1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (428.98 KB, 59 trang )


4

Khóa luận tốt nghiệp



4

Khoa: Tài chính ngân hàng



giấy tờ có giá cho Chính phủ, qua nghiệp vụ này một mặt vừa thực hiện nghĩa vụ

với nhà nước mặt khác vừa đem lại thu nhập cho Ngân hàng.

b, Tài trợ cho nền kinh tế

Tuỳ theo nhu cầu và loại hình kinh doanh mà Ngân hàng chấp nhận cấp tín

dụng theo các phương thức khác nhau trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn do

Ngân hàng đưa ra.

Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao cho khách hàng

một khoản tiền để sử dụng trong một khoảng thời gian và theo mục đích nhất dịnh

trên cơ sở với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là phương thức phổ biến

nhất trong hoạt động tài trợ của Ngân hàng đối với khách hàng.

Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn kéo dài trên cơ sở

hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là các tổ chức tín dụng và khách hàng đi

thuê. Hình thức này giúp người thuê có ngay tài sản có giá trị lớn để phục vụ cho sản

xuất nhưng người thuê phải trả lãi suất thuê thường cao hơn các hình thức vay khác.

Góp vốn đầu tư: Là hình thức Ngân hàng cùng với một số đối tác cùng góp

vốn để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh. Có thể là hình thức đầu tư trực tiếp

hoặc đầu tư gián tiếp, và Ngân hàng được hưởng quyền lợi và nghĩa vụ như một cổ

đông thường.

Mua nợ: Ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng thông qua việc mua lại các

khoản nợ, hay chiết khấu các chứng từ có giá.

c, Mua bán ngoại tệ

Đây là hình thức Ngân hàng làm trung gian trong việc chuyển đổi các đồng

tiền của các quốc gia với nhau theo nhu cầu của khách hàng dựa trên tỷ giá mua bán

các đồng tiền đó với nhau, qua hoạt động này Ngân hàng thu được lợi nhuận từ

chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán. Số lượng ngoại tệ mà Ngân hàng mua

được có thể dùng để cho vay đối với các khách hàng có nhu cầu vay bằng ngoại tệ

hoặc dùng để thanh toán trong các giao dịch bằng ngoại tệ.

d, Các dịch vụ của Ngân hàng







Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán hộ.

Thông qua việc thu hút khách hàng (Cá nhân hoặc tổ chức) mở tài khoản giao

dịch tại Ngân hàng, Ngân hàng sẽ quản lý tài khoản của khách hàng và tiến hành chi

trả tiền hàng hóa dịch vụ cũng như thu hộ các khoản phải thu của chủ tài khoản theo

lệnh của họ.



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



5

Khóa luận tốt nghiệp







5

Khoa: Tài chính ngân hàng



Bảo quản vật có giá

Đây là một dịch vụ mang lại thu nhập khá cao cho các Ngân hàng. Trên thế

giới dịch vụ này rất phát triển. Nội dung của nghiệp vụ này là các Ngân hàng cho

khách hàng thuê két của Ngân hàng để bảo quản tài sản của mình và thu phí từ hoạt

động cho thuê đó.







Dịch vụ bảo lãnh

Bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của các TCTD với bên có quyền

về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không

thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. Muốn vậy khách hàng phải có được sự đồng ý

của Ngân hàng, nó phải tuân theo một qui trình bảo lãnh riêng. Khi Ngân hàng thực

hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng thì Ngân hàng được hưởng một khoản phí gọi là

phí bảo lãnh, mức phí này tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của từng hợp đồng bảo lãnh.







Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn đầu tư

Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về

quản lý tài chính vì vậy có rất nhiều cá nhân và doanh nghệp đã nhờ Ngân hàng

quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu

tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.







Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

Với trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên và hệ thống cơ sở vật chất kỹ

thuật, Ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng các thông tin về chứng khoán và đầu

tư chứng khoán như các danh mục đầu tư, quản lý tài khoản, mua bán hộ, bảo quản

chứng khoán…







Cung cấp dịch vụ đại lý

Nhiều Ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc

văn phòng ở khắp mọi nơi, nhiều Ngân hàng (thường là các Ngân hàng lớn) cung

cấp dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành chứng chỉ

tiền gửi, làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…

1.1.3. Nguồn vốn của NHTM

“Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập

hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh

doanh khác. Nó chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM. Nó quết định sự tồn tại và

phát triển của Ngân hàng”

Cơ cấu vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm:

GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



6

Khóa luận tốt nghiệp



6

Khoa: Tài chính ngân hàng



1.1.3.1. Vốn chủ sở hữu:

Vốn chủ sở hữu là điều kiện đầu tiên để ngân hàng được luật pháp cho phép

hoạt động và đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang

thiết bị, nhà cửa. Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu gồm nguồn hình thành ban

đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, nguồn vay nợ có khả năng

chuyển đổi thành cổ phần và các quỹ.

Vốn thuộc sở hữu của NHTM chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tạo

nên nguồn vốn (thường chỉ chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) nhưng nó có vai trò cực

kỳ quan trọng đối với các Ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định nên Ngân

hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất kỹ

thuật, tạo tài sản cố định phục vụ cho bản thân Ngân hàng, có thể sử dụng cho vay, đặc

b00iệt là đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác nó được coi như là tài sản đảm bảo gây

lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng khi Ngân hàng

hoạt động thua lỗ và là một căn cứ quyết định đối với qui mô và khối lượng vốn huy

động cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của Ngân hàng.

1.1.3.2. Vốn nợ

Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, vốn nợ của NHTM chiếm tỷ trọng

lớn hơn nhiều so với vốn của chủ và đây là loại vốn cơ bản để tài trợ cho các danh

mục tài sản của NHTM. Vốn nợ được huy động từ các nguồn tiền gửi, vay và một

số loại khác.

Nếu vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng để ngân hàng được đi vào hoạt động

và là đệm đỡ không thể thiếu của ngân hàng thì vốn nợ lại là yếu tố quyết định đến

sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Trên cơ sở vốn nợ tạo lập, ngân hàng sử

dụng để cho vay, đầu tư vào chứng khoán, mua sắm tài sản cố định, tiền gửi tại

ngân hàng khác và phải được thực hiện dự trữ theo quy định để đảm bảo khả năng

thanh toán. Qui mô, cơ cấu của các nhóm tài sản này được xác định một phần căn

cứ vào qui mô, cơ cấu vốn nợ.

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA

NHTM

1.2.1. Khái niệm về huy động vốn của NHTM

Xuất hiện khá lâu đời và không ngừng phát triển, thay đổi cùng với sự phát

triển của các ngân hàng thương mại, nội hàm của khái niệm hoạt động huy động

vốn đã có những thay đổi rất đáng kể, cả về quy mô và các hình thức thể hiện. Nhìn



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



7

Khóa luận tốt nghiệp



7

Khoa: Tài chính ngân hàng



chung, phổ biến nhất, khái niệm huy động vốn được dùng chủ yếu đề cập đến một

hoạt động đặc trưng nhất của các ngân hàng thương mại, đó là nhận tiền gửi và dưới

các hình thức cơ bản nhất, cụ thể là nhận tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi có và

không có kì hạn khác.

Nói một cách đơn giản hơn, để có được vốn hoạt động thì ngân hàng phải thực

hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, huy động vốn chính là hoạt động

nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng.

1.2.2. Các hình thức huy động vốn chủ yếu của NHTM

1.2.2.1. Theo tính chất nghiệp vụ

a, Huy động vốn tiền gửi

“Ngân hàng được nhận tiền gửi của các TCKT, cá nhân và các TCTD khác

dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền tửi có kỳ hạn và tiền gửi khác”



- Điều



45 Luật các TCTD số 03/1997/QH10.





Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi giao dịch):

Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi và bao gồm 2

loại sau:



+ Tiền gửi thanh toán: Đó là khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết được sử

dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các

khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an

toàn và thuận tiện. Đối với tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ

ba thường được thực hiện bằng séc hay chuyển khoản.

+ Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là các khoản tiền được ký gửi với mục

đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh toán. Khi cần thanh toán

khách hàng có thể đến ngân hàng để chi tiêu. Ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu của

khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ được phép sử dụng tồn khoản chi khi

đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả.



Tiền gửi có kỳ hạn:

Khi gửi tiền vào NHTM theo tài khoản gửi có kỳ hạn, điều ngân hàng cần biết

trước tiên là gửi với thời gian bao lâu. Tại Việt Nam, các khoản tiền gửi có kỳ hạn

thường nằm trong khoảng 6 tháng đến 24 tháng. Đây là loại tiền gửi có sự thoả

thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời gian rút tiền. Đại bộ phận nguồn

tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được ký thác với

mục đích hưởng lãi. Các NHTM nhận 2 loại tiền gửi có kỳ hạn tiền gửi có kỳ hạn

và tiền gửi báo rút (tức khi muốn rút ra phải báo trước).



Tiền gửi tiết kiệm:

GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



8

Khóa luận tốt nghiệp



8

Khoa: Tài chính ngân hàng



Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của đân cư chưa sử dụng cho tiêu

dùng. Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các

khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều

có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các

khoản tiền tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn.





Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác:

Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, các TCTD có thể

gửi tiền tại ngân hàng. Tuy nhiên, quy mô nguồn này thường không lớn.

b, Huy động vốn vay

Vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa NHTM và NHTW hoặc giữa các

NHTM với nhau hay với các TCTD khác.







Phát hành giấy tờ có giá:

Bản chất của nghiệp vụ này là ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ như

chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu để huy động vốn thường nhằm mục đích

đã định. Vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đã huy động đủ

khối lượng vốn theo dự kiến các ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ phiếu,

trái phiếu.







Vay NHNN (vay ngân hàng trung ương)

Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM.

Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (dự trữ thanh toán...), NHTM thường vay ngân

hàng Nhà nước. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu (hoặc tái

cấp vốn). Các thương phiếu đã được các NHTM chiết khấu (hoặc tái chiết khấu) trở

thành tài sản của họ. Khi cần tiền, ngân hàng mang những thương phiếu này đến tái

chiết khấu tại NHNN. NHNN điều hành vay mượn này một cách chặt chẽ; tuỳ thuộc

chính sách tiền tệ từng thời kỳ mà NHTM phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và

kiểm soát nhất định.







Huy động vốn qua hình thức vay các TCTD khác:

Đó là nguồn các NHTM vay lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên thị

trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Đây là hình thức cho vay, nhưng thực

chất nó là hình thức tương trợ giữa các ngân hàng để có được sự hợp tác đôi bên

cùng có lợi. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu sẽ có thể sẵn lòng cho các

ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu

hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản.

1.2.2.2. Theo thời hạn huy động:



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



9

Khóa luận tốt nghiệp



9

Khoa: Tài chính ngân hàng



a, Huy động vốn ngắn hạn

Đây là hình thức ngân hàng huy động vốn để cho vay ngắn hạn thường là dưới

1 năm. Vốn ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn huy

động (nếu ngân hàng thuộc khối phục vụ cho vay dân cư): cho vay để mua đồ sinh

hoạt, cho vay tiêu dùng, cho vay vốn lưu động… Do vậy nguồn vốn này được huy

động với lãi suất thấp.

b, Huy động vốn trung và dài hạn:

Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách

phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn. Việc huy

động trung và dài hạn chỉ chủ yếu là vay trên thị trường vốn. Thông thường đây là

khoản huy động không có đảm bảo. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao

sẽ huy động được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp

bằng cách này. Ngoài ra, khả năng huy động còn phụ thuộc vào trình độ phát triển

của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của

ngân hàng.

