1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Phần 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG GỬI TIỀN TIẾT KIỆM TẠI AGRIBANK ĐÔNG HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (633.75 KB, 53 trang )


2.1.2. Một số lý thuyết của vấn đề nghiên cứu

2.1.2.1. Phân tích hệ thống

PTHT là sự nghiên cứu, điều tra, xem xét hệ thống (hiện thực hoặc dự kiến) một

cách tỉ mỉ, toàn diện, có hệ thống, để xác định những yêu cầu về thông tin và các quá

trình của hệ thống này, cùng với các mối quan hệ giữa các quá trình đó, cũng như quan hệ

với các hệ thống khác. PTHT là việc dùng một tập hợp các công cụ và kỹ thuật giúp cho

các nhà phân tích hiểu rõ hơn và tìm ra các giải pháp cho các vấn đề kinh doanh.

Thu thập thông tin là công đoạn đầu tiên của quá trình phân tích HTTT. Mục tiêu

của công việc này là thu được những thông tin liên quan đến mục tiêu đã đặt ra với độ

chính xác cao nhất. Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng và được áp

dụng cho phù hợp tình hình thực tế. Nhưng cho dù phương pháp nào thì cũng cần lưu ý:

biết càng nhiều thông tin về môi trường hoạt động làm việc của một tổ chức thì càng dễ

hiểu được các vấn đề đang được đặt ra và có khả năng đặt ra các câu hỏi thiết thực với các

vấn đề được xem xét. Các thông tin này gồm: Các thông tin chung về ngành của tổ chức;

Các thông tin về bản thân tổ chức; Các thông tin về các bộ phận liên quan.

Các phương pháp thu thập thông tin:



- Phương pháp nghiên cứu tài liệu về hệ thống

- Phương pháp quan sát hệ thống

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp sử dụng phiếu điều tra

2.1.2.2. Các cách tiếp cận phân tích hệ thống



 Phương pháp hướng đối tượng

Với phương pháp hướng đối tượng, một hệ thống được chia tương ứng thành các thành

phần nhỏ gọi là các đối tượng, mỗi đối tượng bao gồm đầy đủ cả dữ liệu và hành động

liên quan đến đối tượng đó. Các đối tượng trong một hệ thống tương đối độc lập với nhau

thông qua các mối quan hệ và tương tác giữa chúng.



10



Hình 2.1. Quy trình phương pháp phân tích thiết kế hướng đối tượng

- Ưu điểm của phương pháp tiếp cận theo hướng đối tượng

+ Dễ bảo trì, hỗ trợ sử dụng lại mã nguồn. Chương trình lập trình theo hướng đối tượng

thường được chia thành các gói là các nhóm của các lớp đối tượng khác nhau. Các gói

này hoạt động tương đối độc lập và hoàn toàn có thể sử dụng lại trong các HTTT tương

tự;

+ Phù hợp với các hệ thống lớn.

- Nhược điểm của phương pháp tiếp cận theo hướng đối tượng

+ Chưa có một chuẩn thiết kế hệ thống

+ Cơ sở dữ liệu hướng đối tượng chưa phổ dụng



11



 Phương pháp hướng chức năng:

Phương pháp này tiến hành phân rã bài toán thành các bài toán nhỏ hơn, rồi tiếp tục phân

rã các bài toán con cho đến khi nhận được các bài toán có thể cài đăt được ngay sử dụng

các hàm của ngôn ngữ lập trình hướng chức năng. Đặc trưng của phương pháp hướng

chức năng là phân chia chương trình chính thành nhiều chương trình con, mỗi chương

trình con nhằm đến thực hiện một công việc xác định.



Hình 2.2. Quy trình phương pháp phân tích thiết kế hướng chức năng

- Ưu điểm của phương pháp tiếp cận theo hướng chức năng

+ Tư duy phân tích thiết kế rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hành



12



+ Có bề dày ứng dụng trên nhiều dự án

- Nhược điểm của phương pháp tiếp cận theo hướng chức năng

+ Không hỗ trợ việc sử dụng lại.

+ Không phù hợp cho phát triển các phần mềm lớn.



  Phân tích hệ thống về chức năng:

Trong giai đoạn phải tiến hành mô hình hoá hệ thống thông tin để thấy được những

chức năng, ưu điểm của hệ thống thông tin mới so với hệ thống thông tin cũ.

Các công cụ dùng để mô hình hoá hệ thống thông tin: Sơ đồ phân cấp chức năng, sơ đồ luồng

dữ liệu.

- Sơ đồ phân cấp chức năng (Business Function Diagram: BFD) BFD là sơ đồ mô tả

HTTT. Sơ đồ này chỉ ra cho ta thấy HTTT cần phải làm những chức năng gì. BFD không

chỉ ra HTTT phải làm như thế nào, cũng không chỉ ra những công cụ nào được sử dụng

để thực hiện những chức năng này và cũng không phân biệt chức năng hành chính với

chức năng quản lý. BFD còn được gọi là sơ đồ chức năng kinh doanh.

