1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Chương 1: Cơ sở lý thuyết cơ bản của phân tích tài chính doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (385.83 KB, 51 trang )


Trường Đại học Thương mại



9



Khoa Tài chính - Ngân hàng



lợi ích của chính họ” (Theo giáo trình Phân Tích TCDN của Học Viện Tài Chínhtác giả GS.TS.NSND. Ngô Thế Chi)

“Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và

các công cụ cho phép xử lý các thông tin về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài

chính của một DN, đánh giá rủi ro mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của

DN đó. Tùy theo những cương vị khác nhau của người phân tích tài chính sẽ khác

nhau nhằm những mục tiêu khác nhau.” ( Giáo trình Tài chính doanh nghiệp –

-



PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm)

Vốn kinh doanh: VKD là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy

động sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời của DN.

VKD không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của DN mà còn là một

trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển



-



của DN.

Tài sản ngắn hạn : TSNH là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của DN,

có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc

trong một năm. TSNH của DN có thể tồn tại dưới hình thái tiền hay hiện vật, dưới

dạng đầu tư ngắn hanh và các khoản nợ phải thu. TSNH bao gồm vốn bằng tiền, các

khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản



-



ngắn hạn khác.

Tài sản dài hạn : TSDH là tài sản thuộc quyền sở hữu của DN, có thời gian đầu tư,

sử dụng và thu hồi trên một năm. TSDH bao gồm : tài sản cố định, bất động sản đầu



-



tư…

Nợ phải trả : NPT là tổng các khoản nợ phát sinh mà DN phải trả phải thanh toán

cho các chủ nợ bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả người bán



-



cho nhà nước, các khoản phải trả cho công nhân viên và các khoản phải trả khác.

Nguồn vốn chủ sở hữu : là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ DN , của các



-



thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần.

Lợi nhuận : là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản

xuất kinh doanh của DN, nó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu được và các



1.2.

1.2.1.



khoản chi phí bỏ ra để đạt được thu nhập đó trong thời kì nhất định.

Một số lý thuyết về phân tích TCDN

Mục đích và ý nghĩa của phân tích TCDN

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



1.2.1.1.



10



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Mục đích

Phân tích TCDN nhằm nhận thức, đánh giá một cách đúng đắn, toàn diện,

khách quan tình hình và khả năng TCDN, thấy được sự tác động, ảnh hưởng của nó

đến việc thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và kết quả kinh doanh, tìm ra

những yếu kém, mâu thuẫn còn tồn tại trong công tác tổ chức và quản lý tài chính.

Phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý tài chính,

qua đó đề ra những phương hướng, biện pháp cải tiến, hoàn thiện nhằm nâng cao



1.2.1.2.



hiệu lực và hiểu quả công tác quản lý TCDN.

Ý nghĩa

Việc phân tích tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nguời

khác nhau như các nhà quản trị doanh nghiệp, các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư,

các nhà cung ứng cũng như các đối tác... Mỗi nhóm người này có những nhu cầu

thông tin khác nhau. Do vậy, họ có thể tập trung vào xem xét những khía cạnh khác

nhau của tình hình TCDN, cụ thể :

- Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp : cần thiết phải có thông tin trung

thực về tình hình tài chính doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh

doanh, trong việc lập kế hoạch sản xuất, dự kiến đầu tư dài hạn, chiến lược sản

phẩm và thị trường...

- Đối với các chủ ngân hàng và nhà cung cấp tín dụng : Mối quan tâm của họ

hướng chủ yếu vào khả năng sinh lợi và trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú ý

đến số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để so sánh với

số nợ ngắn hạn để biết khả năng thanh toán của DN và quyết định có cho doanh

nghiệp vay hay không.

- Đối với các nhà đầu tư : Mục đích của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận

thông qua việc đầu tư vào công ty. Qua thông tin phân tích tình hình tài chính, giúp

các nhà đầu tư nắm được các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lời,

khả năng thanh toán vốn... Vì vậy, họ rất cần thông tin về điều kiện tài chính, tình

hình hoạt động. kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp.

