1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Biểu đồ 2: Cơ cấu tài sản trong 3 năm 2010- 2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (385.83 KB, 51 trang )


Trường Đại học Thương mại



34



Khoa Tài chính - Ngân hàng



chiếm tỷ trọng nhỏ trong công ty. Năm 2010 là 13,40%; năm 2008 là 24.41% và

năm 2009 là 12,49%.

2.3.3.2.



Phân tích khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa

các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ

đồng thời thể hiện rõ nét chất lượng công tác tài chính. Tại một thời điểm nếu doanh

nghiệp không đủ khả năng thanh toán đó sẽ là dấu hiệu đầu tiên của khó khăn tài

chính, còn nếu nghiêm trọng hơn có thể đưa doanh nghiệp đến phá sản. Vì vậy, khả

năng thanh toán là một chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính doanh nghiêp,

nó sẽ phản ánh rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Khi phân tích nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán, sử dụng các chỉ tiêu sau: hệ

số khả năng thanh toán chung, hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn, hệ số khả năng

thanh toán nhanh, hệ số khả năng thanh toán bằng tiền, hệ số khả năng thanh toán

lãi vay.

Bảng 5. Phân tích hệ số khả năng thanh toán của doanh nghiệp

So



sánh So



sánh



Chỉ tiêu



Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011-2010 2012-2011



Hệ số khả năng thanh toán chung



1,421



1,242



1,373



-0,178



0,131



Hệ số khả năng thanh toán NH



1,230



0,938



1,202



-0,293



0,264



Hệ số khả năng thanh toán nhanh



1,063



0,809



0,969



-0,254



0,160



Hệ số thanh toán lãi vay



27,142



11,299



15,670

-15,843

4,371

(Nguồn : SV tự tổng hợp)



Hệ số khả năng thanh toán chung của Cty qua các năm 2007 2008 và 2009

không có sự thay đổi lớn, và đều lớn hơn 1 điều đó cho thấy sự đảm bảo trong khả

năng thanh toán. Nhìn vào bảng ta thấy năm 2010 cứ 1 đồng vay nợ được đảm bảo

thanh toán bởi 1,421 đồng tài sản; năm 2011 là 1,242 đồng tài sản; năm 2012 là

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



35



Khoa Tài chính - Ngân hàng



1,373 đồng tài sản. Trong khi đó hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn năm 2011 có

giảm 0,293 từ 1,230 năm 2010 xuống còn 0,938. Nguyên nhân là sự gia tăng cao

của nợ ngắn hạn năm 2011, phản ánh một phần tình hình khó khăn của nền kinh tế

năm 2011. Tuy nhiên đến năm 2012, hệ số đã đảm bảo ở mức an toàn 1,202. Điều

đó cho thấy sự thay đổi tích cực của công ty khi gia tăng TSNH để đảm bảo khả

năng thanh toán cho nợ ngắn hạn.

Hệ số thanh toán nhanh của công ty là khá thấp và có xu hướng cải thiện. Có

thể nhìn vào hệ số khả năng thanh toán nhanh qua 3 năm lần lượt là 1,063 năm

2010; 0,809 năm 2011; 0,969 năm 2012. Tuy rằng năm 2011 giảm 0,254 và năm

2012 tăng thêm 0,160 nhưng vẫn chưa đảm bảo được khả năng thanh toán nhanh.

Hệ số này so với hệ số thanh toán chung và hệ số thanh toán ngắn hạn là nhỏ hơn vì

hàng tồn kho dự trữ gia tăng qua các năm cùng với đó là sự gia tăng của nợ ngắn

hạn. Đây là dấu hiệu xấu cho khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp, tuy nhiên

cũng là xu hướng chung cho các doanh nghiệp trong năm 2011 và 2012 khi mà nền

kinh tế bị trì trệ.

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay qua các năm là rất cao, năm 2010 là

27,142; năm 2011 là 11,299 và năm 2012 là 15,670. Nhìn vào có thể thấy công ty

có thể đảm bảo tốt khả năng thanh toán các khoản vay nhưng so với ngành thì còn

quá cao, do vậy công ty cần có chú ý sử dụng gia tăng các khoản vay để tận dụng

lợi thế của khoản vay. Nhìn chung, khả năng thanh toán của Cty Đại Dương qua các

năm là khá ổn định, khá tốt. Có sự điều tiết kịp thời chủ động của nhà quản trị thể

hiện qua sự cải thiện các hệ số trong năm 2012. Tuy nhiên xét về hệ số thanh toán

nhanh, công ty cần có các biện pháp để nâng cao hệ số, đảm bảo khả năng trả nợ và

duy trì hoạt động bình thường.