1.2.2.3. Theo loại tiền:

a, Huy động vốn nội tệ

Tiền gửi bằng nội tệ của các tầng lớp dân cư: Đây chủ yếu là tiền gửi tiết

kiệm, nguồn này có quy mô, cơ cấu lớn trong tổng nguồn huy động bằng nội tệ

nhưng lại có sự tăng trưởng không ổn định.

Tiền gửi bằng nội tệ của các TCKT-XH: Nguồn tiền này cũng có quy mô, cơ

cấu lớn trong tổng nguồn huy động. Tiền gửi này thường là tiền gửi giao dịch hoặc

có kỳ hạn ngắn, hưởng lãi suất thấp.

Tiền gửi bằng nội tệ của các TCTD khác: Nguồn này có qui mô, cơ cấu nhỏ

trong tổng nguồn tiền gửi bằng nội tệ. Nguồn tiền gửi của các TCTD khác thường

có mức độ tăng trưởng khá cao nhưng chủ yếu là nguồn trong thanh toán, ngân

hàng cũng không sử dụng nhiều nguồn này để cho vay và đầu tư.

Đi vay bằng nội tệ: Tại nhiều nước NHTW thường quy định tỷ lệ giữa nguồn

tiền huy động và vốn chủ sở hữu. Do vậy nhiều NHTM vào những giai đoạn cụ thể

phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế.

Việc đi vay bằng đồng nội tệ chủ yếu là để đáp ứng sự thiếu hụt dự trữ.

b, Huy động vốn ngoại tệ



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



10

Khóa luận tốt nghiệp



10

Khoa: Tài chính ngân hàng



Tiền gửi bằng ngoại tệ cuả các tầng lớp dân cư: Tiền gửi bằng ngoại tệ của

các tầng lớp dân cư chiếm tỷ trọng nhỏ. Việc huy động vốn bằng ngoại tệ luôn bị

tác động mạnh bởi lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế và tính trạng khan hiếm

tiền đồng VND.

Tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCKT-XH: Đây chủ yếu là các khoản tiền gửi

trong thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn ngắn thường từ 1-3 tháng.

Tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCTD khác: Nguồn tiền này chiếm tỷ trọng

cao nhất trong tổng số vốn huy động bằng ngoại tệ. Tại Việt Nam đối tượng cho

vay chủ yếu là các NHTM nhà nước.

Tiền vay bằng ngoại tệ: cũng giống như tiền vay bằng nội tệ, chỉ khi thật sự

cần thiết NHTM mới đi vay nhất là bằng ngoại tệ với lãi suất cao và đầy biến động.

Do vậy lượng vay này thường nhỏ.

1.2.2.4 Theo phạm vi huy động vốn

a, Huy động vốn trong nước

Huy động vốn trong nước được coi là nguồn đặc biệt quan trọng nhất là đối

với các tổ chức tín dụng như NHTM. Khi huy động vốn trong nước, điều mà các

NHTM quan tâm đó là lãi suất phải đảm bảo nhu cầu của thị trường. Nguyên nhân

là vì lãi suất vốn trong nước không được quyết định đơn thuần chỉ bằng bởi lãi suất

nước ngoài, tỷ lệ thay đổi kỳ vọng trong tỷ giá hối đoái và mọi chi phí rủi ro mà còn

bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi điều kiện thị trường trong nước, bao gồm cung và cầu

trong nước đối với tín dụng, cấu trúc của hệ thống tài chính trong nước và tình trạng

lạm phát mong đợi.

b, Huy động vốn nước ngoài:

Xét theo lịch sử, phần lớn các khoản vốn nước ngoài chảy vào các nước đang

phát triển là mang tính chất dài hạn hoặc trung hạn (trái phiếu, viện trợ hoặc các khoản

cho vay bằng đồng tiền ngoại tệ). Hầu hết chúng được sử dụng vào các dự án và do vậy

là nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các NHTM cần có những giải pháp sử

dụng nguồn vốn tín dụng có hiệu quả và đặc biệt nên sử dụng vào việc triển khai các

chương trình quốc gia, tham gia vào các kế hoạch cụ thể do thủ tướng chính phủ ra

quyết định để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ từ phía nhà nước.



