1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

năm 2010 - 2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (428.98 KB, 59 trang )


32

Khóa luận tốt nghiệp



32

Khoa: Tài chính ngân hàng



kinh doanh một số mặt hàng thuộc lĩnh vực nông nghiệp và một số các doanh

nghiệp trong và ngoài quốc doanh, tiền gửi này thường là tiền gửi giao dịch hoặc có

kỳ hạn ngắn, hưởng lãi suất thấp vì các doanh nghiệp đều có tốc độ quay vòng của

vốn khá nhanh. Nguồn vốn này giảm đối với ngân hàng sẽ rất không có lợi vì nếu

ngân hàng huy động được nhiều để cho vay và đầu tư thì không những kéo dài được

chênh lệch lãi suất hai đầu, giảm được chi phí vốn bình quân, tăng lợi nhuận.

Tiền gửi của các tầng lớp dân cư: Đây chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm, nguồn

này có qui mô, tốc độ tăng trưởng ổn định tăng qua các năm: tăng từ 239.683 triệu

đồng năm 2010 đến 391.733 triệu đồng năm 2011 và 672.209 triệu đồng năm 2012.

Cũng như các ngân hàng trên địa bàn có tỷ trọng tiền gửi của dân cư có xu hướng

tăng về qui mô, cơ cấu như Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Ngoại thương

.v.v., nguồn tiền gửi của dân cư tại NHNo&PTNT Sông Đà có xu hướng tăng cả về

tỷ trọng và số tuyệt đối. Điều này đã làm tăng khả năng sử dụng vốn, khả năng dịch

chuyển kỳ hạn dư nợ, kết quả kinh doanh và sức cạnh tranh của NHNo&PTNT

Sông Đà.

Tiền gửi của các TCTD khác: Nguồn này trong những năm gần đây có qui mô,

cơ cấu tăng trưởng không ổn định. Năm 2010 tiền gửi nột tệ của các TCTD khác tại

ngân hàng là 281.092 triệu đồng, năm 2011 tăng lên đạt 569.013 triệu đồng và đến

năm 2012 lại giảm xuống còn 417.052 triệu đồng; kéo theo đó là sự thay đổi về cơ

cấu, năm 2010 nguồn tiền này chiếm 16,52% trong tổng nguồn vốn, đến năm 2011

đã tăng lên chiếm 32,45% và năm 2012 giảm xuống chiếm 23,03% trong tổng

nguồn huy động bằng nội tệ. Nguồn tiền gửi của các TCTD khác thường có mức độ

tăng trưởng giữa các năm có sự chênh lệch khá cao, chủ yếu là nguồn trong thanh

toán, ngân hàng cũng không sử dụng nhiều nguồn này để cho vay và đầu tư.

Tiền vay của các tổ chức tín dụng khác: Nguồn này có qui mô, cơ cấu nhỏ

nhất trong tổng nguồn. Tỷ trọng chỉ chiếm khoảng 3%-8%, tốc độ không ổn định.

Nguồn vay này ngân hàng chỉ sử dụng để đáp ứng nhu cầu đảm bảo thanh khoản,

không sử dụng để đầu tư, cho vay.





Trong vốn huy động của NHNo&PTNT Sông Đà thì ngoài đồng VND, ngân

hàng còn huy động vốn ngoại tệ (chủ yếu là đồng USD và EUR). So với nguồn vốn

nội tệ, nguồn ngoại tệ có tỷ trọng nhỏ hơn rất nhiều và đang có xu hướng giảm

trong những năm gần đây. Cụ thể năm 2010 nguồn ngoại tệ đạt 69.053 triệu đồng

chiếm 3,9% trong tổng nguồn vốn, năm 2011 giảm 24.091 triệu đồng tức 34,89% so



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



33

Khóa luận tốt nghiệp



33

Khoa: Tài chính ngân hàng



với năm 2010 và chiếm 2,5% trong tổng nguồn vốn, năm 2012 tiếp tục giảm 6.117

triệu đồng tức 13,6% so với năm 2010, chiếm tỷ trọng 2,1% trong tổng nguồn vốn.

Nguyên nhân tình trạng này chủ yếu là do nền kinh tế, chính trị toàn cầu đang có

những biến động không ngừng, bên cạnh đó thì người dân cũng như các TCKT tại

khu vực tỉnh Hòa Bình không có thói quen sử dụng và tích trữ ngoại tệ.

