1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN - CHI NHÁNH SÔNG ĐÀ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (428.98 KB, 59 trang )


38

Khóa luận tốt nghiệp



38

Khoa: Tài chính ngân hàng



3.1. CÁC KẾT LUẬN QUA NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG

VỐN CỦA NHNN&PTNT – CHI NHÁNH SÔNG ĐÀ

3.1.1. Những thành công mà Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn chi nhánh Sông Đà đã đạt được trong hoạt động huy động vốn

Trong những năm qua bên cạnh những thuận lợi chung, hoạt động kinh doanh

ngân hàng phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức. Cụ thể: Về thời

tiết, đầu năm rét đậm kéo dài, dịch bệnh ở gia súc, gia cầm; tình trạng khô hạn kéo

dài, mất điện liên tục ảnh hưởng lớn đến việc SXKD và thu nhập của người dân.

Bên cạnh đó giá cả một số mặt hàng tiêu dùng, sắt thép, VLXD tăng cao; đặc biệt

thị trường vàng, USD… liên tục biến động tăng gây tâm lý bất ổn cho người gửi

tiền những yếu tố đó đã ảnh hưởng lớn đến việc huy động vốn của Ngân hàng.

Mặt khác, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín

dụng trên địa bàn vẫn tiếp tục diễn ra. (Tháng 12/2010 Ngân hàng Công thương tỉnh

Hoà Bình lại mở thêm một PGD tại khu vực phường Hữu Nghị thuộc địa bàn hoạt

động của chi nhánh) đã làm cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp

Sông Đà càng trở nên khó khăn hơn.

Mặc dù vậy, được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của Ngân hàng cấp trên,

sự quan tâm phối hợp tạo điều kiện giúp đỡ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa

phương, đặc biệt là sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể CBVC, hoạt động kinh doanh

nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của chi nhánh đã đạt được một số

kết quả như sau:

- Một là, Quy mô nguồn vốn huy động ngày càng được mở rộng.

Với mục tiêu và chiến lược kinh doanh nhằm không ngừng mở rộng quy mô,

nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh, NHNo&PTNT Sông Đà đặt ra phương

châm tập trung khai thác nguồn nhàn rỗi của các thành phần kinh tế một cách có

hiệu quả, chú trọng hơn tới những đối tượng trong ngành để tài trợ cho những nhu

cầu ngày càng tăng của danh mục tài sản.

Trong những năm trở lại đây, vốn huy động của chi nhánh có sự tăng trưởng

qua các năm tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay

và đầu tư của mình (tổng vốn huy động được trong năm 2011 là 1.798.469 triệu

đồng, tăng 27.891 triệu đồng so với năm 2010 tương ứng với 1,57%. Đến năm 2012

huy động được 1.849.572 triệu đồng, mức tăng đã tăng lên, tăng 51.103 triệu đồng



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



39

Khóa luận tốt nghiệp



39

Khoa: Tài chính ngân hàng



ứng với 2,84% so với năm 2011). Hơn nữa, với tỷ trọng nguồn tiền gửi lớn hơn rất

nhiều nguồn tiền vay đã giúp ngân hàng giảm chi phí, tăng lợi nhuận.

Chi nhánh đã triển khai kịp thời, đầy đủ các hình thức huy động vốn với lãi

suất linh hoạt theo sự chỉ đạo của Giám đốc NHNo&PTNT tỉnh Hoà Bình, cơ cấu

nguồn vốn cũng được điều chỉnh theo hướng tăng dần loại tiền gửi có kỳ hạn nhằm

tạo cho ngân hàng một nguồn vốn ổn định (trong ba năm, tiền gửi dưới 12 tháng có

sự tăng trưởng khá ổn định, năm 2011 tăng 460.998 triệu đồng ứng với 48,49% so

với năm 2010, năm 2012 tăng 72.059 triệu đồng ứng với 5,1% so với năm 2011)

Bên cạnh đó, việc khai thác tiền gửi của các đơn vị, TCKT, các cá nhân cũng

tăng nhanh (thể hiện rõ nét nhất là ở nguồn tiền gửi từ tầng lớp dân cư, năm 2010

nguồn tiền này đạt 477.348 triệu đồng, năm 2011 tăng 78.199 triệu đồng tức

16,38% so với năm 2010, năm 2012 tăng 149.510 triệu đồng tức 26,91% so với năm

2011; trở thành một trong những kênh huy động được ngân hàng chủ trương khai

thác tối đa)