1.2.2.5 Theo đối tượng huy động



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



11

Khóa luận tốt nghiệp



11

Khoa: Tài chính ngân hàng



a, Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế

Đối với đối tượng khách hàng là các tổ chức kinh tế, hình thức mà ngân hàng

có thể huy động được nhiều nhất là tiền gửi giao dịch, thông qua việc làm trung

gian thanh toán và chuyển hoá các phương tiện thanh toán, các ngân hàng thu hút

được số lượng lớn các tổ chức mở tài khoản tạo ra tiền gửi giao dịch.

b, Huy động vốn từ cá nhân, hộ gia đình

Đối với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hình thức huy động chính là thu hút

được tiền gửi phi giao dịch. Ngân hàng sử dụng các tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền

gửi có kỳ hạn hoặc đi vay các cá nhân, hộ gia đình và cả tổ chức kinh tế.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM

1.2.3.1. Những nhân tố khách quan





Môi trường chính trị - pháp luật

Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của Ngân hàng đều phải chịu

sự điều chỉnh của pháp luật. Các hoạt động của các NHTM chịu sự điều chỉnh của

luật các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của nhà nước. Mặt

khác, ở Việt nam hiện nay các NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty do

vậy các chi nhánh Ngân hàng trong hoạt động của mình ngoài việc phải tuân thủ

theo pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nước ban hành còn phải tuân thủ

theo các quy định mà NHTW ban hành cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ,

hạn mức cho vay…







Môi trường kinh tế

Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một nhân tố vĩ mô có tác động trực tiếp

đến hoạt động của NHTM nói chung và đến hoạt động huy động vốn nói riêng. Trong

điều kiện nền kinh tế phát triển tăng trưởng và ổn định, thu nhập của người dân được

đảm bảo và ổn định thì nhu cầu tích luỹ của dân cư cao hơn từ đó lượng tiền gửi vào

Ngân hàng tăng lên hay khả năng huy động vốn tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế

lâm vào tình trạng suy thoái, thu nhập thực tế của người lao động giảm và ngày càng

biến động, điều này sẽ làm giảm lòng tin của khách hàng vào sự ổn định của đồng

tiền hơn nữa khi thu nhập thấp thì lượng tiền nhàn rỗi trong toàn nền kinh tế sẽ giảm

xuống mà lượng tiền dân cư đã ký thác vào hệ thống Ngân hàng còn có nguy sơ bị rút

ra. Khi đó Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác huy động vốn, quản ký dự trữ

và củng cố lòng tin của khách hàng vào hệ thống Ngân hàng.







Môi trường văn hóa – xã hội



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



12

Khóa luận tốt nghiệp



12

Khoa: Tài chính ngân hàng



Do hoạt động huy động vốn của Ngân hàng chủ yếu được hình thành từ việc

huy động các nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong dân cư, đây là lượng tiền nhàn rỗi chủ

yếu có được do việc người dân tiết kiệm tiêu dùng ở hiện tại để kỳ vọng sẽ được chi

tiêu nhiều hơn trong tương lai. Yếu tố tiết kiệm của dân cư lại phụ thuộc vào rất

nhiều yếu tố như thu nhập của dân cư, thói quen chi tiêu bằng tiền mặt và đặc biệt là

sự ổn định của nền kinh tế, vì vậy công tác huy động vốn của Ngân hàng chịu ảnh

hưởng rất lớn của yếu tố này. Nếu không có tiết kiệm thì sẽ không có vốn để đầu tư

cho sản xuất và ngược lại.

Ngoài ra việc phân bố dân cư ở các vùng lãnh thổ khác nhau, yếu tố tâm lý,

văn hoá và lối sống cũng khác nhau và yếu tố truyền thông cũng ảnh hưởng đến khả

năng khai thác vốn của ngân hàng thương mại. Do đó. Ngân hàng phải nắm bắt

được yếu tố tâm lý của dân từ đó để đưa ra các hình thức huy động vốn phù hợp.

