1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NHTM.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (414.81 KB, 56 trang )


Khóa luận tốt nghiệp

1.1.1.



6



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



Khái niệm NHTM.

Khi nghiên cứu về NHTM các nhà kinh tế đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác



nhau về NHTM. Có ý kiến cho rằng: “NHTM là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho

vay”, có ý kiến lại cho rằng: “NHTM là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh

của chính phủ để cho vay tiền và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có

khả năng dùng séc”.

Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng năm 2010 khoản 1 và khoản 2 Điều 4

đã xác định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch

vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp

các dịch vụ thanh toán” và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì “ngân hàng là một

tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của

khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các

nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài

chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là

nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung

cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.

NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế

thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền nhàn rỗi sẽ được huy động,

tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.

1.1.2. Các hoạt động kinh doanh cơ bản của Ngân hàng.

1.1.2.1. Huy động vốn.





Huy động vốn là một hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM. Đây là hoạt động đầu tiên

và chính yếu, đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân

hàng. Nguồn vốn của NHTM nằm bên phải bảng cân đối kế toán bao gồm nguồn vốn



chủ sở hữu và nguồn vốn vay.

• Huy động nguồn vốn chủ sở hữu: Đây chính là việc gia tăng qui mô vốn chủ sở hữu

của ngân hàng thông qua các biện pháp huy động vốn như một doanh nghiệp tiến

hành: Phát hành cổ phiếu, Tăng vốn điều lệ, Lợi nhuận giữ lại… Nguồn vốn chủ sở

hữu thường dùng để tài trợ cho các Tài sản dài hạn của ngân hàng.

• Huy động nguồn vốn vay: Bao gồm huy động vốn vay có kỳ hạn và không kỳ hạn

thông qua các nghiệp vụ như: Nhận tiền gửi, vay các tổ chức tín dụng và các NHTM

khác, vay của NHNN, phát hành trái phiếu ngân hàng, phát hành tín phiếu ngắn hạn…



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp



7



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



Khi NHTM thực hiện việc huy động nguồn vốn vay luôn phải cân nhắc tới yếu tố chi

phí vốn – lãi vay, để tiến hành lựa chọn những kênh huy động vốn phù hợp với khả

năng của ngân hàng đó.

1.1.2.2.

Hoạt động tín dụng.

• Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động truyền thống của NHTM.

• Tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn. Do vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay

mượn phát sinh giữa người cho vay là ngân hàng và người vay là khách hàng. Theo đó

ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu sử dụng vốn

trong nền kinh tế, thông qua đó thực hiện chức năng trung gian tài chính của ngân

hàng.

• Hoạt động tín dụng là hoạt động đa dạng và phức tạp, mang lại nhiều lợi nhuận và



-



cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng.

• Các loại hình tín dụng của ngân hàng:

Chiết khấu thương phiếu: Thương phiếu là giấy nợ phát sinh từ hoạt động tín dụng

thương mại giữa các tổ chức kinh tế.

Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ mà ngân hàng sẽ mua lại các thương phiếu

trước khi nó đến hạn tại một mức giá theo thỏa thuận để đáp ứng nhu cầu về vốn cho



-



doanh nghiệp.

Bảo lãnh: Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo

lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi



-



khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.

Chức năng thanh toán là một trong những cơ sở đầu tiên để hình thành nên hệ thống

ngân hàng. Đây cũng là một chức năng căn bản để phân biệt hoạt động của ngân hàng



với các tổ chức tài chính khác.

• Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh

nghiệp và các cá nhân. Nhờ đó ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều

khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu

ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó

ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu

tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn



-



cho đến khi khách hàng cần tiền mặt thanh toán.

• Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn:

Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực

này nên ngân hàng thực hiện quản lý tài sản và quản lý các hoạt động tài chính hộ

khách hàng.



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp

-



8



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



Các nghiệp vụ ủy thác như: ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy

thác về đầu tư…Tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính…

1.2.

Hoạt động cho vay của NHTM.