Chi nhánh đã tận dụng được tối đa nguồn vốn huy động trong nước (huy động

bằng nội tệ), nguồn vốn mang tính chất quyết định cho hoạt động của Chi nhánh,

đây có thể coi là một thành tựu lớn bởi vì muốn vươn ra bên ngoài thì phải coi trọng

nội lực, phải xem nó là tiềm năng hàng đầu để ưu tiên thu hút. Cụ thể trong giai

đoạn 2010 – 2012 nguồn vốn bằng nội tệ luôn có tỷ trọng chiếm trên 96% trong cơ

cấu nguồn vốn huy động, liên tục tăng qua các năm, năm 2011 tăng 51.982 triệu

đồng tức 3,05% so với năm 2010, năm 2012 tăng 57.400 triệu đồng tức 3,27% so

với năm 2011.

- Hai là, Agribank Sông Đà đã chủ động mở rộng mạng lưới huy động tiền

gửi, tích cực tuyên truyền, quảng bá rộng rãi các hình thức gửi tiền, triển khai các

dịch vụ hỗ trợ huy động vốn: vận động khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh

toán, mở thẻ ATM và trả lương qua tài khoản... đồng thời thường xuyên theo dõi

biến động lãi suất huy động của các Ngân hàng thương mại, các TCTD khác trên

địa bàn để chủ động linh hoạt điều hành lãi suất huy động vốn trong phạm vi giới

hạn cho phép, đảm bảo tính cạnh tranh và giữ vững được thị phần vốn huy động.

- Ba là, quy trình nghiệp vụ ngày càng được hoàn thiện, đổi mới nhằm làm

giảm thời gian giao dịch của khách hàng và tăng khối lượng huy động vốn trong

thời gian làm việc của ngân hàng. Đặc biệt đối với các quầy giao dịch với khách

hàng nhân viên ngân hàng luôn có thái độ nhiệt tình hướng dẫn cũng như trả lời



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



40

Khóa luận tốt nghiệp



40

Khoa: Tài chính ngân hàng



khách hàng. Điều đó đã gây được thiện cảm đối với khách hàng, tăng uy tín của

ngân hàng trên thị trường từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn của

ngân hàng.

- Bốn là, Agribank Sông Đà đã luôn quan tâm đến lợi ích của khách hàng trên

cơ sở tối đa hoá lợi nhuận. Ngân hàng đã đưa ra mưc lãi suất hợp lý, linh hoạt và

đưa ra nhiều kỳ hạn gửi tiền khác nhau do vậy khách hàng có thể chọn cho mình

cách thức gửi tiền phù hợp.

- Năm là, sự đoàn kết thống nhất trong ban lãnh đạo, sự đồng tâm nhất trí,

hăng say lao động của tuyệt đại đa số cán bộ công nhân viên, tuổi đời còn tương đối

trẻ có trình độ nghiệp vụ vững chắc, nhiệt tình công tác, có khả năng nhanh chóng

tiếp cận các ứng dụng hiện đại nhất trong lĩnh vực ngân hàng tiền tệ, cùng kỷ cương

điều hành kinh doanh ngày càng khoa học và thống nhất đã tạo nên sức mạnh tổng

hợp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung cũng như hoạt động

huy động vốn của ngân hàng nói riêng.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường thường xuyên biến động, sự cạnh tranh

giữa các TCTD diễn ra ngày càng gay gắt thì những kết quả trên đây của Agribank

Sông Đà thật đáng khích lệ. Nó chứng tỏ sự phát triển vững chắc của Agribank

Sông Đà trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung cũng như hoạt động huy động

vốn nói riêng, một nguồn vốn tăng trưởng khá vững chắc.

3.1.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân:

3.1.2.1. Hạn chế:

Trong quá trình thực hiện chính sách huy động vốn của mình, NHNo&PTNT

Sông Đà cũng gặp phải những trở ngại chủ quan cũng như khách quan. Cụ thể:

Thứ nhất, NHNo&PTNT Sông Đà thiếu hẳn kênh huy động vốn tiền vay các

TCKT-XH, dân cư thông qua việc phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu.

Như vậy, ngân hàng đã thiếu đi một công cụ huy động vốn trung và dài hạn.

