1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA GP.BANK – CN THĂNG LONG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (335.37 KB, 48 trang )






Năm 2009, GP.Bank đã chính thức đưa chi nhánh Thăng Long (CT2 – VIMECO

Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội) vào hoạt động : là chi nhánh thứ 9 của GP.Bank sau 3

năm ngân hàng này được thành lập.

GP.Bank Thăng Long đã có thể cung ứng cho khách hàng thuộc mọi thành phần

kinh tế trên địa bàn Hà Nội và các vùng phụ cận đầy đủ gói sản phẩm dịch vụ tài

chính-ngân hàng theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước và theo sự ủy quyền của

Hội sở; Đồng thời, chi nhánh GP.Bank Thăng Long đã được kết nối với các điểm giao

dịch của GP.Bank trên toàn quốc để thực hiện các giao dịch trực tuyến.

3.1. 2 Kết quả hoạt động kinh doanh ở chi nhánh.

Có thể thấy kết quả hoạt động của Chi nhánh qua một số chỉ tiêu chính sau:

Tổng tài sản đến 31/12/2011 đạt 255 tỷ đồng tăng 54% ( 89,8 tỷ đồng ) so với

năm 2010 và bằng 293% so với thời điểm nâng cấp (T10/2009). Nguồn vốn huy động

đến 31/12/2011 đạt 226,5 tỷ đồng tăng 54% (795 tỷ đồng) so với năm 2010, đạt 119%

kế hoạch. Dư nợ (không bao gồm nợ khoanh, nợ chờ xử lý) đến 31/12/2011 đạt 100,9

tỷ đồng. Tăng trưởng 28% (218 tỷ đồng) so với năm 2010. Đạt 99,9% giới hạn. Do

Chi nhánh tích cực xử lý thu hồi nợ quá hạn, khó đòi nên đến thời điểm cuối năm nợ

quá hạn được giữ ở mức (1,9 tỷ đồng) tỷ lệ 0,19% dư nợ. Chênh lệch thu chi năm 2011

đạt 3,71 tỷ đồng bằng 111% so với kế hoạch được giao và bằng 681% so với năm

2010. Lợi nhuận sau thuế đạt 1,52 tỷ đồng, vượt mức kế hoạch giao 20%.

Bảng 3.1: Một số kết quả kinh doanh chủ yếu (Nguồn: Phòng kinh doanh năm 2011)

STT



Chỉ tiêu



2009



2010



2011



Tỷ trọng so

với năm

2010; 2009



1



Tổng tài sản



35,6



89,8



255



54%; 293%



2



Nguồn vốn huy

động



28,9



79,5



226,5



54%; 119%



Dư nợ



11



21,8



100,9



28%; 99,9%



3.1



5.45



37.1



681% (2010)



6.7



9.34



15.2



20% (mức kế

hoạch)



3

4

5



18



Chênh lệch thu

chi

Lợi nhuận sau

thuế



3. 2 Sự ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến dịch vụ chăm sóc khách hàng

cá nhân của GP.Bank-Cn Thăng Long.

3. 2.1 Môi trường bên ngoài.

a. Môi trường chính trị pháp luật

Hệ thống chính trị Việt Nam ổn định dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng

Sản VN. Nền kinh tế Việt Nam được xác định là nền kinh tế thị trường theo định

hướng xã hội chủ nghĩa gồm nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng

vai trò chủ đạo.

Trong giai đoạn từ nay đến nằm 2010, trước yêu cầu phát triển kinh tế và xu thế

hội nhập kinh tế quốc tế, NHNN đã xây dựng một kế hoạch cụ thể tập trung vào các

nội dung cơ bản sau:

Hình thành đồng bộ khung pháp lý minh bạch, công bằng nhằm thúc đẩy cạnh

tranh và bảo đảm an toàn hệ thống. Trọng tâm của nội dung này là triển khai xây dựng

4 luật về ngân hàng: Luật NHNN, Luật Các TCTD, Luật Bảo hiểm tiền gửi và Luật

Giám sát an toàn hoạt động NH theo hướng áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc

tế phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu hướng phát triển của ngành Ngân hàng

trong bối cảnh hội nhập.

Từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của NHNN; nâng cao năng lực xây

dựng và điều hành chính sách tiền tệ của NHNN; tăng cường năng lực thanh tra, giám

sát của NHNN.

Đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế về tài

chính NH theo lộ trình và bước đi thích hợp với năng lực cạnh tranh của các TCTD va

khả năng của NHNN về kiểm soát hệ thống.

Phát triển hệ thống các TCTD VN theo hướng hiện đại, hoạt động đa năng, đa

dạng về sở hữu và loại hình TCTD, có qui mô hoạt động và tiềm lực tài chính mạnh.

Đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại các NHTM và tiến độ hiện đại hóa công nghệ ngân

hàng.

Tăng cường năng lực tài chính của các TCTD theo hướng tăng vốn tự có và nâng

cao chất lượng tài sản và khả năng sinh lời. Như vậy, NHNN củng cố và phát triển hệ

thống ngân hàng trong nước, bao gồm cả việc cổ phần hóa các NHTM quốc doanh, cải



19



tạo và phát triển các NHTMCP yếu kém về hiệu quả kinh doanh và có khả năng gây ra

rủi ro lớn cho hệ thống ngân hàng.

b. Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến khả năng thu

nhập, chi tiêu, thanh toán của dân cư và ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh

của Ngân Hàng. Sự thay đổi của các yếu tố như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm

của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư và từ đó

ảnh hưởng đến khả năng sử dụng dịch vụ của Ngân Hàng. Ví dụ: Khi thu nhập bình

quân đầu người tăng thì những nhu cầu của người dân cũng tăng, họ sẽ có xu hưởng

muốn sử dụng những dịch vụ an toàn, tiết kiệm thời gian và chi phí.

c. Môi trường dân số

Dân số là yếu tố rất quan trọng bởi nó không chỉ tạo thành nhu cầu và kết cấu

nhu cầu của dân cư về sản phẩm dịch vụ Ngân Hàng mà còn là căn cứ để hình thành

hệ thống phân phối của Ngân Hàng. Dân số đông có trình độ nhận thức cao sẽ tiếp

nhận các dịch vụ mới của Ngân Hàng nhanh chóng hơn và ngược lại.

d. Môi trường địa lý

Môi trường địa lý được xác định bởi quy định của quốc tế để hình thành nên

quốc gia và quy định từng quốc gia trong việc hình thành các tỉnh, huyện, xã, thành

phố,... Chi Nhánh Thăng Long có các phòng giao dịch đặt tại các khu vực đông dân cư

vì vậy nên đây là một vị trí thuận lợi để thu hút khách hàng.

e. Môi trường công nghệ

Khoa học công nghệ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động

ngân hàng trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn đối với khách hàng cá nhân và chính nhờ

một phần công nghệ đã làm cho quá trình hạch toán trở nên đơn giản hơn bằng các

phần mềm hạch toán và làm cho các giao dịch như là chuyển tiền trong nước và quốc

tế trở nên đơn giản thuận tiện hơn rất nhiều góp phần không nhỏ trong việc thu hút

khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ vụ ngân hàng.

Những tác động chính của ứng dụng công nghệ - kỹ thuật đối với đổi mới hoạt

động ngân hàng:

1- Thay đổi mô hình tổ chức, phương pháp điều hành, phương thức giao dịch của ngân



hàng. Cùng với việc đầu tư trang bị kỹ thuật hiện đại hóa ngân hàng, việc tổ chức lại

20



mô hình tổ chức của mỗi ngân hàng là một công việc phải làm đồng bộ. Đầu tư trang

thiết bị kỹ thuật tạo nên một cuộc cải cách về tổ chức bộ máy nghiệp vụ, điều hành của

mỗi ngân hàng. Giúp cho hoạt động chăm sóc khách hàng thuận tiện và nhanh chóng

hơn.

2- Đơn giản hóa các thao tác nghiệp vụ, thực hiện phương pháp giao dịch một cửa, khách

hàng có thể giao dịch với ngân hàng ở bất kỳ địa điểm nào, bất kỳ nhân viên giao dịch

nào. Trong thanh toán khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng chuyển tiền của mình đến

bất kỳ địa điểm nào, bất kỳ ngân hàng nào với thời gian nhanh chóng chính xác mà

không cần những thủ tục rườm rà như trước đây. Nhờ ứng dụng công nghệ hiện đại mà

ngân hàng đã thực hiện đươc phong cách làm việc văn mình, chăm sóc khách hàng

đươc tốt hơn.