• Các đối thủ cạnh tranh của NHTM

Hoạt động của ngân hàng thương mại không chỉ đơn thuần trong cạnh tranh

như thủa mới ra đời. Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các ngân hàng thương

mại, mà ngày nay nó còn bao gồm các Tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty

cho thuê tài chính, và các loại hình dịch vụ mà các tổ chức khác cung cấp. Như Bảo

hiểm, tiết kiệm Bưu điện, ... Các yếu tố này phần nào làm ảnh hưởng tới chính sách

huy động vốn của ngân hàng. Nó đòi hỏi các ngân hàng phải có những điều chỉnh

sao cho phù hợp với từng thời kỳ, vừa để giữ khách hàng truyền thống, vừa có thể

tìm kiếm thêm khách hàng mới.

1.2.3.2. Những nhân tố chủ quan (thuộc về Ngân hàng)

• Uy tín, hình ảnh của ngân hàng

Trên cơ sở thực tế sẵn có, mỗi Ngân hàng đã, đang và sẽ tạo được hình ảnh

riêng của mình trong lòng thị trường. Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho

Ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động và tiết kiệm chi phí huy

động từ đó giúp Ngân hàng chủ động hơn trong kinh doanh. Một Ngân hàng có một

bề dày lịch sử với danh tiếng, cơ sở vật chất, trình độ nhân viên… sẽ tạo ra hình ảnh

tốt về Ngân hàng, gây được sự chú ý của khách hàng từ đó lôi kéo được khách hàng

đến quan hệ giao dịch với mình.

• Quy mô của VCSH

Vốn của chủ đóng vai trò như cái đệm chống đỡ sự sụt giảm giá trị tài sản của

NHTM, nó đảm bảo lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng cũng là yếu tố quyết

định giới hạn tối đa của qui mô huy động vốn.





Chính sách của Ngân hàng trong việc huy động vốn

Trên cơ sở những thông tin của khách hàng trong hoạt động huy động và hoạt

GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



13

Khóa luận tốt nghiệp



13

Khoa: Tài chính ngân hàng



động sử dụng vốn, ngân hàng có thể đưa ra hệ thống các chính sách và biện pháp

phù hợp để có được qui mô và cơ cấu nguồn vốn mong muốn. Hệ thống chính sách

đáp ứng và gợi mở nhu cầu liên quan đến huy động vốn bao gồm: Chính sách về

huy động với qui mô, cơ cấu, kỳ hạn, lãi suất; Các chính sách liên quan đến sản

phẩm và dịch vụ tiền gửi ngân hàng; Các chính sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ

hoa hồng và chi phí dịch vụ; Các chính sách về tổ chức kỹ thuật; Các chính sách

trong phục vụ và giao tiếp,…







Cơ sở vật chất kỹ thuật:

Đây là một trong các nguồn lực để ngân hàng hoạt động có hiệu quả. Đó là

mạng lưới các chi nhánh, các điểm giao dịch với đặc thù ,vị trí, hệ thống thông tin

và thiết bị khác.







Năng lực của nhân viên, cán bộ ngân hàng

Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng là điều kiện để thực hiện tốt các

nghiệp vụ ngân hàng. Cán bộ ngân hàng phải có chuyên môn tốt để có thể quản lý

tốt nguồn vốn, thực hiện tốt công việc sử dụng vốn góp phần nâng cao chất lượng

huy động vốn.

1.3 HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM

1.3.1. Khái niệm hiệu quả huy động vốn

Hiệu quả huy động vốn của NHTM là tổng hợp các tiêu chí chỉ rõ sự tương

quan giữa khối lượng vốn huy động với chi phí bỏ ra để có được số vốn ấy và tỷ lệ

vốn được sử dụng trên tổng vốn huy động trong một thời kỳ nhất định (thông

thường là 12 tháng)

1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn

1.3.2.1. Chi phí huy động vốn:

Thành phần cơ bản của chi phí huy động vốn của các ngân hàng thể hiện ở

khoản chi phí trả lãi (trả lãi cho tiền gửi và tiền vay), cùng với khoản chi phí không

dưới dạng lãi suất (chi phí phi lãi) mà ngân hàng phải bỏ ra để huy động vốn.