2.3.2.2. Chi phí vốn:

Chi phí vốn là chỉ tiêu quan trọng để xác định kết quả kinh doanh, đối với

NHNo&PTNT chi nhánh Sông Đà chi phí vốn được hình thành từ nguồn tiền gửi và

nguồn tiền vay.

a. Chi phí nguồn tiền gửi

Trong huy động vốn, NHNo&PTNT Sông Đà vận dụng mức lãi suất tương đối

cao đối với các loại tiền gửi, ngân hàng có thể trả lãi trước đối với các khoản tiền

gửi có kỳ hạn, trả lãi sau, trả làm nhiều lần tuỳ thuộc vào nhu cầu của khách hàng

để tăng cường huy động vốn trong điều kiện cạnh tranh, từ đó thu hút thêm khách

hàng mới (Lãi suất hiệu quả mỗi nguồn tiền - NEC luôn được tính toán phù hợp lợi

ích của khách hàng cũng như ngân hàng).

Theo diễn biến lãi suất, lãi suất bình quân huy động đầu vào tăng dần từ

0,59%/tháng năm 2010 lên 0,61%/ tháng năm 2011; 0,65%/ tháng năm 2012. Hiện

nay, giữa các ngân hàng đang có một sự chạy đua lãi suất và ngân hàng cũng không

phải là một ngoại lệ. Lãi suất của các khoản tiền gửi có kỳ hạn của NHNo&PTNT

Sông Đà tăng mạnh vào quý 1 năm 2012 với tốc độ 0,72%/ tháng. Tuy vậy, cuộc

cạnh tranh lãi suất này vẫn nằm trong sự kiểm soát và cho phép của NHNN. Do vậy

tạo điều kiện cho các ngân hàng nói chung và NHNo&PTNT Sông Đà thu hút thêm

một lượng lớn khách hàng.

Nguồn huy động tiền gửi có chi phí thấp hơn nguồn tiền vay. Trong những

năm qua, nguồn tiền gửi có mức tăng trưởng khá cao nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng

nhu cầu cho vay, đặc biệt là cho vay trung và dài hạn.

b. Chi phí nguồn tiền vay

Khi nguồn tiền gửi không đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng của tài sản,

NHNo&PTNT Sông Đà đã đi vay ngắn hạn các TCTD khác.

Theo số liệu từ bảng cân đối kế toán, ta thấy nguồn tiền vay các TCTD của

NHNo&PTNT Sông Đà trong những năm gần đây có xu hướng giảm, đây là một tín

hiệu tốt cho thấy hoạt động của ngân hàng có những bước tiến đáng kể (năm 2010

ngân hàng vay 123.826 triệu đồng chiếm 5,06% tổng nguồn vốn; năm 2011 ngân

hàng vay 99.211 triệu đồng chiếm 4,03% tổng nguồn vốn, năm 2012 ngân hàng vay



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



34

Khóa luận tốt nghiệp



34

Khoa: Tài chính ngân hàng



95.468 triệu đồng chiếm 3,91% tổng nguồn vốn). NHNo&PTNT Sông Đà vay chủ

yếu từ các ngân hàng lớn như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Công thương

với kỳ hạn ngắn từ 1- 3 tháng.

So với lãi suất bình quân khi huy động qua kênh tiền gửi, huy động qua kênh

tiền vay có chi phí cao hơn nhưng các khoản vay đóng vai trò “giá đỡ” để bù đắp sự

thiếu hụt khi nguồn tiền gửi không đủ. Vì vốn huy động tiền gửi có thể trả nợ các

khoản vay này trước hạn mà không cần phải thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào.