Thứ hai, ngân hàng có cơ cấu vốn chưa thực sự ổn định. Cụ thể trong giai

đoạn 2010 – 2012 nguồn tiền gửi của các TCKT-XH trong hai năm đầu chiếm tỷ

trọng cao nhất là 46,02% năm 2010 và 36,15% năm 2011, nhưng đến năm 2012 lại

giảm xuống chỉ còn 29,06%, có tỷ trọng đứng vị trí thứ hai trong tổng vốn huy

động. Nguồn tiền gửi của các TCTD khác cũng ở trong tình trạng tương tự, năm

2011 nguồn tiền này tăng lên 40.662 triệu đồng tức 14,19% so với năm 2010 nhưng

đến năm 2012 lại giảm đi 53.590 triệu đồng ứng với giảm 16,38% so với năm 2011.



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



41

Khóa luận tốt nghiệp



41

Khoa: Tài chính ngân hàng



Thứ ba, công tác huy động vốn chưa thực sự gắn với việc sử dụng vốn. Trong

những năm qua, việc huy động vốn của NHNo&PTNT Sông Đà bị mất cân đối về kỳ

hạn. Trong khi dư thừa nguồn ngắn hạn thì nguồn vốn huy động trung và dài hạn vẫn

chưa đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh trung, dài hạn của ngân hàng (nguồn tiền gửi từ

12 tháng – 24 tháng trong năm 2011 giảm 28,3% tức 25.554 triệu đồng so với năm

2010, đến năm 2012 tiếp tục giảm 17,15% tức 11.107 triệu đồng so với năm 2011).

Việc chuyển hoán nguồn để đầu tư, cho vay trung, dài hạn còn hạn chế vì để làm điều

này ngân hàng có thể phải đối mặt với rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản.

Thứ tư, chưa thu hút được nguồn vốn từ nước ngoài. Năm 2010 nguồn ngoại

tệ đạt 69.053 triệu đồng chiếm 3,9% trong tổng nguồn vốn, năm 2011 giảm 24.091

triệu đồng tức 34,89% so với năm 2010, năm 2012 tiếp tục giảm 6.117 triệu đồng

tức 13,6% so với năm 2010. Nếu nguồn vốn trong nước mang tính chất quyết định,

ưu tiên thu hút thì nguồn vốn nước ngoài lại có ý nghĩa quan trọng trong quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

3.2.1.2 Nguyên nhân

Nguyên nhân chủ quan:

- Ngân hàng vẫn duy trì huy động vốn bằng những hình thức đơn giản, truyền

thống. Các hình thức mới như: tiết kiệm tích luỹ, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm có

mục đích gần đây mới được triển khai nhưng còn chậm, mới ở mức độ thăm dò, thử

nghiệm.Việc chưa triển khai huy động vốn thông qua hình thức phát hành giấy tờ có

giá là một hạn chế lớn của NHNo&PTNT Sông Đà.

- NHNo&PTNT Sông Đà chưa thực hiện tốt công tác phân tích nguồn vốn,

mặc dù những năm qua ngân hàng đã nghiên cứu, xem xét vấn đề này nhưng những

việc đó chưa đúng với thực chất phân tích nguồn vốn. Công tác này nếu thực hiện

tốt sẽ giúp cho ngân hàng hạn chế bớt các rủi ro có thể gặp và tối thiểu hoá chi phí

đầu vào.

Thực tế cho thấy, ngân hàng bị mất cân đối về kỳ hạn huy động, cơ cấu vốn

huy động chưa thực sự cân xứng và phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn về kỳ hạn.

Việc cân đối nguồn vốn, lập kế hoạch dự trữ chưa tốt vì vậy, ngân hàng có lúc vẫn

phải vay vốn trên thị trường liên ngân hàng.

- Ngân hàng Agribank Sông Đà vẫn chưa xác định rõ được chiến lược khách

hàng phù hợp, từ đó chưa có chính sách khách hàng hợp lý. Việc tổ chức thực hiện

chính sách chưa thường xuyên, mức độ chưa thoả đáng, ngân hàng cũng chưa đẩy



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



42

Khóa luận tốt nghiệp



42

Khoa: Tài chính ngân hàng



mạnh công tác nghiên cứu thị trường, tìm hiểu khách hàng. Trải qua thời gian dài

hoạt động, Agribank đã bộc lộ hạn chế, dẫn đến việc cơ cấu vốn huy động không có

sự ổn định.