Những nguồn có thời hạn ngắn thường có chi phí nguồn thấp và tính ổn định

thấp, ngược lại những nguồn có thời hạn càng dài thì chi phí cao hơn nhưng ổn định

hơn. Lãi suất ngân hàng quy định trả cho từng nguồn (nhóm nguồn) chỉ phần lớn chi

phi phí của nó, chi phí thực hiện cho vốn và các chi phí khác như kiểm ngân, phí dịch

vụ, phí bảo hiểm tiền gửi tính trên số được sử dụng để đầu tư vào tài sản sinh lời.



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



14

Khóa luận tốt nghiệp



14

Khoa: Tài chính ngân hàng



Tuỳ theo tính chất của từng nguồn vốn sẽ có nhiều mức lãi suất danh nghĩa

khác nhau. Để cạnh tranh mở rộng nguồn tiền, các ngân hàng đều cố gắng tạo ra các

ưu thế của riêng mình trong đó có ưu thế về lãi suất cạnh tranh. Một ngân hàng có

thể đưa ra mức lãi suất danh nghĩa cao hơn các ngân hàng khác hoặc cũng có thể tạo

ra lãi suất cạnh tranh bằng các phương pháp như trả lãi làm nhiều lần trong kỳ hoặc

trả lãi trước. Để đánh giá hiệu quả của các phương pháp này ngân hàng căn cứ vào

NEC (Net effective cost: lãi suất hiệu quả của mỗi nguồn tiền).

Giả sử không có lạm phát, dự trữ bắt buộc thì:

Lãi thực phải trả khách hàng

Gốc thực ngân hàng sử dụng

Nếu có tính đến dự trữ bắt buộc:

NEC =



=



Lãi thực phải trả khách hàng

Gốc thực ngân hàng sử dụng

NEC càng nhỏ thì ngân hàng càng có lợi. NEC phụ thuộc vào cách trả gốc và

NECDTBB



=



=



lãi. Cách trả lãi khác nhau thì NEC khác nhau.

Nếu trả gốc và lãi luôn một lần thì NEC = i (lãi suất danh nghĩa)

Nếu trả lãi trước NEC = i / (1 – i)

Nếu trả lãi n lần trong kỳ, NEC = (1 + i/n)n –1

Các ngân hàng thường sử dụng phương pháp trên trong điều kiện bị khống chế

về lãi suất tối đa, hoặc để thay đổi tạm thời quy mô của các khoản mục chi phí trả

lãi trong kỳ.

Để đánh giá hiệu quả quản lý chi phí trả lãi và hoạch định các mức lãi suất

cạnh tranh (gồm lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay) cho hoạt động huy động vốn,

các ngân hàng thường tính toán lãi suất bình quân (Lãi suất bình quân của một

nguồn (nhóm nguồn) được xác định bằng tỷ lệ bình quân của chi phí trả cho nó so

với số dư bình quân của nguồn (nhóm nguồn) đó trong khoảng thời gian)

Lãi suất này cho thấy xu hướng thay đổi lãi suất của nguồn, mức độ thay đổi

mỗi nguồn, sự kết hợp giữa lãi suất cá biệt và tỷ trọng mỗi nguồn; nó cũng cho thấy

những nguồn đắt tương đối (lãi suất cá biệt > lãi suất bình quân) và các nguồn rẻ

tương đối (lãi suất cá biệt < lãi suất bình quân). Ngoài ra, lãi suất bình quân đóng vai

trò quan trọng trong việc xác định chênh lệch lãi suất (phản ánh khả năng sinh lời của

ngân hàng). Điều này rất có ý nghĩa đối với hoạch định chiến lược nguồn vốn.

Với mỗi nguồn khác nhau, tỷ lệ có thể đầu tư vào các tài sản là khác nhau do

đó tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau. Để có thể đánh giá chi phí cho một nguồn hay



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

×