3- Đảm bảo, nhanh chóng, an toàn, chính xác trong các giao dịch. Thực hiện giao dịch

online nen xử lý số liệu đảm bảo tuyệt đối an toàn chính xác.

4- Cập nhật thông tin quản lý điều hành và hoạt động kinh doanh. Hệ thống thông tin đầy



đủ, chính xác và cập nhật vào bất cứ thời điểm nào là thế mạnh mà trước đây không có

được. Chính có thông tin nhạy bén chính xác mà công tác quản lý ngân hàng tốt hơn,

kinh doanh hiệu quả cao hơn rất nhiều so với trước đây và hoạt động chăm sóc khách

hàng cũng thực hiện tốt hơn.

g. Môi trường văn hóa- xã hội

Mỗi quốc gia đều có một nền văn hóa riêng, văn hóa chính là yếu tố tạo nên bản

sắc của các dân tộc như: tập quán, thói quen, tâm lý... Đối với Ngân Hàng hoạt động

kinh doanh dịch vụ là hoạt động chịu nhiều ảnh hưởng từ môi trường văn hóa do chính

đặc tính của dòng sản phẩm vô hình. Cụ thể ở các nước phát triển người dân có trình

độ nhận thức cao, họ nhận thấy được những lợi ích mà dịch vụ Ngân Hàng mang lại

nên tương đối không gặp khó khăn trong việc kinh doanh dịch vụ Ngân Hàng và

ngược lại.

3. 2. 2Môi trường ngành

3. 2. 2.1. Đối thủ cạnh tranh

Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có khoảng 40 ngân hàng thương mại đang hoạt

động nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng. Và số lượng các phòng

giao dịch của các ngân hàng ngày càng tăng lên điều này chứng tỏ mức độ hấp dẫn của

thị trường tài chính tiền tệ tại Việt Nam. Do số lượng khách hàng có hạn mà ngày càng

21



nhiều các chi nhánh và phòng giao dịch mọc lên chính vì vậy mà sự cạnh tranh giữa

các ngân hàng trong việc thu hút khách hàng đến sử dụng dịch vụ của ngân hàng mình

ngày càng khốc liệt. Ví dụ như trong hoạt động huy động tiền gửi thì là cuộc cạnh

tranh về lãi suất, về các chương trình tiết kiệm dự thưởng khuyến mại… nhằm thu hút

khách hàng đến gửi tiết kiệm. Bên cạnh đó chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng

cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc giữ chân khách hàng truyền thống và tạo dựng

ấn tượng tốt đẹp với khách hàng mới. Các ngân hàng ngày càng chú trọng đến hoạt

động chăm sóc khách hàng tại vì chi phí cho dịch vụ này không nhiều nhưng hiệu quả

mang lại thì vô cùng to lớn.

3. 2. 2. 2 Khách hàng

Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh

trong một vài năm gần đây do trình độ dân trí ngày càng cao và tốc độ đô thị hóa tăng lên

kéo theo nhu cầu về các dịch vụ đối với khách hàng cá nhân cũng phát triển rất mạnh nên

các NHTM cũng đẩy mạnh đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng góp phần nhằm thỏa mãn

các nhu cầu của khách hàng cá nhân một cách tốt nhất. Khách hàng cá nhân chiếm tỷ lệ chủ

yếu trong cơ cấu khách hàng của NHTM đặc biệt là tại các NHTMCP thì tỷ lệ khách hàng

cá nhân chiếm tỷ lệ cao hơn. Khách hàng cá nhân là những người sử dụng nhiều nhất các

dịch vụ của ngân hàng góp phần không nhỏ vào việc tăng doanh thu dịch vụ cho ngân hàng.

Tại Việt Nam thì khách hàng cá nhân chủ yếu sử dụng hai dịch vụ chính là dịch vụ tiền gửi

và dịch vụ vay vốn, ngoài ra còn các dịch vụ khác như là dịch vụ chuyển tiền và dịch vụ

thẻ. Do những năm gần đây nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ của khách hàng cá nhân

ngày một nhiều hơn và kéo theo đó các ngân hàng không ngừng đưa ra các sản phẩm dịch

vụ mới đáp ứng các nhu cầu của khách hàng cá nhân. Các chi nhánh GP.Bank cũng không

nằm ngoài trong số đó. Khách hàng cá nhân chiếm một tỷ lệ cao nhất trong tổng cơ cấu loại

khách hàng của ngân hàng. Nhận thức được điều này các chi nhánh GP.Bank đã có những