- Đối với các nhà cung ứng, các đối tác: Họ phải quyết định xem có quan hệ

kinh tế với DN hay không nên nắm thông tin về khả năng thanh toán của DN hiện

tại cũng như tương lai là cần thiết

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



11



Khoa Tài chính - Ngân hàng



- Cơ quan thuế: Cần các thông tin kế toán để xác định nghĩa vụ số thế mà DN

phải nộp.

Như vậy, phân tích tài chính nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà

quản lý DN, nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng và nhiều đối tượng khác để họ có thể

ra được quyết định theo các mục tiêu của họ.

1.2.2. Các phương pháp sử dụng trong phân tích TCDN

Phương pháp PTTC doanh nghiệp là các cách thức, kỹ thuật để đánh giá tình

hình tài chính của công ty ở quá khứ, hiện tại và dự đoán tài chính công ty trong

tương lai. Để đáp ứng mục tiêu của phân tích tài chính, thông thường người ta sử

1.2.2.1.



dụng các phương pháp sau đây :

Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh tế nói

chung và trong phân tích TCDN nói riêng được áp dụng từ khi thu thập dữ liệu đến

khi kết thúc phân tích.

- Tiêu thức so sánh :

+ Để đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu đặt ra: tiến hành so sánh tài liệu

thực tế đạt được với các tài liệu kế hoạch, dự toán hoặc định mức.

+ Để xác định xu hướng: tiến hành so sánh số liệu thực tế kỳ này với số liệu

thực tế kỳ trước hoặc hoàng loạt kỳ trước.

+ Để xác định vị thế công ty: tiến hành so sánh số liệu công ty với các doanh

nghiệp khác cùng loại hình kinh doanh hoặc giá trị trung bình của ngành kinh

doanh.

- Kỹ thuật so sánh

+ So sánh tuyệt đối : Để thấy được sự biến động về tuyệt đối của hiện tượng

kinh tế đang nghiên cứu.

+ So sánh tương đối: Thấy được tốc độ phát triển hoặc kết cấu, mức độ phổ



1.2.2.2.



biến của hiện tượng kinh tế.

Phương pháp phân chia

Phương pháp phân chia là việc chia các hiện tượng kinh tế thành các bộ phận

cấu thành trong mối quan hệ biện chứng hữu cơ với các bộ phận khác và các hiện

tượng khác. Tùy theo mục đích phân tích có thể chia theo các tiêu thức khác nhau

như :

+ Phân chia theo hiện tượng.

+ Phân chia theo không gian.

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



12



Khoa Tài chính - Ngân hàng



+ Phân chia theo cấu thành.

Phương pháp dự đoán



1.2.2.3.



Phương pháp dự đoán là kỹ thuật được sử dụng để ước tính các chỉ tiêu kinh tế

trong tương lai.

1.2.3.



-



Nguồn số liệu

Các nguồn số liệu cơ sở để phân tích hoạt động tài chính trong các doanh

nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính,bao gồm :

Bảng cân đối kế toán : Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình

trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là

một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ

sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp. Thông thường

bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế

toán: một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp.

Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện

có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền sử dụng và quản lý của doanh nghiệp: đó

là tài sản cố định, tài sản lưu động. Bên nguồn vốn phản ánh số vốn để hình thành

các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: đó là vốn của chủ (vốn

tự có) và các khoản nợ.

Nhìn vào bảng cân đối kế toán. nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình

doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế

toán là tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả

năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh

nghiệp.



-



Báo cáo kết quản hoạt động kinh doanh : Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo

kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất – kinh

doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp

trong tương lai. Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh

thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát

sinh với số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở doanh thu và

chi phí, có thể xác định được kết quả sản xuất – kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm.

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



13



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Như vậy, báo cáo két quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất – kinh

doanh, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.

Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm

năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất - kinh doanh của doanh

-



nghiệp.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ : Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được chi trả

hay không, cần tìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp. Ngân quỹ thường

được xác định cho thời gian ngắn hạn (thường là từng tháng).

Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ (thu ngân quỹ), bao gồm: dòng

tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ đầu tư tài chính,

dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động bất thường.

Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ (chi ngân quỹ), bao gồm: dòng

tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thực hiện đầu tư tài

chính, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thường.



-



Thuyết minh báo cáo tài chính : Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp

thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Được lập để giải thích, bổ sung

thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo

tài chính không thể trình bày rõ ràng và chi tiết được, cũng như các thông tin cần



thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán.

1.2.4. Nội dung phân tích

1.2.4.1.

Phân tích tổng quát tình hình TCDN

a. Phân tích biến động tài sản nguồn vốn

Phân tích sự biến động tài sản và nguồn vốn ngoài việc so sánh cuối kỳ với

đầu kỳ về số tuyệt đối và tương đối ta còn phải so sánh đánh giá từng loại tài sản và

nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng.

b. Phân tích biến động doanh thu chi phí lợi nhuận

Phân tích các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận chính là việc phân tích mối

liên hệ và đặc điểm các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đồng

thời so sánh chúng với những năm trước để đánh giá tình hình tài chính, điểm mạnh

1.2.4.2.



điểm yếu của doanh nghiệp.

Phân tích các hệ số tài chính

a. Phân tích chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn và tình hình tài sản

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



14



Khoa Tài chính - Ngân hàng



 Hệ số nợ



Nợ phải trả

Tổng nguồn vốn

Hệ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với

Hệ số nợ =



các chủ nợ trong việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích tỷ số nợ trên tổng tài

sản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì các khoản nợ càng được đảm bảo trong

trường hợp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích tỷ số

này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh

nghiệp. Nhưng nếu tỷ số nợ quá cao, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả

năng thanh toán.

 Hệ số vốn chủ sở hữu (Tự tài trợ)



Hệ số tự tài trợ =



Tổng vốn chủ sở hữu



Tổng nguồn vốn

Hệ số này cho biết trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ

sở hữu chiếm mấy phần. Trị số của chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ khả năng tự đảm bảo

về mặt tài chính càng cao, mức độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng

và ngược lại.

 Tỷ trọng tài sản



Tỷ trọng TSDH =



TSCĐ và ĐTDH

Tổng tài sản



TSLĐ và ĐTNH

Tổng tài sản

Cơ cấu tài sản phản ánh bình quân 1 đồng tài sản thì dành bao nhiêu đồng đầu

Tỷ trọng TSNH =



tư hình thành TSCĐ và chỉ dành bao nhiêu đồng đầu tư hình thành TSLĐ. Cơ cấu

này tùy thuộc vào từng loại hình kinh doanh của từng công ty, nếu là công ty sản

xuất thì chủ yếu đầu tư vào TSCĐ, công ty thương mại thì đầu tư vào TSLĐ.

b. Phân tích chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

 Hệ số thanh toán chung

Hệ số thanh toán chung =

Khóa luận tốt nghiệp



Tổng tài sản

Tổng nợ phải trả

SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



15



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Chỉ tiêu này cho biết với tổng tài sản hiện có, doanh nghiệp có đảm bảo trang

trải các khoản nợ phải trả hay không. Trị số này càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng

mất dần khả năng thanh toán.

 Hệ số thanh toán ngắn hạn



Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết mức độ đảm bảo của TSNH với nợ ngắn hạn. Nếu chỉ số

Hệ số thanh toán ngắn hạn =



này xấp xỉ bằng 1, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn

và tình hình tài chính là khả quan. Trị só này càng nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh

toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp.

 Hệ số thanh toán nhanh

Khả năng thanh nhanh =



TSNH – Hàng tồn kho



Nợ ngắn hạn

Là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa các khoản có thể huy động nhanh để

thanh toán các khoản nợ đến hạn ( ≤ 3 tháng). Nếu hệ số thanh toán nhanh ≥ 1 thì

doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn.

Nếu hệ số nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc thanh toán,

chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính rất yếu kém.