1.2.1.



Khái niệm và đặc điểm hoạt động cho vay.

Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các NHTM cũng là



hoạt động chủ yếu mang lại thu nhập cho các NHTM. Để thực hiện hoạt động này,

NHTM sử dụng phần lớn là số vốn mà ngân hàng huy động được từ nền kinh tế để

cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế thông qua hình thức cho vay chiết khấu, cho

thuê tài chính, đầu tư chứng khoán, góp vốn tham gia hay tự đầu tư vào các dự án

mang lại lợi nhuận.

-



Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao cho khách hàng sử dụng

một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với



-



nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn

vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong HĐTD



-



giữa NHTM và khách hàng.

Kỳ hạn trả nợ là khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thỏa thuận giữa

NHTM và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng phải trả một



-



phần hoặc toàn bộ vốn vay cho NHTM.

Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc NHTM và khách hàng thỏa thuận về việc thay đổi các



-



kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận trước đó trong HĐTD.

Gia hạn nợ vay là việc NHTM chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian ngoài



-



thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong HĐTD.

Hạn mức cho vay là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian



-



nhất định mà NHTM và khách hàng đã thỏa thuận trong HĐTD.

Khả năng tài chính của khách hàng vay là khả năng về vốn, tài sản của khách hàng



vay để đảm bảo hoạt động thường xuyên và thực hiện các nghĩa vụ thanh toán.

1.2.2. Vai trò của hoạt động cho vay.

• Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động

khác của ngân hàng.

Nhờ có hoạt động cho vay mà các đơn vị kinh tế có thể vay của ngân hàng để đầu

tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận thu được không những doanh nghiệp

đủ tiền trả cho ngân hàng mà còn có tiền gửi vào ngân hàng, nghĩa là làm tăng hoạt



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp



9



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



động huy động vốn của ngân hàng. Mặt khác, khi sản xuất kinh doanh phát triển, xã

hội phát triển thì các hoạt động dịch vụ của ngân hàng cũng phát triển.





Hoạt động cho vay góp phần điều hòa cung – cầu hàng hóa.



Doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh mà

thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn ngân hàng.

Về phía người tiêu dùng, với một mức thu nhập nhất định, họ không thể có đủ số

tiền để mua hàng hóa mình muốn. Họ chỉ có đủ khả năng mua sau một thời gian dài

tích lũy.

Do đó, ngân hàng cho vay là giải pháp có lợi đôi bên.

Ngân hàng cho doanh nghiệp vay sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thì sẽ có nhiều

hàng hóa. Ngân hàng cho người tiêu dùng vay sẽ thỏa mãn nhu cầu hàng hóa. Như vậy

hoạt động cho vay của ngân hàng đã góp phần điều hòa cung cầu sản phẩm hàng hóa

dịch vụ cho nền kinh tế.





Hoạt động cho vay góp phần điều tiết và phân phối các nguồn vốn.



Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi nguồn

vốn của doanh nghiệp luôn đồng thời tồn tại ở ba giai đoạn: dự trữ - sản xuất – lưu

thông. Từ đó xảy ra hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời: tại một thời điểm nhất định

có những đơn vị kinh tế có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi (thừa vốn) và có những đơn vị

tạm thời thiếu vốn. Đây là hiện tượng mang tính chất tạm thời nhưng xảy ra thường

xuyên và phổ biến trong bất kì nền kinh tế nào, làm nảy sinh nhu cầu ngày càng bức

thiết phải giải quyết được vấn đề điều hòa vốn. NHTM với với vai trò là một trung

gian tài chính đứng ra tập trung phân phối lại tiền tệ, điều hòa cung và cầu vốn cho các

doanh nghiệp, đã góp phần điều tiết lại nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn.





Hoạt động cho vay góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,

hiện đại hóa.