phân tích đặc điểm của khách hàng cá nhân theo sản phẩm dịch vụ để từ đó có những đánh

giá về nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ của họ để có thể có những chiến lược phát triển

chăm sóc khách hàng cá nhân trong thời gian tới



3.2.2.3 Nhân tố ảnh hưởng tới dịch vụ chăm sóc khách hàng.



22



- Về sản phẩm dịch vụ cung cấp: Loại hình dịch vụ cung cấp là hình thức các

dịch vụ được bộ phận chăm sóc khách hàng của ngân hàng cung cấp tiến hành nhằm

đem lại những giá trị (ngoài giá trị tổng thể) cho khách hàng. Có thể nói, loại hình dịch

vụ cung cấp cho khách hàng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự yêu thích của khách

hàng với nhà cung cấp. Loại hình dịch vụ ngân hàng đưa ra có phong phú, đa dạng,

sáng tạo, đem lại nhiều giá trị cảm nhận cho khách hàng thì mới được khách hàng ưa

thích

Ví du: đối với hoạt động huy động vốn, ngân hàng tổ chức dịch vụ tiết kiệm

dự thưởng, dịch vụ ngân hàng này cung cấp cho khách hàng cơ hội nhận được giải

thưởng vật chất khác như xe hơi, một số hàng điện tử trên thành tích lượng tiền gửi

của mình. Hay như, để phát triển dịch vụ thẻ thanh toán rất nhiều ngân hàng đã miễn

phí phát hành thẻ và đồng thời cung cấp thêm 1 năm bảo hiểm tiền gửi miễn phí tài

khoản của khách hàng trong quá trình sử dụng dịch vụ sau này.

Với khách hàng cá nhân sự chăm sóc còn được ngân hàng cung cấp qua dịch

vụ chăm sóc 24/24 giờ thông qua tổng đài dịch vụ đường dây nóng hay qua mạng trực

tuyến.Những dịch vụ chăm sóc này sẽ giải thích trả lời mọi thắc mắc phản ánh của

khách hàng 24/24 giờ.

Các dịch vụ chăm sóc khách hàng cá nhân của mỗi ngân hàng có thể rất khác

nhau tùy thuộc vào vị thế cũng như mục tiêu nhắm tới của mỗi ngân hàng. Nhưng tất

cả các dịch vụ đó đều thỏa mãn hơn tập khách hàng của mình tạo dựng được vị trí

vững chắc trong lòng khách hàng.

- Chất lượng dịch vụ là yếu tố chính quyết định mức độ hài lòng của khách hàng

đối với dịch vụ của nhà cung cấp. Do đó, trên thị trường dịch vụ ngân hàng hiện nay,

việc đầu tư cho công tác chăm sóc khách hàng cá nhân của ngân hàng đã được tiến

hành một cách thường xuyên và chuyên nghiệp hơn rất nhiều.Các yếu tố quyết định

chất lượng dịch vụ gồm: tính tiếp cận, tính tin cậy, tính sẵn sang, thái độ phục vụ, năng

lực hành vi, uy tín đơn vị, dịch vụ vô hình khác. Sự đầu tư cho công tác chăm sóc

khách hàng không chỉ là việc đầu tư thêm cơ sở hạ tầng mà đó còn là việc đầu tư cho

đội ngũ nhân lực, phát triển quy trình dịch vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

- Phương thức cung cấp dịch vụ: Phương thức cung cấp dịch vụ là cách thức mà

nhà cung cấp sử dụng để đưa dịch vụ tới tay khách hàng mà qua đó khách hàng có thể

23



sử dụng, tiếp cận dịch vụ. Có 2 phương thức cung cấp dịch vụ mà ngân hàng thường

sử dụng đó là trực tiếp và gián tiếp. Phương thức chăm sóc khách hàng trực tiếp là việc

diễn ra các giao dịch trực tiếp giữa khách hàng với nhân viên chăm sóc khách hàng

của ngân hàng. Phương thức khách hàng gián tiếp là những hoạt động chăm sóc khách

hàng được tiến hành thông qua công cụ nào đó, qua đó bộ phận chăm sóc khách hàng

thực hiện được nhiệm vụ và chức năng của mình ví dụ như qua hệ thống tổng đài trợ

giúp khách hàng, qua mạng internet, qua báo chí… Mỗi loại hình phương thức cung

cấp trên sẽ có những nhược điểm và ưu điểm riêng tùy vào đối tượng khách hàng, nhu

cầu của họ và khả năng của ngân hàng mà đáp ứng.

