1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Chi phí huy động vốn.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (394.83 KB, 46 trang )


15



Khóa luận tốt nghiệp



15



GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh



Nếu ngân hàng giảm chi phí huy động bằng cách hạ lãi suất thì việc huy động vốn sẽ

rất khó khăn vì nó không khuyến khích người dân gửi tiền vào và không cạnh tranh được với

các ngân hàng khác có lãi suất cao hơn. Do đó ngân hàng phải tìm cách giảm thiểu được các

chi phí khác.

Ngoài các chỉ tiêu chính trên, hiệu quả công tác huy động vốn còn được đánh giá

qua một số chỉ tiêu sau:

- Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định.

- Số lượng vốn bị rút trước hạn, kỳ hạn thực tế của nguồn vốn…

Trên đây là một số chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn. Tuy

nhiên, một chỉ tiêu thì không thể phản ánh đầy đủ mà phải kết hợp nhiều chỉ tiêu thì mới

đánh giá đúng và thực chất hiệu quả công tác huy động vốn tại một NHTM.

1.3.

1.3.1.

1.3.1.1.



Các nhân tố ảnh hưởng tới vấn đề nghiên cứu

Nhân tố khách quan

Môi trường kinh tế xã hội.

Trạng thái của nền kinh tế nhìn chung có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh

của NHTM. Môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm các yếu tố tác động tới thu nhập, thói quen

chi tiêu, thanh toán cũng như nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng bao gồm: Tốc độ

tăng trưởng của nền kinh tế, tỉ lệ lạm phát và thất nghiệp, thu nhập bình quân đầu người,

trình độ giáo dục, dân số và các yếu tố khác. Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, các doanh

nghiệp, tổ chức xã hội có mức độ tích lũy cao, dân cư sẽ nhập cao từ đó có nguồn tích lũy

cao ,thì lượng tiền gửi vào ngân hàng có thể tăng và ngân hàng sẽ huy động được lượng

vốn nhiều hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái hay lạm phát cao, thu nhập của người

dân ổn định từ đó họ sẽ không có nguồn tiền dư thừa để tích kiệm thì họ sẽ không muốn để

tiền vào ngân hàng, các doanh nghiệp không tích lũy được nhiều, do đó lượng vốn huy

động được của ngân hàng sẽ bị giới hạn.



1.3.1.2. Môi trường pháp lý.

Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc thù cũng như các doanh

nghiệp khác trong nền kinh doanh tiền tệ, vì thế nó cũng phải tuân theo những quy định

của pháp luật cả luật doanh nghiệp và luật các tổ chức tín dụng tất cả các luật này tạo lên

hành lang pháp lý cho các hoạt động của Ngân hàng thương mại đồng thơi còn chịu tác

động từ những chính sách của chính phủ. Tất cả những điều chỉnh của nhà nước về tiền tệ,



15



SV: Nguyễn Thanh Thảo



Khoa: Tài chính ngân hàng



16



Khóa luận tốt nghiệp



16



GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh



tín dụng, tài chính, lãi suất …đều có ảnh hưởng tới nghiệp vụ huy động và sử dụng vốn của

ngân hàng.

1.3.1.3. Sự phát triển của thị trường tài chính.

Khi thị trường tài chính phát triển sẽ làm tăng tính thanh khoản cho các công cụ nợ

và nhiều sản phẩm dịch vụ khác. Do đó thị trường tài chính phát triển sẽ giúp các ngân

hàng cũng sẽ được tạo điều kiện thuận lợi trong mọi nghiệp vụ của mình đặc biệt là huy

động vốn.

Thị trường tài chính phát triển còn tạo ra sự cạnh tranh giữa các ngân hàng với

nhau, giữa ngân hàng với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Với xu thế toàn cầu

hóa đang diễn ra mạnh mẽ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng nước ngoài cũng xâm nhập

và mở rộng phạm vi hoạt động của mình ở nước ta, thực tế là thị trường của các ngân hàng

thương mại nội địa đang bị thu nhỏ. Muốn cạnh tranh được với các đối thủ, ngân hàng

không những phải nghiên cứu kĩ đối thủ mà còn phải tìm hiểu rõ về khách hàng, thị trường,

cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vu.

Bên cạnh đó, khi thị trường chứng khoán thị trường bất động sản, thị trường vàng

phát triển sẽ là các kênh đầu tư cạnh tranh về huy động vốn với ngân hàng, nhà đầu tư có

nhiều lựa chọn hơn để sinh lời khoản tiền nhàn rỗi của mình, vì vậy ngân hàng cần phải tập

trung nâng cao hiệu quả và tiện ích để huy động được vốn nhiều trước sự cạnh tranh mãnh

liệt của thị trường.