Nguyên nhân khách quan

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng Agribank Sông Đà chịu ảnh hưởng sâu

sắc bởi đặc điểm kinh tế xã hội và sự thay đổi của môi trường kinh tế vĩ mô nói

chung. Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta và tình hình thế giới có nhiều

biến đổi: lãi suất cho vay đồng USD liên tục bị cắt giảm, trên thị trường luôn kham

hiếm đồng nội tệ, nhu cầu về vốn, nhu cầu đầu tư trên các ngành, lĩnh vực tăng

mạnh, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh, đặc biệt

trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay.

Mặc dù Đảng và Nhà nước đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát, là tiền

đề cơ bản để người dân gửi tiền vào ngân hàng nhưng nhìn chung lòng tin vào sự ổn

định của đồng tiền chưa cao khi giá cả và tỷ giá biến động.

Cạnh tranh ngày càng gay gắt diễn ra đồng thời trên 2 mặt: Một mặt, cạnh

tranh diễn ra các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp từ đó ngân hàng khó khăn trong

việc tìm kiếm doanh cho hoạt động tài trợ của mình. Mặt khác, cạnh tranh diễn ra

trong nội bộ hệ thống các NHTM với nhau và với các định chế tài chính phi ngân

hàng trong hoạt động huy động vốn.

Thói quen dùng tiền mặt của người dân làm cho việc triển khai thanh toán

không dùng tiền mặt trong nền kinh tế gặp khó khăn, phần lớn người dân không mở

và sử dụng tài khoản tại ngân hàng. Những hiểu biết của người dân về hoạt động

ngân hàng còn hạn chế nên một bộ phận dân cư còn dè dặt khi gửi tiền vào ngân

hàng. Do đó phần nào làm hạn chế khả năng huy động vốn của ngân hàng.

Đó là chưa kể đến tâm lý “số đông” của dân cư. Rất nhiều doanh nghiệp còn

mang nặng tư tưởng bao cấp, đòi hỏi phải được đáp ứng mọi nhu cầu vay vốn mà ít

quan tâm tới hiệu quả sử dụng vốn làm tăng dư nợ quá hạn gây khó khăn cho hoạt

động ngân hàng...

3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA

NHNN&PTNT – CHI NHÁNH SÔNG ĐÀ

Căn cứ vào thực lực của mình, những đặc thù trong điều kiện kinh tế xã hội và

xu thế phát triển của nền kinh tế cũng như yêu cầu phát triển của ngân hàng, sau đây

là định hướng huy động vốn của NH Agribank Sông Đà:

1. Thực hiện những cải tiến trong hệ thống phân phối. Không ngừng củng cố,

nâng cao hiệu quả hệ thống mạng lưới hoạt động kinh doanh nhằm thoả mãn tốt



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



43

Khóa luận tốt nghiệp



43

Khoa: Tài chính ngân hàng



nhất nhu cầu thị trường để tăng cầu về tài sản ngân hàng của khách hàng tạo động

lực cho hoạt động huy động vốn;

Tiếp tục hiện đại hoá công nghệ ngân hàng tại các chi nhánh và phòng giao

dịch, tạo tiền đề cho việc mở rộng các sản phẩm dịch vụ tài chính có chất lượng

cao, được thực hiện khép kín từ đó nâng dần sức cạnh tranh của ngân hàng trong

hoạt động dịch vụ.

2. Mở rộng các hình thức huy động vốn, ngân hàng có thể đưa ra các hình thức

tiền gửi tiết kiệm hoặc tiền gửi có kỳ hạn nhưng lại có một số thuộc tính của tiền

gửi không kỳ hạn, chủ động khai thác những nguồn mới, làm cho ngân hàng ít lệ

thuộc vào các nguồn, nhóm nguồn tiền gửi hay biến động.

3. Nâng cao chất lượng, dịch vụ thanh toán, cải tiến, hiện đại hoá trong hệ

thống thanh toán theo hướng giảm sự ràng buộc vào các giấy tờ, tăng an toàn trong

hoạt động thanh toán góp phần củng cố lòng tin của khách hàng.