- Sự thỏa mãn của khách hàng: Sự thõa mãn là mức độ của một người bắt nguồn từ

việc so sánh kết quả sau khi sử dụng dịch vụ với những kì vọng của người đó. Do vây,

khách hàng chỉ có thể thỏa mãn khi những giá trị nhà cung cấp cho họ lớn hơn sự kì

vọng của họ, từ đó họ sẽ có thái độ hài lòng, vui sướng hay thích thú.

Về phía bản than khách hàng khi đến với dịch vụ chăm sóc khách hàng cá nhân,

vấn đề của họ thường quan tâm đó là việc những yêu cầu thắc mắc của họ có được giải

quyết hay không và giải quyết như thế nào. Những yêu cầu thắc mắc của họ được giải

quyết một cách thỏa đáng, chính xác và kịp thời thì thông thường họ sẽ hài lòng nhưng

để tạo được sự vui sướng hay thích thú thì phải tạo được 1 số yếu tố như: điều kiện vật

chất, bối cảnh diễn ra giao dịch…

3. 2.3 Môi trường nội tại .

Môi trường nội tại của GP.Bank Chi nhánh Thăng Long. Vai trò của bộ phận

Marketing tại chi nhánh:

Một là:





Trực tiếp quản lý tài khoản và giao dịch với khách hàng. Trực tiếp thực hiện, xử lý tác

nghiệp và hạch toán kế toán các giao dịch với khách hàng về mở tài khoản tiền gửi và

xử lý giao dịch tài khoảntheo yêu cầu của khách hàng (các giao dịch nhận tiền gửi, rút

tiền, chuyển tiền thanh toán, ngân quỹ thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, thu đổi, mua bán



ngoại tệ…) và các dịch vụ khác.

• Tiếp xúc tiếp nhận yêu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng, hướng dẫn thủ

tục giao dịch, tiếp thị giới thiệu sản phẩm dịch vụ ngân hàng, bán hàng tại quầy, tiếp



24



nhận các ý kiến phản hồicủa khách hàng về dịch vụ, tiếp thu đề xuất hướng dẫn cải

tiến để không ngừng đáp ứng sự hài lòng của khách hàng.

Hai là : Chịu trách nhiệm:









Kiểm tra tính pháp lý, tính đầy đủ, đúng đắn của chứng từ giao dịch;

Thực hiện đúng các quy định, quy trình nghiệp vụ, thẩm quyền về bảo mật;

Thực hiện đầy đủ các biện pháp kiểm soát nội bộ trước khi hoàn tất một giao dịch.

Phòng Marketing có nhiệm vụ cung cấp thông tin cũng như đề xuất chính

sách, kế hoạch phát triển khách hàng, mọi thông tin được cung cấp cho các phòng ban

khác trong CN để có các quyết định chính xác nhất về ngân quỹ, phòng tín dụng, cũng

như phương hướng kinh doanh trong giai đoạn tiếp theo.

+ / Nguồn nhân lực

Là yếu tố quan trọng của hoạt động kinh doanh, một đội ngũ cán bộ có trình độ

chuyên môn, năng động, nhiệt huyết, được đào tạo bài bản và làm việc trong một môi

trường chuyên nghiệp sẽ có hiệu quả kinh doanh tốt. Đối với hoạt động kinh doanh trong

ngành Ngân Hàng thì một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên sâu, năng động là rất cần

thiết. Là một chi nhánh mới thành lập vì vậy đội ngũ cán bộ của chi nhánh Cầu Giấy còn

khá non trẻ, thiếu kinh nghiệm. Đây cũng là một khó khăn lớn cho chi nhánh.

+ / Công nghệ hiện đại tiên tiến

Ngày nay công nghệ thông tin đóng vai trò chủ yếu và chi phối trong toàn bộ mọi

hoạt động Ngân Hàng. Trong những năm gần đây Ngân Hàng đã có những bước phát

triển vượt bậc trong việc áp dụng công nghệ vào các nghiệp vụ của mình tạo ra được lợi

thế cạnh tranh cho Ngân Hàng của mình. Cần nâng cao hơn nữa việc ứng dụng để tăng

thêm tiện ích cho khách hàng và tăng năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm.

