1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng MHB chi nhánh Hải Dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (475.51 KB, 73 trang )


57

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



3.1. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng của ngân hàng MHB Hải

Dương.

Ngân hàng MHB chi nhánh Hải Dương quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ năm

2013, thực hiện cải cách mạnh mẽ và toàn diện với phương châm: “Phát triển, an

toàn, hiệu quả và hội nhập”, tạo chuyển biến trong hoạt động kinh doanh nhằm đảm

bảo ổn định thị phần và đời sống cán bộ công nhân viên. Trong cuộc tổng kết cuối

năm 2012 ban lãnh đạo của chi nhánh MHB Hải Dương đã phân tích những hạn chế

-



và để ra phương hướng nhiệm vụ trong năm 2013 và các năm tiếp theo như sau:

Tăng cường huy động vốn, tiếp tục coi công tác huy động vốn là hoạt động then

chốt của Ngân hàng. Duy trì khả năng ổn định và tăng trưởng nguồn vốn huy động,

đặc biệt vốn huy động từ thị trường I; nâng cao khả năng dự báo và ứng phó tình

hình chung, có chính sách điều hòa vốn linh hoạt có hiệu quả, lãi suất huy động



-



thực hiện theo quy định của NHNN và hội sở.

Mở rộng hoạt động tín dụng, đảm bảo chất lượng và hiệu quả tín dụng, cân đối theo

chỉ tiêu kế hoạch Tổng giám đốc giao. Đối với các phương án, dự án tốt, thiết yếu

cho sự phát triển KT – XH tại địa phương cần đề xuất để xem xét cho vay. Tăng



-



cường dư nợ cho vay vốn các dự án.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chất lượng tín dụng, cơ cấu lại các khoản vay, đôn

đốc, xử lý, thu hồi nợ xấu, nợ quá hạn, thực hiện cơ cấu lãi suất hợp lý trong khuôn



-



khổ cho phép.

Tiếp tục các biện pháp nhằm cơ cấu lại khách hàng mục tiêu theo hướng sử dụng



-



trọn gói các sản phẩm của MHB.

Mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh gắn với phát triển các hoạt động dịch vụ của

Ngân hàng. Tiếp tục đẩy mạnh mảng dịch vụ Ngân hàng bán lẻ, tăng tỷ trọng thu



-



dịch vụ.

Tập trung đẩy mạnh hoạt động thanh toán biên mậu và thanh toán quốc tế trên cả

hai chiều xuất và nhập khẩu trên cơ sở những gói sản phẩm ưu đãi về lãi suất, phí

thanh toán và áp dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt đối với khách hàng thực hiện thanh



-



toán biên mậu và thanh toán quốc tế qua MHB.

Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm của MHB bằng cách cập nhật

những kiến thức mới về nghiệp vụ cho tất cả các nhân viên.



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



58

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



-



Tiếp tục công tác kiểm tra, rà soát, đánh giá và củng cố hoạt động của toàn bộ các



-



PGD để có giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh và an toàn hoạt động.

Tiếp tục chú trọng nâng cao giá trị thương hiệu, nâng cao công tác chăm sóc khách

hàng để thu hút nguồn vốn huy động và gia tăng số lượng khách hàng, xây dựn văn



-



hóa doanh nghiệp, văn hóa MHB.

Tiếp tục hoàn thiện củng cố trong công tác quản lý. Tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ

chức nhân sự của các phòng, tổ tại chi nhánh và các PGD nhằm nâng cao công tác

điều hành toàn chi nhánh, với phương châm phục vụ khách hàng chu đáp, giữ chữ



-



tín làm trọng tâm

Đẩy mạnh công tác quảng bá, tuyên truyền, tiếp thị.

Theo dõi chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch kinh doanh, đảm bảo đúng định

hướng. Tập trung hoàn thành mục tiêu và kế hoạch năm 2013 như sau:

+ Tổng vốn huy động tăng từ 25% đến 30%

+ Tổng dư nợ cho vay tăng 25% đến 27%

+ Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ < 2%.

+ Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 1%/tổng dư nợ.

+ Tỷ lệ vốn tự lực/dư nợ: 100% (đối với tất cả các PGD)

+Chỉ tiêu dịch vụ:

Số món chuyển tiền bình quân/1/POS/1 tháng: 100 món

Thanh toán quốc tế: Doanh số 1300 nghìn USD

Thanh toán biên mậu: Doanh số 10 tỷ VND

Dịch vụ kiều hối: 1200 nghìn USD (Doanh số chuyển tiền đi: 30 nghìn USD)

Thu phí thanh toán quốc tế ( bao gồm thanh toán quốc tế, thanh toán biên mậu,

dịch vụ kiều hối) : 200 triệu đồng

Thu phí dịch vụ (không bao gồm thanh toán quốc tế) : tăng 30% so với năm

2012.

+ Chỉ tiêu hoạt động thẻ:

Số lượng phát hành thẻ mới: 3900

Số dư bình quân/tài khoản thẻ: 500 nghìn đồng

+ Lợi nhuận tăng tỷ đồng 26% so với năm 2012

3.2. Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại NH MHB Hải Dương.