Mặc dù lãi suất trả cho các khoản vay không cao hơn so với lãi suất huy động

tiền gửi 12 tháng, nhưng do tính chất ngắn hạn và thiếu chủ động khi lãi suất thị

trường biến động nên NHNo&PTNT Sông Đà đã đẩy mạnh huy động tại chỗ để trả

các khoản nợ này bằng nguồn tiền gửi có chi phí thấp, ổn định hơn.

c. Chi phí tổng nguồn vốn

Chi phí tổng nguồn vốn được xây dựng, tính toán dựa trên 2 nguồn tiền chính là

nguồn tiền gửi và nguồn tiền vay. Theo cách tính lãi suất bình quân trong chương 1

đã trình bày, chi phí vốn và chênh lệch lãi suất của NHNo&PTNT Sông Đà như sau :

Bảng 9: Lãi suất bình quân đầu vào, đầu ra các thời kỳ

LSBQ đầu ra

Chênh lệch ls (%)

(%)

Năm 2010

0,59

0,81

+ 0,22

Năm 2011

0,61

0,82

+ 0,21

Tháng 1/2012

0,61

0,83

+ 0,22

Tháng 2/2012

0,61

0,83

+ 0,22

Tháng 3/2012

0,62

0,85

+ 0,23

Tháng 4/2012

0,62

0,82

+ 0,2

Tháng 5/2012

0,62

0,82

+ 0,2

Tháng 6/2012

0,62

0,84

+ 0,22

Tháng 7/2012

0,63

0,84

+ 0,21

Tháng 8/2012

0,66

0,85

+ 0,19

Tháng 9/2012

0,67

0,88

+ 0,21

Tháng 10/2012

0,69

0,9

+ 0,21

Tháng 11/2012

0,68

0,89

+ 0,21

Tháng 12/2012

0,68

0,87

+ 0,19

Năm 2012

0,65

0,85

+ 0,2

Nguồn: Báo cáo quyết toán vốn của Agribank Sông Đà năm 2010, 2011,

2012.

Biểu trên cho thấy chênh lệch lãi suất đầu ra so với đầu vào có xu hướng giảm từ

Tháng/ Năm



LSBQ đầu vào (%)



0,22%/tháng năm 2010 xuống 0,21%/tháng năm 2011 và xuống 0,2%/tháng năm

2012.

GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



35

Khóa luận tốt nghiệp



35

Khoa: Tài chính ngân hàng



Lãi suất bình quân đầu vào có xu hướng biến động tăng (0,59% - 0,65%) là do

cạnh tranh trong huy động vốn giữa các NHTM ngày càng tăng trong khi đó lãi suất

bình quân cho vay có xu hướng tăng nhưng không ổn định.

Như vậy, lãi suất bình quân đầu vào có xu hướng tăng mạnh trong khi chênh

lệch lãi suất hai đầu có xu hướng giảm. Hệ quả, chi phí vốn tăng từ đó kết quả kinh

doanh không khả quan.

2.3.2.3. Mối quan hệ giữa huy động vốn, sử dụng vốn với các loại rủi ro

Để huy động vốn từ bên ngoài, ngân hàng phải trả lãi. Khi tài trợ, ngân hàng

thu lãi. Như nhiều giá cả hàng hoá khác, lãi suất của các khoản cho vay, gửi tiền và

chứng khoán thường xuyên biến động, có thể làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng

và ngược lại gây tổn thất cho ngân hàng gây ra các loại rủi ro.

Hiệu quả công tác huy động vốn không chỉ ở chỗ có huy động được nhiều hay

không mà còn cả sự hợp lý giữa việc huy động và sử dụng vốn đem lại hiệu quả cao

cho hoạt động ngân hàng.

Ngoài ra, công tác huy động chỉ thật sự đạt hiệu quả khi huy động được nguồn

có rủi ro thấp. Sau đây, ta sẽ xem xét mối liên hệ giữa việc huy động và sử dụng vốn

với các loại rủi ro để phần nào đánh giá được hiệu quả huy động vốn của ngân hàng.

Để đạt được mục tiêu sinh lời và an toàn, mỗi ngân hàng phải xây dựng danh

mục nguồn vốn và tài sản sao cho đảm bảo sự phù hợp tương đối về qui mô, kết

cấu, thời hạn và lãi suất. Một cơ cấu kỳ hạn của nguồn vốn được xem là tích cực khi

nó thoả mãn những tiêu chuẩn sau:

+ Đảm bảo khả năng thanh toán cần thiết;

+ Sự phù hợp về độ nhạy cảm với lãi suất của nguồn vốn và tài sản;

+ Sự linh hoạt trong cơ cấu - để điều chỉnh theo hướng có lợi cho kết quả kinh

doanh bằng việc có thể khai thác cơ hội hoặc tránh những rủi ro có thể có.



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

×