 Hệ số thanh toán lãi vay

Lợi nhuận trước lãi vay và

Hệ số thanh toán lãi vay = thuế

Số tiền lãi vay trả trong kì

c. Phân tích chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động

 Vòng quay hàng tồn kho



Vòng quay hàng tồn kho =



Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình quân



Cho biết tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp, số vòng quay hàng tồn

kho giảm thì thời gian của một vòng tồn kho sẽ tăng, chứng tỏ hàng tồn kho luân



Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



16



Khoa Tài chính - Ngân hàng



chuyển chậm, vốn ứ đọng nhiều hơn kéo theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng

và ngược lại.

Kỳ nhập hàng bình quân =



Số ngày trong kỳ

Số vòng quay hàng tồn kho



 Vòng quay các khoản phải thu



Doanh thu bán chịu

Các khoản phải thu



Vòng quay các khoản phải thu =



bình quân

Số ngày trong kỳ

Vòng quay khoản phải thu

Thông qua sự biến động của hệ số quay vòng các khoản phải thu hay kỳ thu

Kỳ thu tiền bình quân =



tiền trung bình, nhà phân tích có thể đánh giá tốc độ thu hồi các khoản nợ của doanh

nghiệp.

 Vòng quay tài sản

Vòng quay tổng tài sản =



Doanh thu

Tổng tài sản



Doanh thu thuần

TSNH bình quân

Các chỉ tiêu này cho thấy một đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh trong

Vòng quay tài sản ngắn hạn =



một kì tạp ra bao nhiêu đồng thu nhập.

d. Phân tích chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ( ROS)



Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần

Tỷ suất cho biết lợi nhuận sau thuế bằng bao nhiêu phần trăm doanh thu hay

Tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu =



cứ mỗi 1 đồng doanh thu tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận

 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA)

Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản bình quân

ROA cho biết bình quân mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu

Tỷ suất lợi nhuận/ tài sản =



đồng lợi nhuận.

 Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



17



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Lợi nhuận sau thuế

Tổng VCSH bình quân

ROE cho biết bình quân mỗi đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tạo ra

Tỷ suất lợi nhuận ròng/ VCSH =



1.3.



bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Các nhân tố ảnh hưởng tới vấn đề nghiên cứu

Đối với bất kì một doanh nghiệp nào khi bắt tay tiến hành vào công tác phân

tích tài chính doanh nghiệp đều chịu tác động cũng như ảnh hưởng của rất nhiều

yếu tố môi trường. Đó là các nhân tố của môi trường vĩ mô (Nhà Nước, ngành, lĩnh

vực kinh doanh...) tác động tới tình hình kinh doanh qua một số chỉ tiêu biểu hiện

về doanh thu, lợi nhuận hàng tháng, hàng quý. Đồng thời, tìm hiểu những nhân tố

thuộc môi trường vi mô (hay nói cách khác là những yếu tố trong nôi bộ DN), bởi

chúng có tác động trực tiếp đến công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp.



1.3.1.



Các nhân tố bên ngoài

- Tình trạng của nên kinh tế: một nền kinh tế đang trong quá trình tăng trưởng

thì có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư và phát triển, từ đó đòi hỏi doanh

nghiệp phải tích cực áp dụng các biện pháp huy động vốn để đáp ứng yêu cầu đầu

tư. sử dụng các công cụ tài chính một cách hiệu quả. Ngược lại, nền kinh tế đang

trong tình trạng suy thoái thì doanh nghiệp khó có thể tìm được cơ hội để đầu tư.

- Lãi suất thị trường: lãi suất thị trường là một yếu tố tác động rất lớn đến

hoạt động tài chính của doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa

như Cty Đại Dương. Lãi suất ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư, đến chi phí sửa dụng

vốn và cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp. Khi lãi suất tăng cao sẽ kích thích

như cầu tiết kiệm của người dân và điều này làm hạn chế việc tiêu thụ sản phẩm của

doanh nghiệp.