3.3 Thực trạng dịch vụ chăm sóc khách hàng cá nhân của GP.Bank-Cn Thăng Long.

3.3.1 Các dịch vụ của ngân hàng GP.Bank-Cn Thăng Long.

3.3.1.1 Hoạt động huy động vốn

Ý thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn, ngay từ khi mới thành

lập, chi nhánh Thăng Long rất quan tâm đến việc huy động vốn, đặc biệt là trong điều

kiện hiện nay có số lượng lớn các tổ chức tín dụng thuộc các loại hình khác nhau cùng

kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và cạnh tranh quyết liệt, do đó đòi hỏi chi nhánh phải

phấn đấu nhằm thu hút một khối lượng vốn lớn, ổn định đảm bảo cho nhu cầu đầu tư

mở rộng tín dụng trên địa bàn huyện.

25



*Cơ cấu nguồn vốn huy động:

Bảng 3.2: Cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế của GP.Bank-Cn Thăng

Long qua 3 năm (2009-2011)

Đơn vị tính: Triệu đồng

So sánh

Chỉ tiêu



2009



2010



2010/2009



2011



Số tiền

TG dân cư

TG Doanh

nghiệp

Tổng nguồn



%



119.022 146.708 186.124 27.686

11.334



12.538



20.620



1.239



2011/2010

Số tiền



%



23,3



39.416



26,8



10,9



8.037



63,8



130.366 159.291 206.744 28.925 22,1

47.453 29,7

HĐV

( Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động tín dụng phòng tín dụng 2009-2011)



Năm 2010 tổng nguồn vốn huy động tăng 28.925 triệu đồng với tốc độ tăng

22,1 % so với năm 2009, trong đó nguồn vốn dân cư tăng 27.686 triệu đồng, tăng

23,3%. Năm 2010 công tác huy động vốn được xá định là nhiệm vụ trọng tâm hướng

tới khách hàng chủ yếu là dân cư nên đã tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo

thông qua các buổi giải ngân cho vay qua tổ, qua hội, qua mạng lưới phát thanh tại các

xã trên địa bàn. Công tác tiếp thị được coi trọng, đã chỉ đạo sao kê tiền gửi đến hạn cử

cán bộ tiếp cận đến khách hàng để khách hàng gửi lại.

Tổng nguồn vốn huy động năm 2011 tại địa phương đạt 206.744 triệu đồng

tăng so với năm 2010 là 47.453 triệu đồng, tốc độ tăng 29,7%. Trong đó, nguồn vốn

huy động từ dân cư đạt 186.124 triệu đồng tăng so với năm 2010 39.416 triệu đồng,

tốc độ tăng 26,8%. Nguồn vốn dân cư chiếm tỷ trọng 90% tổng nguồn vốn huy động.

Do biện pháp chỉ đạo tích cực, quyết tâm cao, bám sát tiếp cận được khách hàng, tư

vấn kịp thời, tuyên truyền thường xuyên về các hình thức gửi tiền, thanh toán qua

GP.Bank, nên thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền trong năm 2011 và tăng được

nguồn vốn dân cư.

Cơ cấu huy động vốn theo đơn vị tiền tệ:

Bảng 3.3: Tình hình huy động vốn theo đơn vị tiền tệ tại GP.Bank-Cn Thăng

Long



qua 3 năm (2009-2011)

Đơn vị tính: Triệu đồng



26



So sánh

Chỉ tiêu



Tiền gửi kho

bạc, BHXH

NV ngoại tệ

quy đổi



2009



2010



2011



16.007



4.300



8.854



12.173



2010/2009



2011/2010



%



(+) (-)



%



(+) (-)



20.611



26.86



-11.707



479.33 16.311



11.000



137.49



3.319



90.36



-1.1173



NV nội tệ

142.435 181.52 237.954 127.44 39.085 131.09 56.434

Tổng huy động

167.296 198.00 269.259 118.35 30.704 136.13 71.529

vốn

(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động tín dụng phòng tín dụng năm 2009-2011)

Qua bảng thống kê tình hình hoạt động tín dụng trên ta thấy nguồn vốn huy

động có sự chuyển biến tích cực qua các năm, tổng nguồn vốn huy động năm 2010 đạt

198.000 triệu đồng tăng 30.704% so với năm 2009 trong đó tiền gửi kho bạc, BHXH

giảm 11.707%, NV ngoại tệ qui đổi tăng 3.319%, NV nội tệ tăng 39.085%. Năm 2011

tổng nguồn vốn huy động đạt 269.259 triệu đồng tốc độ tăng trưởng đạt 71.529% so

với 2010 trong đó tiền gửi kho bạc, BHXH và NV nội tệ đều tăng nhưng đáng chú ý là

NV ngoại tệ quy đổi giảm 1.1173%, nguyên nhân là tỷ giá ngoại tệ biến động không

ổn định nên người dân không bán ngoại tệ chuyển sang VNĐ.