2.3.3.3.



Phân tích khả năng hoạt động

Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài nguyên, nguồn lực của

doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp. Nguồn vốn

của doanh nghiệp được dùng để tài trợ cho các loại tài sản khác nhau như tài sản lưu

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



36



Trường Đại học Thương mại



Khoa Tài chính - Ngân hàng



động, tài sản cố định. Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm đến việc đo

lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng

bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu này phản ánh toàn bộ

tài sản, vốn liếng của doanh nghiệp đã được huy động và sử dụng để đem lại hiệu

quả như thế nào bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới

các loại tài sản khác nhau.

Số ngày trong kỳ tính trong một năm = 360 ngày.

Bảng 6. Phân tích hệ số khả năng họat động của doanh nghiệp.

So



sánh So



sánh



Chỉ tiêu



Năm 2010 Năm 2011



Năm 2012 2011-2010 2012-2011



Vòng quay tổng tài sản



1,211



1,192



1,433



-0,020



0,241



Vòng quay TSNH



1,399



1,845



1,977



0,446



0,132



Vòng quay các khoản phải thu 1,628



1,887



2,020



0,259



0,133



Vòng quay hàng tồn kho



6,889



5,894



5,112



-0,995



-0,782



Kỳ thu tiền bình quân



221



191



178



-30



-13



Kỳ nhập hàng bình quân



52



61



70



9

9

(Nguồn : SV tự tổng hợp)



Vòng quay tổng tài sản qua các năm không có sự thay đổi nhiều, tuy còn khá

nhỏ nhưng có xu hướng cải thiện. Cụ thể là năm 2010 vòng quay tổng tài sản là

1,211; năm 2011 là 1,192 vòng/năm và năm 2012 là 1,433 vòng, tăng 0,241 vòng

so với năm 2011. Hệ số này cho biết năm 2012 cứ 1 đồng tài sản tạo ra 1,433 đồng

doanh thu, con số này có tăng so với năm 2011 và 2012 nhưng vẫn còn thấp, doanh

nghiệp cần có các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Qua bảng ta thấy

Vòng quay TSNH có xu hướng tăng qua các năm. Năm 2012 là 1,977 vòng tăng

0,132 vòng so với 1,845 vòng của năm 2011; năm 2010 là 1,399 vòng. Nghĩa là

năm 2012 cứ 1 đồng TSNH tạo ra 1,977 đồng doanh thu thuần, trong khi đó năm

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



37



Khoa Tài chính - Ngân hàng



2011 là 1,845 đồng và năm 2010 là 1,399 đồng. Điều đó cho thấy việc thu hồi vốn

lưu động của công ty được cải thiện tương đối tốt, hiệu quả sử dụng vốn lưu động

của công ty có tín hiệu khả quan.

Vòng quay các khoản phải thu qua các năm tăng lên khá rõ rệt, năm 2010 là

1,628 vòng; năm 2011 là 1,887 vòng và năm 2012 là 2,020 vòng. Do có sự tăng lên

này nên kỳ thu tiền bình quân cũng có sự thay đổi. Kỳ thu tiền bình quân được sử

dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu

và doanh thu bình quân một ngày. Kỳ thu tiền bình quân tăng cao năm 2010 là 221

ngày, năm 2011 là 191 ngày, năm 2012 là 178 ngày. Tuy rằng có sự giảm về số

ngày thu tiền nhưng so với ngành thì còn rất cao. Lí giải nguyên nhân là do đặc thù

ngành kinh doanh của công ty Đại Dương là ngành nông nghiệp, khách hàng là các

công ty, sở nông nghiệp nhà nướ gắn với các dự án. Điều đó vòng quay các khoản

phải thu phụ thuộc lớn vào tiến độ của dự án cũng như tiến trình giải ngân của dự

án. Do đó có thể thấy công ty đã ổn định về vốn và đang áp dụng chính sách cho

vay nợ để thu hút khách hàng, chính sách này đã phát huy tác dụng. Cụ thể là doanh

thu thuần của công ty không ngừng tăng qua 3 năm là 9.013.896.232 đồng năm

2010; 14.390.731.280 đồng năm 2011và 23.536.979.534 đồng năm 2012. Tuy

nhiên để rút ngắn kỳ thu tiền bình quân công ty cần xem xét lại công tác phân tích

và cần có một chính sách bán hàng đúng đắn, nhất là điều khoản bán chịu với khách

hàng.

Vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm qua các năm, năm 2010 là 6,889;

năm 2011 là 5,894; năm 2012 là 5,112. Theo đó kỳ nhập hàng bình quân sẽ tăng lên

qua các năm cụ thể là năm 2007 là 52 ngày; năm 2008 là 61 ngày và năm 2009 là

70 ngày. Số vòng quay cũng như kỳ nhập hàng bình quân như vậy là hợp lý so với

ngành, theo đó tốc độ chu chuyển hàng của doanh nghiệp là khá cao. Tóm lại là

đánh giá chung vòng quay hàng tồn kho của công ty là tốt và khá ổn định. Điều đó

cho thấy công tác quản trị cũng như mô hình quản trị hàng tồn kho của công ty là

khá tốt, cho thấy triển vọng phát triển của công ty.

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



2.3.3.4.



38



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Phân tích khả năng sinh lời

Bất kể một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều hướng tới

hiệu quả kinh tế. Họ đều có một mục tiêu chung là tối đa hoá giá trị tài sản sở hữu,

vốn đầu tư có khả năng sinh lời nhiều nhất. Do đó, lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính để

đánh giá tổng hợp kết quả đồng thời cũng là mục đích cuối cùng của sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận càng cao, doanh nghiệp càng tự khẳng định vị

trí và sự tồn tại của mình trong nền kinh tế thị trường. Nhưng để đánh giá một cách

đúng đắn chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chúng ta

không chỉ dựa trên tổng số lợi nhuận mà doanh nghiệp làm ra bằng số tuyệt đối. Bởi

vì phần lợi nhuận này có thể không tương xứng với lượng chi phí đã bỏ ra, với khối

lượng tài sản mà doanh nghiệp đã sử dụng mà phải dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận bằng

số tương đối thông qua các chỉ tiêu về khả năng sinh lời.

Bảng 7. Phân tích hệ số khả năng sinh lời

So sánh So sánh

Năm



Năm



Năm



2011-



2012-



Chỉ tiêu

2010

Tỷ suất lợi nhuận trên



2011



2012



2010



2011



doanh thu ( ROS)

4,5%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài



4,4%



3,8%



-0,1%



-0,6%



sản (ROA)

5,4%

Tỷ suất lợi nhuận ròng



6,4%



6,2%



1,0%



-0,3%



18,1%



15,5%



trên vốn chủ sở hữu

(ROE)



18,3%



-0,2%

-2,6%

(Nguồn: SV tự tổng hợp)



ROS phản ánh mỗi đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Năm

2010, cứ 100 đồng doanh thu thì tạo ra 4,5 đồng lợi nhuận, năm 2011 cứ 100 đồng

doanh thu thì có 4,4 đồng lợi nhuận, giảm không đáng kể so với năm 2010, nhưng

sang năm 2012 thì cứ 100 đồng doanh thu chỉ có 3,8 đồng lợi nhuận giảm 0,6 đồng

so với năm 2011. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của doanh thu cao trong khi tốc độ

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



39



Khoa Tài chính - Ngân hàng



tăng lợi nhuận có phần thấp hơn, đó là tín hiện xấu cho thấy hoạt động kém hiệu

quả nên công ty cần có kế hoạch sản xuất kinh doanh và tiêu thụ phù hợp để cải

thiện tình hình thu nhập của doanh nghiệp.

Ngoài việc so sánh lợi nhuận với doanh thu để thấy khả năng sinh lợi của

doanh nghiệp, ta còn so sánh với bình quân tổng tài sản để xem xét khi bỏ đầu tư

bình quân một đồng tài sản thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Từ bảng tính

chỉ tiêu, ROA của công ty khá là tương đối và ổn định. Năm 2010 là 5,4%,trong các

năm 2011 va 2012, ROA khá là ổn định với 6,4% và 6,2%; có nghĩa là cứ bình quân

bỏ 100 đồng vốn đầu tư vào tài sản thì sinh ra 6,4 đồng và 6,2 đồng lợi nhuận sau

thuế.

ROE phản ánh bình quân 1 đồng VCSH đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Theo bảng tính toán cho thấy, doanh lợi vốn chủ sở hữu ổn định ở mức cao trong

năm 2010 và 2011 là 18,3% và 18,1%, có nghĩa một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thu

được nhiều lợi nhuận và ổn định. Tuy năm 2012 ROE có giảm xuống còn 15,5%

nhưng lý do là sự gia tăng vốn điều lệ lên gấp đôi từ 2.000.000.000 đồng lên

4.000.000.000 đồng. Cho nên đây không phải tín hiệu xấu của hoạt động kinh

doanh mà thậm chí còn cho thấy công ty đang kinh doanh đầu tư đúng hướng và có

hiệu quả.



Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



40



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Chương 3: Các phát hiện và một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính

của công ty

3.1. Các phát hiện qua nghiên cứu



Căn cứ vào các kết quả phân tích tổng hợp ở chương 2, đi sâu vào tìm hiểu

nhận thấy công tác quản lý cũng như công tác phân tích tài chính đã tương đối hợp

lý song bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa được phù hợp. Với mong muốn

hoàn thiện quy trình phân tích tài chính cũng như từ đó đưa ra một số giải pháp

nâng cao tình hình tài chính của công ty, có một số nhận xét và phát hiện như sau:

3.1.1. Ưu điểm



Nhận thức vai trò và tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính đối

với sự phát triển của công ty, mặc dù công tác phân tích chỉ được thực hiện trong

những năm gần đây nhưng công ty Đại Dương đã thực hiện khá tốt việc phân tích

tính hình tài chính chủ yếu trên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông qua

phân tích công ty đã xác định được những nguyên nhân và các yếu tố chủ quan cũng

như khách quan ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất

kinh doanh của công ty từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục để thực hiện tốt mục

tiêu, nhiệm vụ đề ra trong những năm tiếp theo.

Công tác phân tích tài chính đã được thực hiên trên nhiều mặt về cơ cấu tài

chính, về khả năng thanh toán cũng như đánh giá các hệ số sinh lời của công ty qua

các năm. Qua đó chỉ ra nguy cơ trong bộ máy quản lý tài chính hay những rủi ro có

thể gặp phải khi thực hiện đầu tư tài chính, khi lập kế hoạch tài chính.

Trên góc độ tài chính, Cty đã tự chủ được về tài chính, chủ động trong công

tác quản trị mang lại tình hình tài chính nhìn chung vững mạnh và an toàn.

- Khả năng thanh toán của Cty Đại Dương qua các năm là khá ổn định, khá

tốt. Có sự điều tiết kịp thời chủ động của nhà quản trị thể hiện qua sự cải thiện các

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Trường Đại học Thương mại



41



Khoa Tài chính - Ngân hàng



hệ số trong năm 2012. Khả năng thanh toán chung và khả năng thanh toán lãi vay

đảm bảo an toàn và mang lại uy tín cho công ty đối với các đối tượng bên ngoài.

- Công tác quản trị hàng tồn kho cũng như mô hình quản trị hàng tồn kho của

công ty là khá tốt, cho thấy triển vọng phát triển của công ty. Đánh giá chung vòng

quay hàng tồn kho của công ty là tốt và khá ổn định, theo đó kì nhập hàng bình

quân cũng như tốc độ chu chuyển hàng hóa là khá cao.

- Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu ở mức cao và khá ổn định. ROE

cho thấy công ty đang kinh doanh đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Đó là tín hiệu

lạc quan cho nhà quản trị cũng như các đối tượng ngoài công ty trong thời kỳ tình

hình nền kinh tế gặp khó khăn.

3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân

Tuy rằng việc tổ PTTC được đánh giá là khá tốt xong trong quá trình thực hiện

còn có nhiều hạn chế.

- Công ty chưa có hẳn một đội ngũ tham gia phân tích, việc phân rõ nội dung

và công viêc phân tích chỉ là do phòng kế toán tài chính của công ty và cụ thể là do

kế toán trưởng đảm nhận nên cán bộ tham gia chưa có nhiều kinh nghiệm và kỹ

năng phân tích.

- Thông tin sử dụng trong phân tích còn sơ sài và chưa đầy đủ kịp thời. Thông

tin sử dụng chủ yếu của công ty vào phân tích là dựa vào bảng cân đối kế toán và

báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Mặt khác lại không có các thông tin về chỉ

tiêu tài chính trong ngành khi đó sẽ khó khăn trong việc đối chiếu thông tin tài

chính của công ty để đánh giá và nhận xét tình hình tài chính hiện tại và tương lai.

- Nội dung phân tích và phương pháp phân tích của công ty còn sơ sài. Công

ty mới chỉ đi sâu vào phương pháp phân tích hệ số tài chính với 3 hệ chỉ tiêu về hệ

số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản, hệ số khả năng thanh toán và hệ số khả năng

sinh lời. Hệ số khả năng hoạt động công ty không tiến hành đi sâu phân tích. Điều

này sẽ không thấy được rõ được toàn bộ tình hình tài chính của Cty.

Về tình hình tài chính doanh nghiệp, công ty còn có các mặt hạn chế như sau:

Khóa luận tốt nghiệp



SVTH: Trương Văn Phiên



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (51 trang)

×