1.3.1.4. Tâm lý và thói quen của khách hàng.

Thu nhập, thói quen tiêu dùng, thanh toán không dùng tiền mặt, thói quen sử dụng

các dịch vụ của ngân hàng (thanh toán, chuyển tiền, sec, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền…) có ảnh

hưởng tới hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng vì những yếu tố đó có ảnh

hưởng tới quyết định gửi tiền của người dân. Khi mà người dân vẫn còn thói quen chi tiêu

tiền mặt và cất giữ tiền tại nhà thì sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc huy động.

Ngược lại, nếu người dân đã quen với việc thanh toán không dùng tiền mặt, nhận thức

được lợi ích của việc cất trữ tiền tại ngân hàng thì sẽ tạo điều kiện tốt cho hoạt động huy

động vốn của ngân hàng. Khi khách hàng nhận được một thông tin xấu về ngân hàng hoặc

nhận thấy có những bất lợi hay khó khăn trong tương lai có thể ảnh hưởng tới lợi ích của

họ, họ sẽ rút tiền ra khỏi ngân hàng hoặc cất trữ dưới dạng khác, vì thế làm thay đổi quy

mô và cơ cấu của nguồn vốn huy động.

1.3.1.5. Cơ cấu dân cư và vị trí địa lý.

Những khu vực có mật độ dân số cao, giao thông thuận tiện như các thành phố lớn,

ở đây kinh tế phát triển, có hiều doanh nghiệp kinh doanh sản xuất, NHTM có thể tận dụng

16



SV: Nguyễn Thanh Thảo



Khoa: Tài chính ngân hàng



17



17



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh



cơ hội này để huyy động được nguồn vốn từ các chủ thể kinh tế trên địa bàn được với số

lượng lớn và nhanh hơn những nơi kém phát triển như nông thôn, miền núi. Ở những khu

vực này, ngân hàng có thể dễ dàng mở rộng mạng lưới huy động vốn của mình, cũng như

thuận lợi trong triển khai các chính sách, các sản phẩm mới.

1.3.1.6. Tiết kiệm của dân cư.

Hoạt động huy động vốn của ngân hàng chủ yếu được hình thành từ việc huy động

các nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong dân cư. Đây là lượng tiền nhàn rỗi chủ yếu có được do

việc người dân tiết kiệm tiêu dùng ở hiện tại để kỳ vọng sẽ được chi tiêu nhiều hơn trong

tương lai. Do đó công tác huy động vốn của ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố

này. Nếu không có tiết kiệm thì sẽ không có vốn để đầu tư cho sản xuất và ngược lại.

Yếu tố tiết kiệm của dân cư lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như thu nhập của dân

cư, thói quen chi tiêu bằng tiền mặt và đặc biệt là sự ổn định của nền kinh tế. Nếu nền kinh

tế mất ổn định, giá trị đồng tiền luôn biến động thì xu hướng chung của dân cư sẽ đổi các

đồng tiền bản tệ ra các đồng tiền mạnh (ngoại tệ) hay cất trữ vàng bạc, mua bất động sản…

là những tài sản có tính ổn định cao hơn.

1.3.2. Yếu tố chủ quan.

1.3.2.1. Uy tín của ngân hàng.

Uy tín ngân hàng là tài sản vô hình thuộc về mỗi NHTM và tạo ra lợi thế cho ngân

hàng, nhất là trong nền kinh tế thị trường đầy cạnh tranh như hiện nay. Khách hàng

thường sẽ lựa chọn những ngân hàng có uy tín để gửi tiền với hi vọng ngân hàng sẽ có dịch

vụ chất lượng cao hơn và hạn chế rủi ro khi có biến động trên thị trường. Ngân hàng có uy

tín sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn cho dù có đưa ra mức lãi suất thấp hơn đôi chút

so với các ngân hàng khác, do người dân tin tưởng vào mức độ an toàn mà ngân hàng

mang lại. Uy tín ngoài ảnh hưởng tới riêng hoạt động huy động vốn của ngân hàng còn ảnh

hưởng tới tất cả các hoạt động còn lại. Các tiêu chí mà khách hàng thường dùng để đánh

giá xếp hạng uy tín của một ngân hàng thường liên quan tới quá trình hoạt động của ngân

hàng, quy mô hoạt động, vốn chủ sở hữu, trang thiết bị, chủ sở hữu, đội ngũ cán bộ công

nhân viên…

1.3.2.2. Chính sách lãi suất.

Ngân hàng luôn cố gắng đa dạng hóa các nguồn vốn huy động cách thức huy

động nhằm tối thiểu hóa chi phí, huy động được với mức lãi suất thấp nhất có thể qua

17



SV: Nguyễn Thanh Thảo



Khoa: Tài chính ngân hàng



18



Khóa luận tốt nghiệp



18



GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh



đó thu được lợi nhuận cao nhất. Trong khi đó người gửi tiền lại hướng tới mức lãi suất

cao để thu lợi nhiều hơn. Do đó, ngân hàng sẽ phải đưa ra chính sách lãi suất cân bằng

được lợi ích của cả hai bên người gửi tiền và Ngân hàng để vừa tạo được sự hài lòng

của người gửi tiền lại vừa đạt được mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng.

Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, chính sách lãi suất của ngân

hàng phải đủ linh hoạt và hấp dẫn nhưng vẫn đảm bảo bù đắp chi phí và mang lại lợi nhuận

cho ngân hàng. Chính sách lãi suất của ngân hàng sẽ bao gồm lãi suất huy động và lãi suất

cho vay, nếu lãi suất huy động là chi phí mà ngân hàng bỏ ra thì lãi suất cho vay là khoản

lợi nhuận ngân hàng thu về. Thông thường lãi suất huy động cao thì thu hút được nhiều

tiền gửi, tuy nhiên cũng có những trường hợp lãi suất huy động tuy thấp hơn một chút vẫn

thu hút được quy mô tiền gửi tương đối lớn nhờ vào chất lượng dịch vụ ngân hàng cung

cấp. Bên cạnh đó, việc tính toán chính xác lãi suất huy động cũng được coi như yếu tố cơ bản

xác định mức lợi nhuận của ngân hàng. Có thể nói lãi suất là một nhân tố mang tính quyết định

trong quá trình huy động vốn của ngân hàng.

1.3.2.3. Chính sách sản phẩm.

Chính sách sản phẩm ở đây muốn đề cập tới các hình thức huy động vốn và các

dịch vụ do ngân hàng cung ứng. Một ngân hàng biết đa dạng hóa các hình thức huy động

đáp ứng thị hiếu cũng như nhu cầu của thị trường sẽ thu hút được khách hàng mới cũng

như duy trì được mối quan hệ với những khách hàng cũ nhiều hơn so với các ngân hàng

khác cứ dùng mãi một cách thức. Với nhiều hình thức huy động khác nhau, ngân hàng có

thể đáp ứng được nhu cầu của nhiều nhóm khách hàng khác nhau, ví dụ như tiền gửi tiết

kiệm với nhiều kì hạn đa dạng tương ứng với mỗi kỳ hạn là một mức lãi suất thích hợp, tài

khoản tiền gửi, huy động qua kì phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi phong phú về kì hạn,

mệnh giá …do đó tính thanh khoản của các sản phẩm huy động cũng được nâng cao.

Hiện nay với sự cạnh tranh gay gắt, có nhiều ngân hàng nên khách hàng có nhiều cơ

hội để lựa chọn ngân hàng họ cho là tốt nhất. Do đó, chất lượng dịch vụ ngân hàng cũng là

một yếu tố thu hút khách hàng đến với ngân hàng, ngân hàng nào đưa ra các dịch vụ chất

lượng cao thì có lợi thế hơn so với các ngân hàng khác. Ngày nay, tất cả các ngân hàng đều

rất chú trọng tới việc phát triển các sản phẩm dịch vụ mới cho phù hợp với nhu cầu sử

dụng của người dân.

1.3.2.4. Trình độ và thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng.

Uy tín và hình ảnh của ngân hàng một phần cũng được xây dựng từ trình độ của cán

bộ công nhân viên cũng như thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng. Một ngân hàng có

18



SV: Nguyễn Thanh Thảo



Khoa: Tài chính ngân hàng



19



Khóa luận tốt nghiệp



19



GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh



đội ngũ nhân viên trình độ nghiệp vụ cao, xử lý các nghiệp vụ nhanh nhẹn, chính xác, hiệu

quả cùng với thái độ nhiệt tình, chu đáo, vui vẻ, lịch sự, tác phong chuyên nghiệp sẽ gây

được ấn tượng tốt đẹp và chiếm được lòng tin của khách hàng. Nhân viên giao dịch có thể

coi là bộ mặt của ngân hàng, họ là những người đầu tiên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng

và hướng dẫn khách hàng quy trình gửi tiền. Khách hàng sẽ lựa chọn ngân hàng nơi có nhân

viên giao dịch khiến họ có thiện cảm và cảm thấy hài lòng khi sử dụng dịch vụ. Người quản lý

có trình độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của tất cả các hoạt động ngân

hàng. Một người quản lý có năng lực, có trình độ cũng tạo dựng niềm tin nơi khách hàng và

thu hút khách hàng đến với ngân hàng của mình.