4. Điều chỉnh cơ cấu huy động vốn theo thời gian phù hợp với việc sử dụng,

đảm bảo vốn trung và dài hạn, đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng tài sản có thời hạn

dài, ngăn ngừa các rủi ro có thể gặp phải thông qua các giải pháp mang tính định

hướng.

5. Tiến hành phân đoạn thị trường theo những tiêu thức khác nhau (như phân

loại theo địa bàn, điều kiện kinh doanh vùng, tập quán tiêu dùng, mức độ cạnh

tranh.v.v.) để từ đó xây dựng chiến lược sản phẩm, giá cả, phân phối.v.v. thích hợp

cho từng phân đoạn thị trường.

6. Thực hiện trả lãi cho các tiền gửi và áp dụng hệ thống lãi suất mang tính

cạnh tranh. Giảm bớt việc vay vốn với chi phí cao trên thị trường liên ngân hàng,

tạo ra sự chủ động hoàn toàn về vốn;



3.3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHNN&PTNT – CHI NHÁNH SÔNG ĐÀ

3.3.1. Mở rộng, đa dạng và nâng cao chất lượng các hình thức huy động vốn

3.3.1.1. Các giải pháp huy động vốn từ dân cư

Nguồn vốn huy động từ dân cư được Agribank Sông Đà xác định là nguồn

vốn quan trọng và lâu dài nhất. Để huy động nguồn vốn này chi nhánh cần tập trung

thực hiện những giải pháp sau:



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



44

Khóa luận tốt nghiệp



44

Khoa: Tài chính ngân hàng



- Củng cố và nâng cao mạng lưới hiện có, khảo sát và mở thêm các chi nhánh

cấp 2, các phòng giao dịch…tại những nơi có lợi thế khai thác nguồn vốn nhàn rỗi

trong dân cư.

- Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, quảng cáo, in tờ rơi…để giới thiệu đến

khách hàng về ngân hàng làm cho họ có sự hiểu biết và tin tưởng đối với ngân hàng.

- Nâng cao chất lượng công tác thanh toán, xây dựng cơ chế khuyến khích tư

nhân mở tài khoản tiền gửi, trước mắt nghiên cứu áp dụng tài khoản thấu chi cho

dân cư. Đây là tiền đề để thu hút cá nhân mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng và

thông qua ngân hàng để thực hiện các thanh toán chi trả dịch vụ.

- Thực hiện văn hoá giao dịch nhằm đổi mới phong cách thái độ giao dịch,

nâng cao chất lượng phục vụ, tạo uy tín để thu hút khách hàng.

3.3.1.2. Đối với các tổ chức tài chính, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp

- Duy trì và giữ vững mối quan hệ với các khách hàng truyền thống trên cơ sở

không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ.

- Xúc tiến việc xác lập quan hệ tín dụng, quan hệ tiền gửi, thanh toán nội

ngoại tệ đối với các doang nghiệp lớn, doanh nghiệp mới thành lập có triển vọng để

thu hút nguồn vốn mới từ khách hàng này.

- Đưa ra các chính sách ưu đãi về phí thanh toán, lãi suất tiền gửi,lãi suất tiền

vay, chi phí giao dịch thiết lập mối quan hệ bạn hàng. Từ đó chấp nhận cạnh tranh

để dành thị trường, giữ khách hàng truyền thống, khách hàng lớn khi cần thiết.

Agribank Sông Đà đã áp dụng nhiều hình thức huy động vốn với các mức lãi

suất biểu phí linh hoạt, hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu khách hàng đến giao dịch.

Tuy nhiên trong thời gian tới, để có thể tăng nguồn vốn huy động, ngân hàng cần

phải đa dạng hơn nữa cac hình thức huy động, thường xuyên cải tiến các hình thức

huy động vốn theo hướng có lợi cho khách hàng mà ngân hàng vẫn đạt kết quả cao.

Thứ nhất, đa dạng hoá các hình thức tiền gửi tiết kiệm trong dân bao gồm tiết

kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm đến 5 năm. Phát

triển mạnh các hình thức tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm hưởng lãi bậc thang, tiết kiệm

dự thưởng, cần chú ý đưa ra các hình thức huy động tiết kiệm bằng nội tệ được đảm

bảo theo giá trị vàng, hay ngoại tệ mạnh tại thời điểm kinh tế có biểu hiện lạm phát.