Nhiều thành phần kinh tế, phần lớn nguồn vốn đi vay từ ngân hàng để bắt tay vào

ngành thương mại dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn (ví dụ: kinh tế ngoài quốc doanh chiếm

tới trên 70%). Do vậy bằng các chính sách cho vay, định hướng chung của Nhà nước

góp phần tạo cho nền kinh tế một cơ cấu kinh tế hợp lý, cân đối.



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp



10



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



Bằng những công cụ tín dụng ngân hàng, ngân hàng có thể cho vay ưu đãi những

ngành nghề cần thiết để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà

nước trong từng giai đoạn cụ thể.





Hoạt động cho vay góp phần giúp các thành phần kinh tế mở rộng ứng dụng công

nghệ mới.

Với những doanh nghiệp trình độ trang thiết bị kỹ thuật còn thấp kém, công nghệ

lạc hậu, chắp vá, thiếu đồng bộ làm giảm ưu thế của các doanh nghiệp, làm cho các

doanh nghiệp đó kém phát triển. Thông qua vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp

dùng đồng vốn này để đầu tư, tìm kiếm những công nghệ hiện đại, đổi mới dây chuyền

sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm thỏa mãn nhu cầu

trong và ngoài nước. Như vậy, hoạt động cho vay mở rộng ứng dụng công nghệ mới

vào các doanh nghiệp, thông qua đó giúp doanh nghiệp sản xuất ngày càng có hiệu

quả, mở rộng sản xuất kinh doanh.

1.2.3. Phân loại hoạt động cho vay.

1.2.3.1. Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay.

• Cho vay tiêu dùng.



Mục đích của loại cho vay này là người đi vay phải sử dụng tiền vay vào việc tiêu

dùng, mua sắm tài sản cố định nhằm phục vụ lợi ích cá nhân. Khi thực hiện hình thức

cho vay này, cán bộ tín dụng đã phải tính đến nguồn tiền được dùng trả nợ ngân hàng

chính là thu nhập cá nhân của người vay tiền. Hình thức phổ biến nhất của loại hình

này là cho vay trả góp, một loại hình đã được áp dụng rất thành công ở các nước phát

triển. Ngân hàng có thể cho các công chức vay để họ mua sắm ô tô, xe máy, trả góp

nhà. Điều này giúp cho việc tiêu thụ hàng hóa trở nên thuận lợi hơn, do đó nó thúc đẩy

sản xuất phát triển.





Cho vay để kinh doanh.



Mục đích của loại cho vay này là ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để phục vụ

hoạt động kinh doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào

đó về tiền của doanh nghiệp. Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà ngân hàng sẽ thiết

lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu

tiền bán hàng của doanh nghiệp. Có thể phân chia loại hình này theo tiêu thức cho vay

doanh nghiệp sản xuất và cho vay thương mại hay có thể cho vay theo các ngành nghề



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp



11



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



kinh tế: Cho vay ngành công nghiệp, cho vay ngành nông nghiệp, cho vay ngành dịch

vụ.

1.2.3.2. Dựa theo thời hạn cho vay.

• Cho vay ngắn hạn.



Hình thức cho vay này nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn

ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất. Cho vay ngắn hạn trong những

trường hợp sau:

-



Ngân hàng cho Nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Hình thức

phổ biến hiện nay là ngân hàng mua trái phiếu do kho bạc phát hành. Khả năng hoàn

trả của Nhà nước rất cao, song cũng không loại trừ có những trường hợp Nhà nước



-



mất khả năng chi trả khi đến hạn.

Ngân hàng cho vay đối với các tổ chức tài chính như ngân hàng, các công ty tài chính,

quỹ tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Một số công ty chứng khoán vay

vốn ngắn hạn của NHTM trong quá trình bảo lãnh và phân phối chứng khoán cho công



-



ty phát hành. Phần lớn các khoản cho vay này đều dựa trên uy tín của người vay.

Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho sản

xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng đông nhất của các

NHTM. Phần lớn các khoản cho vay này có thế chấp hoặc cầm cố tài sản.

Các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng theo thời vụ là khách

hàng chủ yếu của ngân hàng.