+ Các quy tắc lập sơ đồ chức năng:

 Quy tắc tuần tự: ghi chức năng của từng cấp theo thứ tự xuất hiện của chúng;

 Tên chức năng nên ngắn gọn, dể hiểu, ko trùng lặp để tạo thuận tiện cho người sử dụng;

 Mỗi sơ đồ chức năng nên có phần giải thích ngắn gọn về ý nghĩa của chức

năng này.

+ Phân rã của BFD: Hệ thống TT bao gồm nhiều thành phần, để hiểu rõ HTTT người

ta phải phân rã BFD của HTTT. Bản chất của công việc này là một chức năng sẽ được

phân chia, phân nhỏ theo chức năng chi tiết hơn theo cấu trúc hình cây. Lợi ích của phân

rã BFD:

 Cho phép phân tích đi từ tổng quát đến cụ thể, từ tổng hợp đến chi tiết.

 Có thể chia cho từng nhóm công tác, từng phần công việc ở 1 cấp nào đó mà không sợ

chồng chéo, nhầm lẫn, trùng lặp.



13



- Sơ đồ luồng dữ liệu (Data Flow Diagram: DFD)

+ Khái niệm: DFD là 1 công cụ dùng để biểu diễn HTTT, nó là sơ đồ mô tả HTTT một

cách trừu tượng. Sơ đồ này cho thấy quá trình vận động của dữ liệu trong HTTT. Trong sơ

đồ này chỉ có các dòng dữ liệu, các công việc xử lý dữ liệu, các kho dữ liệu, các nguồn và

đích của dữ liệu. DFD chỉ ra cách dữ liệu chuyển từ chức năng này sang chức năng khác.

Điều quan trọng nhất là DFD chỉ ra những dữ liệu cần phải có trước khi thực hiện một

chức năng nhất định và dữ liệu có được sau khi thực hiện chức năng này cần phải thế nào.

DFD không phải là 1 công cụ hoàn hảo để phân tích HTTT, nó chỉ đơn thuần mô tả HTTT

làm gì và để làm gì, nhưng không chỉ ra thời gian, địa điểm và đối tượng chịu trách nhiệm

làm các công việc đó.

+ Công dụng của DFD:

 Trong phân tích, DFD dùng để xác định yêu cầu của người sử dụng.

 Trong thiết kế, DFD dùng để vạch kế hoạch và minh hoạ các phương án Thiết kế HT.

 Trong trình bày hệ thống, DFD là công cụ để biểu diễn HTTT.

 Trong tài liệu về HTTT, DFD được dùng để viết tài liệu hướng dẫn, cài đặt và sử dụng

HTTT.

+ Cách phân tích chức năng về xử lý: là phải xác định được:

 Các chức năng xử lý của hệ thống: các tác dụng làm biến đổi thông tin

 Các tác nhân ngoài: Tác nhân bên ngoài là một người, một nhóm hoặc một tổ chức ở

bên ngoài lĩnh vực nghiên cứu của hệ thống, nhưng có một số hình thức tiếp xúc với hệ

thống. Chúng là nguồn gốc cung cấp thông tin cho hệ thống của chúng ta và là nơi nhận

các sản phẩm của hệ thống.

 Các tác nhân trong của hệ thống: Tác nhân bên trong là một chức năng hoặc một quá

trình bên trong hệ thống, được mô tả ở trang khác của sơ đồ;

 Luồng TT vào – ra hệ thống: Dòng dữ liệu là việc chuyển thông tin vào hoặc ra khỏi

một Chức năng xử lý của hệ thống;



14



 Các Kho chứa DL: Các kho dữ liệu trong một DFD biểu diễn cho thông tin cần phải giữ

trong một khoảng thời gian để một hoặc nhiều chức năng xử lý truy cập vào.



  Phân tích hệ thống về dữ liệu

Phân tích dữ liệu là một phương pháp xác định các đơn vị thông tin cơ sở có ích cho

hệ thống và định rõ mối quan hệ bên trong hoặc các tham khóa giữa chúng. Điều này có

nghĩa là mọi phần dữ liệu sẽ chỉ được lưu trữ một lần trong toàn bộ hệ thống của tổ chức và

có thể thâm nhập được từ bất kỳ chương trình nào; phải có chỗ cho mọi thứ đều ở đúng chỗ

của nó. Công cụ sử dụng cho việc này chính là mô hình thực thể.

Mô hình thực thể liên kết còn gọi là mô hình dữ liệu logic hoặc sơ đồ tiêu chuẩn.