Việc đưa ra nhiều hình thức tiết kiệm phải tương ứng với điều hành linh hoạt lãi

suất phù hợp có tác dụng khuyến khích và thu hút người gửi, làm sao cho cả ngân

hàng và người gửi đều có lãi suất thoả đáng.



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



45

Khóa luận tốt nghiệp



45

Khoa: Tài chính ngân hàng



Thứ hai, Agribank Sông Đà cần phải tăng cường huy động vốn thông qua việc

mở tài khoản cá nhân, áp dụng mức lãi suất hấp dẫn hơn khuyến khích khách hàng

mở tài khoản cá nhân. Hướng dẫn cho khách hàng thấy được tiện ích khi sử dụng tài

khoản này để họ hiểu được ưu điểm của tài khoản và thường xuyên sử dụng nó.

Ngoài ra, khi tài khoản thanh toán của khách hàng có số dư cao, ngân hàng sẽ

chuyển bớt sang tài khoản tiền gửi có kỳ hạn để giúp khách hàng không bị thiệt.

Ngược lại, khi khách hàng có nhu cầu thanh toán cao ngân hàng sẽ tự động chuyển

tiền gửi có kỳ hạn thành tiền gửi thanh toán để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Thứ ba, ngày nay, bên cạnh sản phẩm huy động vốn mang tính truyền thống

thì các NHTM đang đẩy mạnh phát triển phương thức huy động vốn thông qua phát

hành giấy tờ có giá như: trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi…Mặc dù hình thức

này ngân hàng phải trả chi phí tương đối cao, song ngân hàng lại có thể huy động

được những nguồn vốn dài hạn, mang tính ổn định cao. Với kết quả kinh doanh

ngày càng đi lên, uy tín ngày càng được khẳng định thì việc phát hành giấy tờ có giá

nhăm mục đích huy động vốn là hoàn toàn có thể. điều đó giúp ngân hàng chủ động

về nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là vốn trung dài hạn.

3.3.2. Tăng cường hoạt động kinh doanh theo hướng đa dạng hoá và nâng cao

các loại hình dịch vụ

Trước mắt một mặt ngân hàng vẫn ưu tiên vào đầu tư phát triển, mặt khác phải

triển khai vào đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, chú trọng vào kinh doanh ngoại

tệ, thanh toán quốc tế, bảo lãnh,... Trong một hệ thống ngân hàng phát triển, các

ngân hàng cạnh tranh với nhau chủ yếu bằng hệ thống dịch vụ ngân hàng, một công

cụ cạnh tranh không có giới hạn. Tỷ trọng các khoản thu từ dịch vụ ngân hàng đang

ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của kinh doanh ngân hàng. Để

hoạt động kinh doanh dịch vụ sớm trở thành công cụ cạnh tranh trong việc thu hút

khách hàng, tăng nguồn vốn huy động, đồng thời làm tăng nguồn thu nhập cho ngân

hàng ngoài các dịch vụ đã áp dụng ngân hàng nên tiến hành các dịch vụ sau:

- Dịch vụ tư vấn đầu tư, tư vấn thông tin:

Trong dịch vụ tư vấn đầu tư ngân hàng có thể hướng dẫn khách hàng xây

dựng một dự án, lựa chọn sản phẩm sản xuất, tính toán nguồn tài trợ cho dự án với

lãi suất tiền vay có lợi nhất… Trong việc tham gia thi trường tiền tệ ngân hàng có

thể tư vấn cho khách hàng với số lượng vốn nhất định và thời gian cần thiét để tham

gia thị trường tiền tệ ngắn ngày được hưởng lãi suất cao.



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



46

Khóa luận tốt nghiệp



46

Khoa: Tài chính ngân hàng



Trong kinh doanh ngân hàng thông tin được coi là tiền. Vì vậy thông tin có giá

trị và có thể đem bán. Trong mô hình ngân hàng hiện đại nghiệp vụ tư vấn thông tin

đã trở nên cực kỳ quan trọng. Các ngân hàng đều có bộ phận tư vấn và có mối quan

hệ chặt chẽ với cơ quan thông tin chuyên môn để có thể cung cấp dịch vụ thông tin

cho khách hàng.

- Dịch vụ tư vấn tài chính:

Nhiều khi ngân hàng cũng phải giúp cho doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch

tài chính, phân tích tài chính hoặc lập hẳn một kế hoạch thuế( với các món thuế lập

như thế nào để có chi phí thấp nhất).