Các doanh nghiệp cần vay ngân hàng để xây dựng, mở rộng cải tiến, sửa chữa tài

sản cố định. Các khoản vay này có thời hạn dưới một năm.

Ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Ngân hàng cho vay để phát triển đất đối với các công trình xây dựng và phát triển

đô thị.

Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng.

Cho vay trung và dài hạn.

Doanh nghiệp có nhu cầu vay trung và dài hạn để mua trang thiết bị, xây dựng, cải tiến

-







-



kĩ thuật, mua công nghệ với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, để tồn

-



tại và phát triển, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng cao.

Nhà nước vay trung và dài hạn để đầu tư phát triển.

Ngân hàng mua các trái phiếu trung và dài hạn doanh nghiệp nhằm tài trợ cho các quá

trình hình thành tài sản cố định. Kì hạn và khả năng chuyển đổi của trái phiếu, lãi suất



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp



12



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



trái phiếu, tình hình tài chính doanh nghiệp, các kế hoạch tương lai đều được ngân

-



hàng tính toán khi mua trái phiếu.

Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định, nhằm thực hiện dự án

nhất định, có thể xin vay ngân hàng. Một trong những yêu cầu cho vay của ngân hàng

là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư, cũng như quá

trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Thẩm định dự án là điều kiện để ngân

hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp.

1.2.3.3. Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay.

• Cho vay có đảm bảo.

Đây là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho vay khách hàng vay vốn, ngân

hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi vốn

vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Quá trình cung ứng vốn của NHTM

không kể dưới hình thức nào đều làm tăng khối lượng tiền vào nền kinh tế, làm tăng

khối lượng hàng hóa trên thị trường. Ngoài ra khi thực hiện việc cho vay, ngân hàng

không trực tiếp quản lý nguồn vốn của mình vì thế có rất nhiều rủi ro xảy ra, nguy cơ

không thu hồi đủ vốn vay là rất cao vì thế các ngân hàng khi cho vay thường yêu cầu

người vay phải có tài sản đảm bảo cho khoản vay.

Trong cho vay kinh doanh nguồn thu lợi thứ nhất là doanh thu đối với vay vốn lưu

động hoặc là khấu hao, lợi nhuận đối với những khoản vay trung và dài hạn. Cho vay

tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất của ngân hàng là thu nhập cá nhân như tiền lương,

các khoản thu nhập tài chính và các khoản thu nhập khác. Khi đánh giá các hoạt động

của khách hàng, nếu ngân hàng nhận thấy là nguồn thu nợ thứ nhất không có cơ sở

chắc chắn thì ngân hàng phải yêu cầu thiết lập thêm chính sách pháp lý để có thêm

nguồn thu nợ thứ hai, chính là tài sản đảm bảo cho khoản vay đó.





Cho vay không có đảm bảo.



Là khoản cho vay mà ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý

nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi kí hợp đồng tín dụng.

Những điều kiện này có thể là: người đi vay không được giao dịch với ngân hàng nào

khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được ngân hàng quản lý. Có như

vậy, ngân hàng mới quản lý được tình hình tài chính của người đi vay.



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp



13



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



Thông thường chỉ có những khách hàng có quan hệ lâu năm với ngân hàng hoặc

những khách hàng mà ngân hàng có tham gia góp vốn vào thì mới được cho vay

không có đảm bảo.

1.2.3.4. Dựa theo hình thức hình thành khoản vay.

• Cho vay trực tiếp.



Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Đây là các khoản cho vay khi

khách hàng trực tiếp đến ngân hàng và xin vay vốn. Ngân hàng trực tiếp chuyển giao

tiền cho khách hàng sử dụng trên cơ sở những điều kiện mà hai bên thỏa thuận.

Khi khách hàng có tài sản thế chấp, có uy tín cao mà không cần phải thông qua

trung gian nào thì họ thường vay trực tiếp ngân hàng.





Cho vay gián tiếp.



Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Ngân hàng cho vay qua

các tổ, hội, nhóm như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh…Các tổ chức này thường xuyên

liên kết các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều nhằm hỗ trợ lẫn

nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy việc phát triển kinh tế, làm giàu,

xóa đói giảm nghèo luôn được các trung gian rất quan tâm.

Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của

quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai

mục đích.

Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ,

người dân phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp như vậy cho vay trung gian

có thể tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích, giám sát, thu nợ…).

Cho vay trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro chi phí của ngân hàng. Tuy nhiên nó

cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình và nếu

ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại hoặc giữ lấy số tiền của

các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém

chất lượng hoặc với giá cho người vay vốn.

Quy trình cho vay.

Quy trình cho vay là tập hợp các bước, các chuẩn mực mà ngân hàng thiết lập nhằm

1.2.4.





hướng dẫn cán bộ tín dụng khi thực hiện cấp một khoản tín dụng. Việc xây dựng một

quy trình cho vay hoàn thiện có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay nói chung và

hiệu quả cho vay nói riêng.



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp





14



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



Một quy trình cho vay hợp lý và chặt chẽ sẽ giảm thiểu tối đa các rủi ro tín dụng từ đó



nâng cao chất lượng khoản vay và hiệu quả cho vay.

• Quy trình cho vay bao gồm các bước:

Bước 1: Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ xin vay:

Về mặt kinh tế, giai đoạn này chưa hình thành quan hệ tín dụng nhưng đây là giai

đoạn quan trọng vì để phân tích, đánh giá chính xác khách hàng vay vốn ngân hàng

phải dựa vào nguồn thông tin mà khách hàng cung cấp trong giai đoạn này. Lập hồ sơ

xin vay được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu

cầu vay vốn. Một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ khách hàng những

-



-



thông tin sau:

Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi dân sự của khách hàng;

Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng;

Thông tin về bảo đảm tín dụng.

Để thu thập được những thông tin trên, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải lập và

nộp cho ngân hàng các loại giấy tờ sau:

Giấy đề nghị vay vốn;

Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, giấy phép thành lập, quyết

định bổ nhiệm Giám Đốc, điều lệ hoạt động;

Phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư và kế hoạch trả nợ;

Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất;

Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay;

Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.

Bước 2: Tiếp nhận, phân tích và thẩm định hồ sơ.

Phân tích và thầm định cho vay là phân tích tình hình thực tế và tiềm năng tài chính

của ngân hàng, thẩm định tính khả thi của các dự án và các phương án sử dụng vốn

vay, khả năng hoàn trả, thu hồi vốn vay, tính hợp pháp của của tài sản thế chấp cầm

cố. Qua việc phân tích và thẩm định, ngân hàng sẽ phát hiện ra những nguy cơ tiềm ẩn

các rủi ro, khả năng kiểm soát rủi ro và dự kiến các biện pháp phòng ngừa, hạn chế

thiệt hại có thể xảy ra. Thông qua việc xem xét tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà

khách hàng cung cấp giúp ngân hàng nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng làm

cơ sở lý thuyết quyết định cho vay.

Bước 3: Quyết định và ký hợp đồng tín dụng.

Để đi đến quyết định cho vay hay không, ngân hàng cần căn cứ vào kết quả của

quá trình phân tích và thẩm định ở khâu trước, tuy nhiên để hạn chế sai lầm trong khâu



-



quyết định, có hai vấn đề cần phải chú trọng là:

Ngoài nguồn thông tin được thu thập và xử lý từ hồ sơ tín dụng từ giai đoạn trước

chuyển sang, ngân hàng cần dựa vào nguồn thông tin thu thập được từ nhiều nguồn



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp



15



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



khác nhau như từ công ty nghiên cứu thị trường, chính sách tín dụng của ngân hàng,

các quy định về hoạt động tín dụng của NHNN, nguồn vốn cho vay của ngân hàng,

-



chữ tín của người vay trong mối quan hệ với Ngân sách và các tổ chức tín dụng khác.