1.3.2.5. Cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng.

Công nghệ ngân hàng có tác động trực tiếp đến chất lượng dịch vụ của ngân hàng.

Việc áp dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng giúp tiết kiệm thời gian và chi

phí giao dịch đi nhiều lần, hơn nữa lại đảm bảo an toàn và thuận tiện cho khách hàng khi

sử dụng. Nhờ có công nghệ ngân hàng mà khả năng huy động vốn của ngân hàng cũng dễ

dàng hơn. Trước tiên là thanh toán không dùng tiền mặt trở nên phổ biến, ngân hàng trở

nên gần gũi với đời sống của người dân hơn trước. Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm dịch vụ

mới ra đời như Home Banking, Phone Banking, máy rút tiền tự động ATM, hệ thống thanh

toán điện tử…

Cơ sở vật chất cũng là yếu tố cần thiết để khách hàng đánh giá tình trạng hoạt động

của ngân hàng. Khách hàng sẽ cảm tình với ngân hàng khang trang bề thế, cơ sở vật chất

thiết bị hiện đại hơn là một ngân hàng nhỏ máy móc cũ, lạc hậu.

1.3.2.6. Mạng lưới phục vụ cho hoạt động huy động vốn.

Mạng lưới huy động vốn có mở rộng mới tăng được lượng vốn huy động, ngân

hàng không chỉ chú trọng phát triển mạng lưới ở những khu vực thành thị mà cần mở ra ở

cả những nơi cách xa trung tâm kinh tế như nông thôn, vùng sâu, vùng xa…Từ đó nâng

cao hiệu quả huy động vốn.

Trên đây là các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của NHTM. Với

mỗi ngân hàng khác nhau, trong những giai đoạn khác nhau mức độ ảnh hưởng của mỗi

nhân tố đến hoạt động huy động vốn lại khác nhau, tùy thuộc vào tình hình cụ thể của từng

ngân hàng để xây dựng chiến lược huy động vốn cho phù hợp.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH HAI BÀ TRƯNG.

19



SV: Nguyễn Thanh Thảo



Khoa: Tài chính ngân hàng



20



Khóa luận tốt nghiệp



20



GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh



2.1. Giới thiệu khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội chi nhánh

Hai Bà Trưng.

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội chi

nhánh Hai Bà Trưng.

Ngân hàng TMCP Quân Đội được thành lập ngày 14/9/1994 theo giấy phép hoạt

động số 0054/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp và quyết định 00374/GP-UB

của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, với số vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng. Sau

nhiều lần tăng vốn hiện nay vốn điều lệ của MB là 10.000 tỷ đồng, MB có mạng lưới bao

phủ rộng khắp cả nước với Hội sở chính tại Thành phố Hà Nội, 01 Sở giao dịch, 1 chi

nhánh tại Lào, 138 chi nhánh và các điểm giao dịch tại 24 tỉnh và thành phố trên cả nước

với hơn 3.000 cán bộ nhân viên.

Để đáp ứng cho sư phát triển nhanh chóng của mình, Ngân hàng TMCP Quân Đội

liên tục mở rộng các chi nhánh, ngày 2 tháng 4 năm 2007, Ngân hàng TMCP Quân đội chi

nhánh Hai Bà Trưng được thành lập chính thức theo quyết định của Ngân hàng TMCP

Quân đội và giấy phép đăng kí hoạt động kinh doanh do Ngân hàng Nhà nước cấp.

Tên đơn vị: Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Hai Bà Trưng.

Địa chỉ: Số 29 - Lê Đại Hành - Q. Hai Bà Trưng - Hà Nội.

Điện thoại: 04.3974.7100



Fax: 04.3974.7104



Trong những năm qua, Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Hai Bà Trưng luôn

chứng tỏ là một chi nhánh phát triển bền vững, đạt hiệu quả kinh doanh cao. Những thành

công mà chi nhánh đã đạt được, đặc biệt trong hoạt động tín dụng đã góp phần tích cực vào

sự phát triển kinh tế thủ đô, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh chung của toàn hệ

thống Ngân hàng TMCP Quân Đội.

2.1.2. Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội chi nhánh

Hai Bà Trưng.



-



Chức năng cơ bản của chi nhánh.

Thực hiện các hoạt động huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền





-



gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi.

Thực hiện các hoạt động cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn.

Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá .

Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán và các dịch vụ khác.

Nhiệm vụ cơ bản của chi nhánh.

Phấn đấu trở thành chi nhánh cấp 1 hoạt động hiệu quả đem lại lợi nhuận tối ưu cho ngân



-



hàng.

Đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn.



20



SV: Nguyễn Thanh Thảo



Khoa: Tài chính ngân hàng



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (46 trang)

×