- Tư vấn về pháp luật:

Ngân hàng có thể giúp nhiều cá nhân doanh nghiệp có thể nắm rõ để thực hiện

đúng các luật pháp hiẹn hành như: Luật doanh nghiệp, Luật kinh tế…

Các loại hình dịch vụ này có thể phát triển ở nước ta bởi vì hiện nay có rất

nhiều người lãnh đạo công ty, xí nghiệp nhưng thiếu hiểu biết về luật pháp, về

thông tin và về công nghệ… Đặc biệt có công ty tư nhân không có cả ban tài chính.

3.3.3. Gắn liền việc huy động vốn với sử dụng vốn

Việc huy động vốn có hiệu quả là cơ sở để ngân hàng thực hiện việc huy động

vốn sau này. Về mặt kinh tế, sử dụng vốn có hiệu quả sẽ đảm bảo cho ngân hàng có

khả năng trang trải cho những nguồn vốn đã huy động, tạo ra uy tín của ngân hàng

đồng thời tạo cơ sở để ngân hàng áp dụng các biện pháp kinh tế trong công tác huy

động vốn sau này. Hơn nữa việc sử dụng vốn có hiệu quả thúc đẩy sự phát triển

trong quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng của mình, tạo cho ngân hàng ngày

càng có nhiều khách hàng đến giao dịch, gửi tiền vào ngân hàng .

Huy động vốn và sử dụng vốn nên gắn bó với nhau theo một nguyên tắc đó là

có sự tương ứng về thời hạn, nghĩa là nguồn vốn nào cho vay loại hình ấy. Tuy

nhiên trong điều kiện của ngân hàng nến có nguồn vốn trung dài hạn dư thừa thì có

thể cân đối cho vay ngắn hạn hoặc nếu có nguồn vốn ngắn hạn có tính ổn định cao

hoặc nguồn vốn ngắn hạn thường xuyên luân chuyển ngân hàng có thể lợi dụng

điều này để cho vay trung hạn nhưng phải xem xét để phòng rủi ro có thể xảy ra.

3.3.4. Cần sử dụng lãi suất linh hoạt đáp ứng với sự biến động của thị trường

Lãi suất là công cụ quan trọng để ngân hàng thu hút nguồn tiền gửi có trong

các tầng lớp dân cư, doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng khác.



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



47

Khóa luận tốt nghiệp



47

Khoa: Tài chính ngân hàng



Sử dụng chính sách lãi suất hợp lý sẽ vừa đẩy mạnh thu hút ngày càng nhiều

các nguồn vốn trong xã hội, vừa kích thích các đơn vị, tổ chức kinh tế sử dụng vốn

có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Chính sách lãi suất phải được xây dựng trên

cơ sở khoa học và thực tiễn, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội trong

từng thời kỳ.

3.3.5. Đẩy mạnh chính sách khách hàng

Không như những hoạt động kinh doanh khác trong hoạt động kinh doanh của

ngân hàng, quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng mang tính chất thường xuyên lâu

dài, thể hiện ở tính liên tục và tiếp tục vào sự hoạt động đó, khả năng tồn tại và phát

triển của ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vào chữ tín của khách hàng, cả khách hàng

gửi lẫn khách hàng vay và nó hỡ trợ đắc lực cho quá trình phát triển sản xuất và

kinh doanh của khách hàng cũng như ngân hàng. Điều đó khẳng định chính sách

khách hàng là một biện pháp quan trọng không thể thiếu được trong kinh doanh

ngân hàng.

Công tác khách hàng đã được Agribank Sông Đà chú trọng và bước đầu đã thu

được kết quả khả quan. Tuy vậy trong thời gian tới công tác khách hàng của ngân

hàng cần được mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng hoạt động, mang đúng ý

nghĩa chính sách khách hàng.

Trước hết để làm tốt chính sách khách hàng, ngân hàng cần phải làm tốt công

tác cán bộ. Cụ thể là phải tuyển chọn những cán bộ có năng lực phẩm chất tốt, đặc

biệt đối với cán bộ trực tiếp giao dịch với khách hàng cần phải có một ngoại hình dễ

mến, tận tuỵ với khách hàng. Ban giám đốc cùng với các trưởng phòng chỉ đạo sát

sao tới cán bộ nhân viên tạo cho họ luôn có ý thức trách nhiệm trong công tác huy

động vốn và chính sách khách hàng sao cho “mỗi cán bộ của chi nhánh là một cán

bộ huy động vốn – là một cán bộ có ý thức trách nhiệm trong chính sách khách

hàng’’.