Nên trao quyền quyết định cho vay cho một Hội Đồng Tín Dụng hoặc những người có

năng lực phân tích và phán quyết tùy theo quy mô vốn vay nhằm nâng cao tinh thần và

ý thức trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức được giao.



Bước 4: Giải Ngân

Giải ngân là bước tiếp theo sau khi ký hợp HĐTD. Đó chính là hình thức cấp phát

tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức hay HMTD đã cam kết trong hợp đồng. Tùy

vào hình thức và quy mô của món vay cụ thể mà ngân hàng sẽ áp dụng hình thức giải

ngân một lần hay giải ngân nhiều lần.

Thông qua giải ngân ngân hàng kiểm soát được tính mục đích của việc sử dụng

vốn vay, đồng thời phát hiện và chấn chỉnh kịp thời nếu có những sai sót ở các khâu

trước.

Bước 5: Giám sát tín dụng

Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách

hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng... để đảm bảo khả

năng thu nợ.

Bước 6: Thu nợ cả gốc và lãi

Trong thời hạn cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng tiến hành thu các khoản nợ

lãi và gốc khi đến hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Bước 7: Thanh lý hợp đồng tín dụng

Thanh lý HĐTD xảy ra trong hai trường hợp:

Thứ nhất: Thanh lý HĐTD mặc nhiên khi khách hàng đã hoàn thành nghĩa vụ trả

đầy đủ các khoản nợ đối với ngân hàng.

Thứ hai: Thanh lý HĐTD bắt buộc khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho

ngân hàng, qua một số biện pháp cảnh cáo, tăng cường kiểm soát nghiêm ngặt mà vẫn

không thu được nợ buộc ngân hàng phải tiến hành việc thanh lý hợp đồng bắt buộc.

1.3.

1.3.1.



Hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM và các nhân tố ảnh hưởng.

Khái niệm hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM.



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Khóa luận tốt nghiệp



16



Khoa: Tài chính - Ngân hàng



Hiệu quả cho vay được hiểu là khả năng đáp ứng một cách phù hợp nhất nhu

cầu về vốn của khách hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn và sinh lợi cho ngân hàng.

Hiệu quả cho vay cũng có thể hiểu là sự so sánh giữa kết quả thu được và chi

phí đã bỏ ra của ngân hàng trong hoạt động cho vay.

1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay của NHTM.

1.3.2.1.

Các chỉ tiêu phản ánh kết quả cho vay của NHTM.



-



Doanh số cho vay.

Doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế trong một



-



khoảng thời gian nhất định.

Doanh số cho vay cho biết quy mô cho vay của ngân hàng đối với từng khách hàng cụ



-



thể và với cả nền kinh tế trong một khoảng thời gian.

Doanh số cho vay phụ thuộc vào quy mô, chính sách cho vay của ngân hàng, chu kì



-



kinh tế, môi trường pháp lý.

Tăng trưởng doanh số thu nợ cho vay được thể hiện qua công thức:

Số tuyệt đối:

Số tương đối:

Tốc độ tăng trưởng DS CV



Doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ số tiền mà ngân hàng thu được trong kỳ





-



đối với các khoản nợ vay trong kỳ hay các khoản nợ từ kỳ trước.

Tăng trưởng doanh số thu nợ cho vay được thể hiện qua công thức:

Số tuyệt đối:

Số tương đối:

Tốc độ tăng trưởng DS

thu nợ CV





-



Dư nợ cho vay.

Dư nợ là tổng số tiền mà ngân hàng cho vay với nền kinh tế tại một thời điểm.

Tổng dư nợ của một ngân hàng cho biết trạng thái thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu



-



cầu về vốn vay của ngân hàng đó.

Dư nợ đối với từng khách hàng cụ thể cho biết mối quan hệ của ngân hàng với khách



-



hàng trên.

Dư nợ còn là cơ sở để xác định chất lượng của khoản vay.



GVHD: PGS.TS Lê Thị Kim Nhung



SVTH: Vũ Thu Hoài Linh



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (56 trang)

×