3.3.1.2. Hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của Ngân hàng, đem lại cho Ngân

hàng phần lớn nguồn thu nhập nhưng cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất và có

khả năng dẫn tới nguy cơ mất vốn. Vì vậy GP.Bank-Cn Thăng Long đã tiến hành

nghiên cứu, xây dựng kế hoạch sử dụng vốn sao cho đạt kết quả lớn nhất trên cơ sở

vốn huy động được và tình hình thực tế.

Trong những năm qua, Ngân hàng đã đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu vốn tiêu dùng

cho các thành phần kinh tế, giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng

cao chất lượng sản phẩm, cải thiện đời sống nhân dân trên địa bàn. Nhờ vậy Ngân hàng

đã tạo được uy tín và sự tin tưởng rất lớn đối với tổ chức và người dân trên địa bàn.

Bảng dưới đây cho thấy được tình hình cho vay của chi nhánh trong 3 năm qua.

Bảng 3.4: Tình hình cho vay tại GP.Bank-Cn Thăng Long qua 3 năm (2009-2011)

27



Đơn vị: Triệu đồng

So sánh

Chỉ tiêu



2009



2010



2011



2010/2009

+/%

188.95

406.004

247.28

2

135.18

290.615

206.45

6



2011/2010

+/%

Tổng DS cho

317.24

88.75

128.297

127.98

vay

9

5

DS cho

262.18

28.42

127.000

110.84

vay ngắn hạn

6

9

DS cho

60.32

1.297

55.063 115.389 53.766 4245.41

209.56

vay trung hạn

6

184.40

108.2

Dư nợ ngắn hạn 183.35

199.284 100.38 0.688

15.243

1

8

196.4

Dư nợ trung hạn 50.946 57.489 112.932 112.84 6.543

55.443

4

241.53

129.2

Tổng dư nợ

243.299

312.216 103.09 7.231

70.686

0

7

Tỉ lệ nợ xấu(%) 0.12

0.7

0.25

0.58

583.33 -0.45

- 35.75

(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động tín dụng phòng tín dụng 2009-2011)

Qua 3 năm, quy mô tín dụng của chi nhánh tăng lên đáng kể. Điều này được thể

hiện qua tổng doanh số cho vay năm 2010 đạt 317.249 triệu đồng so với năm 2009 là

128.297 triệu đồng và đến năm 2011 đạt mức 406.004 triệu đồng tăng 88.755 triệu

đồng so với năm 2010. Để đạt được mức tăng trưởng đó là do quá trình hội nhập đang

diễn ra, nhu cầu vay vốn của khách hàng ngày càng tăng cao. Mặc dù tổng nguồn vốn

huy động tại GP.Bank-Cn Thăng Long không đủ để đáp ứng nhu cầu vay vốn của

khách hàng nhưng nhờ có sự chu chuyển vốn từ GP.Bank nên doanh số cho vay vẫn

tăng đều qua các năm. Bên cạnh đó, cán bộ chi nhánh đã cố gắng xây dựng cơ chế cho

vay đơn giản (cả cơ chế và thủ tục cho vay) để giải quyết nhanh nhu cầu vay vốn trên

cơ sở đảm bảo an toàn trong cho vay.

Cùng với qui mô tín dụng thì doanh số thu nợ của chi nhánh cũng tăng trong

những năm qua. Năm 2009 tăng 23.157 triệu đồng với tỷ lệ tăng 10,8% so với năm

2008 và năm 2010 đạt 328.745 triệu đồng tăng 91.273 triệu đồng so với năm 2009.

Doanh số thu nợ tăng cao như vậy là do nỗ lực của cán bộ tín dụng trong công tác

thẩm định dự án sản xuất kinh doanh, có những biện pháp cứng rắn đối với khách

hàng không chịu trả nợ đúng hạn, không cho vay khi chưa trả hết nợ cũ.

28



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (48 trang)

×