Các phòng nghiệp vụ tìm mọi cách để cải tiến quy trình nghiệp vụ để đảm bảo

thực hiện khẩu lệnh “ Nhanh, đơn giản, an toàn, chính xác và hiệu quả’’. Cần phải

xác định cho được loại khách hàng nào là khách hàng chủ yếu của mình để có các

chế độ ưu đãi về lãi suất ký quỹ, về huy động tiết kiệm, kỳ phiếu thanh toán, về bảo

lãnh thanh toán L/C. Chi nhánh Agribank Sông Đà cần xác định khách hàng chủ

yếu của mình là các doanh nghiệp nhà nước, các công ty có số lượng hàng nhập,



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



48

Khóa luận tốt nghiệp



48

Khoa: Tài chính ngân hàng



hàng xuất thường xuyên, thanh toán đúng hạn… Do đó trong thời gian tới cần tiếp

tục củng cố mở rộng quan hệ với các khách hàng này:

* Đối với khách hàng là các doanh nghiệp: Khách hàng là doanh nghiệp

thường có quan hệ giao dịch cả tiền gửi và tiền vay tại ngân hàng. Đối với tiền gửi

do có tính ổn định thấp vì thường xuyên có nhu cầu thanh toán, nên chủ yếu là tiền

gửi không kỳ hạn, ngân hàng chỉ cần trả lãi theo chế độ qui định. Muốn khai thác

tăng nguồn vốn này ngân hàng phải làm tốt khâu thanh toán: nhanh gọn, chính xác,

kịp thời, tạo những điều kiện thuận lợi trong thanh toán.

Đối với những doanh nghiệp thường xuyên có số dư lớn, ổn định thì ngoài

việc ưu tiên trong thanh toán, phục vụ tốt, cần có chính sách khuyến khích kể cả

nâng lãi suất tiền gửi và khuyến mại tặng quà, thực hiện chính sách ưu đãi khi

khách hàng này có quan hệ vay vốn…nhằm thu hút nhiều hơn nguồn vốn nhàn rỗi

của doanh nghiệp.

* Khách hàng thuộc các tầng lớp dân cư: Đây là nhóm khách hàng đa dạng,

phong phú và tiềm năng nhất của ngân hàng. Khi nền kinh tế phát triển thì tầng lớp

dân cư có thu nhập dưới hình thức tiền tệ gia tăng. Để thu hút nguồn vốn quan trọng

này, ngân hàng cần đa dạng các hình thức huy động với nhiều kỳ hạn khác nhau

mang tính linh hoạt về lãi suất, tạo ra các phương thức trả lãi và vốn thích hợp.

Ngân hàng cần chủ động mở rộng mạng lưới hiện có, tăng thêm các điểm giao

dịch mới với những điều kiện thuận lợi dễ dàng trong gửi và rút tiền thì chắc chắn

sẽ thu hút được nhiều tiền gửi tiết kiệm.

Mặt khác, cần cải tiến giờ giấc giao dịch, phù hợp với sinh hoạt và công việc

của dân cư trên địa bàn, có thể làm việc cả ngày nghỉ, ngoài giờ hành chính để dân

có thể thuận tiện trong việc gửi và rút tiền. Như vậy, hoạt động ngân hàng sẽ gần

gũi với đời sống của dân chúng và cơ hội để mở rộng và tăng trưởng nguồn vốn sẽ

nhiều hơn.

Để mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng bình đẳng trên cơ sở lợi ích và

hiệu quả kinh tế của cả bên, ngân hàng cần phải mở rộng chiến lược Marketing như:

hàng năm vào các dịp lễ tết ban giám đốc cùng các trưởng phòng có liên quan nên

tổ chức thăm khách hàng của mình. Với cách làm này ngân hàng sẽ thực sự coi

khách hàng là “thượng đế’’ đồng thời cũng có điều kiện xem xét tại chỗ hoạt động

của khách hàng.



GVHD: TS. Vũ Xuân Dũng



SV: Bùi Thị Thanh Hòa



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

×