- Lạm phát: khi nền kinh tế lạm phát ở mức độ cao thì việc tiêu thụ sản phẩm

của doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khiến cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp

cũng gặp căng thẳng. Với công ty Đại Dương, khi gặp tình trạng này nếu không biết

áp dụng các biện pháp tích cực thì có thể bị thất thoát vốn kinh doanh. Lạm phát



Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



18



Khoa Tài chính - Ngân hàng



cũng làm cho chu cầu vốn kinh doanh tăng lên và tình hình tài chính doanh nghiệp

cũng không ổn định.

- Mức độ cạnh tranh: nếu doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề,

lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều vào đổi

mới thiết bị, công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.... Điều này đặt ra khó

khăn với công ty Đại dương khi mà trong một ngành nghề có nhiều đối thủ cạnh

tranh.

- Các nhân tố về chính sách kinh tế tài chính của nhà nước đối với doanh

nghiệp.

1.3.2.



Các nhân tố bên trong

- Công tác tổ chức quản lý hoạt động, tổ chức phân tích tài chính trong

doanh nghiệp: tổ chức phân tích tài chính là việc thiết lập trình tự các bước công

việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính. Để phân tích tài chính trong

doanh nghiệp thực sự phát huy tác dụng trong quá trình ra quyết định. phân tích tài

chính phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh doanh, cơ chế

hoạt động, cơ chế quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp, phù hợp với mục tiêu

quan tâm của từng đối tượng. Mỗi đối tượng quan tâm với những mục đích khác

nhau, nên việc phân tích đối với mỗi đối tượng cũng có những nét riêng. Ngoài ra

có thể nói rằng trong các doanh nghiệp hiện nay công việc phân tích chưa được chú

trọng vì ban lãnh đạo công ty chưa thấy hết được tác dụng của việc phân tích tài

chính dẫn đến tác nghiệp thực hiện phân tích tài chính chỉ diễn ra sơ sài và như vậy

kết quả sẽ không chính xác và hiệu quả mang lại sẽ không như mong đợi.

- Trình độ của cán bộ tham gia phân tích tài chính: Hiệu quả của công tác

phân tích tài chính phụ thuộc rất lớn vào khả năng của cán bộ phân tích bắt đầu từ

công việc lựa chọn nguồn thông tin ra sao rồi bắt tay vào thu tập thông tin, phương

thức sử dụng các công cụ để thu thập thông tin. Dựa vào sự hiểu biết, kinh nghiệm,

trình độ năng lực thực sự và phẩm chất đạo đức của cán bộ phân tích sẽ cho thấy

được đúng đắn tình hình tài chính của doanh nghiệp. Với công ty Đại Dương, khi

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



19



Khoa Tài chính - Ngân hàng



mà trình độ về năng lực và kinh nghiệm trên phần tài chính chưa sâu sắc, đó sẽ là

một khó khăn rất lớn để có thể đánh giá được đúng đắn tình hình thực trạng của

doanh nghiệp.

- Nguồn thông tin và chất lượng thông tin thu tập được dùng trong phân tích:

Thông tin cũng được coi là một nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng cho

các cuộc phân tích tài chính. Thông tin sử dụng chính xác hay không thì sẽ ảnh

hưởng rất lớn đến kết quả phân tích. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định

chất lượng phân tích tài chính vì nếu thông tin sử dụng không chính xác thì có thể

sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi kế hoạch tài chính. Do vậy, thông tin sử dụng trong

phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chinh và thông tin đó đòi hỏi phải

chính xác rõ ràng và đầy đủ .

- Việc lựa chọn phương pháp phân tích: Trong điều kiện hiện nay phương

pháp phân tích ngày càng được hoàn thiện, có nhiều phương pháp mới rất hiệu quả

như phương pháp Dupont, phương pháp toán kinh tế lượng… Tuy nhiên thực tế ở

nước ta hiện nay vẫn chỉ dùng phương pháp đánh giá năng lực tài chính qua 4 hệ

thông chỉ số đó kết quả thu được còn hạn chế, chưa phản ánh rõ nét tình hình tài

chính dẫn đến chất lượng phân tích tài chính còn chưa cao.



Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (51 trang)

×