Mô hình thực thể liên kết được xây dựng từ các khái niệm logic chính:

- Thực thể: Là chỉ đối tượng, nhiệm vụ, sự kiện trong thế giới thực hay tư duy được quan tâm

trong quản lý. Một thực thể tương đương với một dòng trong bảng nào đó.

- Kiểu thực thể: Là nhóm một số thực thể lại, mô tả cho một loại thông tin chứ không phải là

bản thân thông tin.

- Liên kết: Trong một tổ chức hoạt động thống nhất thì các thực thể không thể tồn tại độc lập

với nhau mà các thực thể phải có mối quan hệ qua lại với nhau. Vì vậy khái niệm liên kết

được dùng để thể hiện những mối quan hệ qua lại giữa các thực thể.

- Kiểu liên kết: Là tập hợp các liên kết có cùng bản chất. Các kiểu liên kết cho biết số thể

hiện lớn nhất của mỗi thực thể tham gia vào liên kết với một thể hiện của một thực thể khác.

Có ba kiểu liên kết:

+ Liên kết một - một (1-1): Hai thực thể A và B có mối liên kết 1-1 nếu một thực thể

kiểu A tương ứng với một thực thể kiểu B và ngược lại.

+ Liên kết một - nhiều (1-n): Hai thực thể A và B có mối liên kết 1-n nếu một thực thể

kiểu A tương ứng với nhiều thực thể kiểu B và một thực thể kiểu B chỉ tương ứng với một

thực thể kiểu A.

+ Liên kết loại nhiều - nhiều (n-n): Hai thực thể A và B có mối liên kết n-n nếu một

thực thể kiểu A tương ứng với nhiều thực thể kiểu B và ngược lại.



15



- Thuộc tính: Là giá trị thể hiện một đặc điểm nào đó của một thực thể hay một liên kết.

Ngừơi ta chia ra làm ba loại thuộc tính: thuộc tính định danh (thuộc tính khóa), thuộc tính

quan hệ, thuộc tính mô tả. Trong đó thuộc tính định danh là quan trọng nhất và bắt buộc thực

thể nào cũng phải có thuộc tính này để xác định.

2.1.2.3. Khái niệm, chức năng, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

- Khái niệm: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu

và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số

tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.

- Chức năng của Ngân hàng thương mại:

+ Trung gian tín dụng

+ Trung gian thanh toán

+ Nguồn tạo tiền

- Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại bao gồm:

+ Hoạt động huy động vốn

+ Hoạt động tín dụng

+ Hoạt động dịch vụ thanh toán

+ Hoạt động ngân quỹ

+ Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh

ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ và bảo hiểm,

nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động

ngân hàng .

Hoạt động huy động vốn của NHTM: Đây là nguồn vốn quan trọng nhất của Ngân hàng

Thương mại, được huy động từ các hình thức sau:

+ Vay vốn của các tổ chức tài chính tín dụng;

+ Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước;



16



+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ

chức, cá nhân trong nước và ngoài nước;

+ Các khoản tiền gửi của khách hàng:

 Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Đây là một trong những khoản tiền gửi lớn của

ngân hàng. Thông thường người gửi tiết kiệm nhận được một cuốn sổ nhỏ trong đó nhân

viên ngân hàng xác định toàn bộ số tiền rút ra, gửi thêm, số tiền lãi. Khách hàng ở đây là

tất cả các dân cư có khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng, có thể gửi vào

ngân hàng nhằm tìm kiếm một khoản tiền lãi. Việc phân chia các khoản tiền gửi tiết kiệm

của dân cư có thể theo nhiều tiêu thức khác nhau. Nhưng thường người ta phân chia các

khoản tiền gửi tiết kiệm của dân cư theo tiêu thức thời gian, tức là gồm tiền gửi tiết kiệm

không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.

 Tiền ký gửi: Đây là những khoản tiền mà khách hàng đem ký gửi vào ngân hàng.

Việc sử dụng những khoản tiền ký gửi được thực hiện theo những thoả thuận giữa khách

hàng và ngân hàng. Tuy nhiên việc cho vay bằng tiền ký gửi phải căn cứ vào các điều

kiện có liên quan đến các khoản ký gửi khác nhau. Khi sử dụng các khoản tiền ký gửi

ngân hàng phải có sự phân loại các khoản tiền này nhằm có được một cách sử dụng chúng

hiệu quả nhất.



