức:



SVTH: Đỗ Hoài Nam



Lớp: K45H4



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (58 trang)

×