17



2.2. Phân tích, đánh giá thực trạng của hệ thống gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng

Agribank Đông Hà Nội

2.2.1. Giới thiệu chi nhánh Agribank Đông Hà Nội

- Thông tin cơ bản:

 Tên đơn vị



: Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển



nông thôn Đông Hà Nội

 Tên đầy đủ bằng tiếng Anh: Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development

Dong Ha Noi Branch

 Tên viết tắt bằng Tiếng Anh : AGRIBANK

 Địa chỉ



: 23B Quang Trung - Hoàn Kiếm - Hà NộiQua



 Điện thoại



: 043 936 4838



 Loại hình đơn vị



: Ngân hàng thương mại



Chi nhánh Đông Hà Nội là chi nhánh loại I, cấp I của Ngân hàng nông nghiệp và

Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng số 1 Việt Nam, Doanh nghiệp số 1 Việt Nam

do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc UNDP (The United Nations Development

Programme) bình chọn

Ngày 2 tháng 7 năm 2003, Chi nhánh Đông Hà Nội được thành lập theo Quyết định số

170/QĐ/HĐQT-TCCB của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn Việt Nam.

Ngày 16/9/2003, Chi nhánh Đông Hà Nội chính thức khai trương, đi vào hoạt động.

Ngày 1/1/2008, Chi nhánh Đông Hà Nội được xếp hạng Chi nhánh hạng 1.

Ngày 4/9/2008, Chi nhánh Đông Hà Nội được nhận Giấy chứng nhận Hệ thống quản lý

chất lượng phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 cấp bởi Tổ chức chứng nhận SGS

(Société Generale de Surveillance) - Thuỵ Sỹ và Tổ chức công nhận UKAS (The United

Kingdom Accreditation Service) - Anh. Ngày 5/8/2009, Chi nhánh Đông Hà Nội được cập

nhật phiên bản mới phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2008. Cũng trong năm 2009,

Chi nhánh Đông Hà Nội vinh dự được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ vì đã có



18



nhiều thành tích trong giai đoạn 2008-2009, góp phần xây dựng chủ nghĩa Xã hội và bảo

vệ Tổ quốc.

- Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành chi nhánh



BAN GIÁM ĐỐC



Ông Âu Văn Trường - Phó Giám đốc (phụ trách chung)

Bà Đặng Thị Ngọc Huyền - Phó Giám đốc



P. TÍN

DỤNG



P. KẾ

HOẠCH



TỔNG

HỢP



P. DỊCH

VỤ &



MARKETING



P. KINH

DOANH

NGOẠI

HỐI



P. KẾ

TOÁN

NGÂN

QUỸ



P. HÀNH

CHÍNH

NHÂN

SỰ



P. ĐIỆN

TOÁN



P. KIỂM

TRA

KIỂM

SOÁT

NỘI BỘ



Hình 2.3. Mô hình hoạt động của chi nhánh



MẠNG LƯỚI



PGD. BÀ TRIỆU



PGD. LÝ

THƯỜNG KIỆT



PGD. NGUYỄN

CÔNG TRỨ



Hình 2.4. Mô hình mạng lưới hoạt động của chi nhánh

- Chức năng nhiệm vụ cơ bản:



 Chức năng



19



PGD. SỐ 1



Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đông Hà Nội là chi nhánh trực thuộc

NHNo&PTNT Việt Nam, thực hiên chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng thương mại

nhà nước là kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng và các dịch vụ thanh toán, gương

mẫu chấp hành, thực thi chính sách tiền tệ - tín dụng – ngân hàng của Đảng và nhà nước,

đảm bảo giữ ổn định phát triển kinh doanh của đơn vị cũng như đảm bảo ổn định và cải

thiện đời sống cho người lao động tại Chi nhánh.

Chức năng của phòng chuyên môn nghiệp vụ:

+ Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn theo qui định;

+ Chỉ đạo nghiệp vụ; trực tiếp kiểm tra, kiểm soát hoạt động nghiệp vụ tại các

Phòng giao dịch trực thuộc.

 Nhiệm vụ



Theo Pháp lệnh ngân hàng và điều lệ hoạt động của NHNo&PTNT chi nhánh

Đông Hà Nội, chi nhánh có các chức năng và nhiệm vụ sau:

+ Huy động vốn của các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tế thông qua việc mở

tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tài khoản séc, tài khoản vòng lại, gửi

vàng. Tiền gửi của khách hàng được chia làm hai loại: Tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ

hạn. Ngoài ra cũng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, phiếu nợ trung và dài hạn tạo nguồn

vốn tài trợ cho các dự án trung và dài hạn.

+ Cung cấp các sản phẩm tới người dùng như: cho vay (bao gồm cho vay ngắn

hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ theo quy định của ngân hàng),

chiết khấu, bảo lãnh, bảo hiểm…

+ Chi nhánh cũng thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh đối

ngoại...Và một số dịch vụ khác như: thanh toán, chuyển tiền trong nước và quốc tế, dịch

vụ phát hành và thanh toán thẻ ATM, dịch vụ tư vấn tài chính, đầu tư chứng khoán...

- Các sản phẩm dịch vụ của chi nhánh Agribank Đông Hà Nội



20



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (53 trang)

×