3.2.1 Tiếp tục mở rộng mạng lưới cho vay tiêu dùng.

Thời gian qua, NH MHB đã không ngừng mở rộng mạng lưới hoạt động của

mình ra khắp các tỉnh thành với tiêu chí giúp đưa ngân hàng đến gần người dân, tạo

cho họ sự thuận tiện trong giao dịch với ngân hàng. Mạng lưới của MHB hiện có

hơn 220 chi nhánh và phòng giao dịch tại hơn 32 tỉnh và thành phố trong cả nước.



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



59

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



Tuy nhiên, nếu so với nhu cầu vay tiêu dùng đang ngày càng tăng lên của người dân

thì số lượng các chi nhánh và phòng giao dịch của MHB như hiện này vẫn còn là ít.

Trong thời gian tới, ngân hàng cần tiếp tục mở rộng mạng lưới chi nhánh, điểm giao

dịch trập trung tại các thành phố lớn và khu công nghiệp...

Với tiêu chí lựa chọn vị trí để đặt chi nhánh, phòng giao dịch dựa theo kế hoạch

phát triển mạng lưới tổng thể. MHB cần tính đến các yếu tố địa lý kinh tế tiềm năng

và tốc độ phát triển kinh tế ,khu công nghiệp và đặc điểm văn hoá của địa phương;

đặc biệt là tại các đô thị mới vì tại đây có một lượng lớn người dân sinh sống song

số phòng giao dịch tại đây lại chưa nhiều. Công việc này cần đảm bảo tính an toàn

và hiệu quả, không mở rộng một cách tràn lan. Các điểm giao dịch mới của MHB

cần bố trí sao cho thuận tiện về giao thông, đồng thời phải khang trang, sạch đẹp và

hiện đại.

3.2.2 Hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng.

Việc mở rộng đối tượng cho vay tiêu dùng sẽ tạo điều kiện làm đa dạng các

khoản mục cho vay vì nhu cầu tiêu dùng của mỗi cá nhân rất phong phú: vay để

thanh toán hàng hoá- dịch vụ, để mua sắm đồ dùng sinh hoạt gia đình hoặc là nhu

cầu cho con đi học đại học, khám chữa bệnh…. NH MHB - Chi nhánh Hải Dương

đã chú trọng đến những nhu cầu đó của khách hàng nhưng chưa đáp ứng tốt, chỉ

phục vụ mục đích mua sắm đồ dùng và xây sửa nhà cửa là chủ yếu, trong khi các

nhu cầu khác như: học hành, du lịch, cưới hỏi… rất ít. Và nhu cầu cho vay đối với

xuất khẩu lao động nước ngoài, khám chữa bệnh là không có. Ngân hàng cần chú

trọng mở rộng đối tượng cho vay các mục đích này hơn nữa không những thu hút

thêm khách hàng, mở rộng thị phần mà còn tăng sức cạnh tranh giữa các ngân hàng

trong cùng địa bàn. Cho nên, ngân hàng nên chủ động tiếp cận với những khách

hàng này thông qua việc hợp tác với các công ty, những người môi giới có liên quan

đến nhu cầu của khách hàng.

3.2.3



Nâng cao năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng.



Con người luôn là nhân tố quyết định trong mọi lĩnh vực, đặc biệt đối với lĩnh

vực tín dụng NH – lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro, cán bộ tín dụng là người phải



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



60

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



chịu trách nhiệm trong việc đưa ra những quyết định cho vay. Do vậy, nâng cao

năng lực, trình độ cán bộ tín dụng là cần thiết để nâng cao chất lượng tín dụng,

trong đó có chất lượng tín dụng CVTD. Một đội ngũ cán bộ nhanh nhạy, sáng tạo,

có trình độ chuyên môn, am hiểu nghiệp vụ, có kinh nghiệm, hiểu biết về nhiều lĩnh

vực, có tinh thần trách nhiệm sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

ngày càng hiệu quả.

Với đội ngũ cán bộ nhân viên trẻ, hoạt động của Ngân hàng trong thời gian

qua đã phát triển năng động theo kịp với quá trình hiện đại hóa. Tuy nhiên khó khăn

lớn nhất đối với cán bộ trẻ chính là hạn chế về kinh nghiệm thực tế. Để khắc phục

tình trạng này, NH nên tổ chức các cuộc hội thảo trong đó có sự góp mặt của các

chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các cán bộ tín dụng nhiều

năm kinh nghiệm ở các ngân hàng lớn đến ngân hàng nói chuyện trao đổi kinh

nghiệm. Đồng thời, NH thường xuyên hỗ trợ, tổ chức đào tạo và đào tạo lại, bồi

dưỡng và nâng cao trình độ cho cán bộ tín dụng, nên chọn một số cán bộ tín dụng

tiêu biểu đi học tập nước ngoài, tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực

tài chính ngân hàng sau đó về truyền đạt kiến thức với các đồng nghiệp. Đi đôi với

nâng cao trình độ chuyên môn thì NH cũng phải không ngừng nâng cao phẩm chất

đạo đức nghề nghiệp của cán bộ NH. Xây dựng một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên

môn, có phẩm chất đạo đức tốt, trên cơ sở đó xây dựng nét văn hóa riêng của mình,

tạo môi trường làm việc thân thiện, gắn bó và đoàn kết giữa các cán bộ của NH.

Chuyên môn hóa cán bộ tín dụng: NH nên quy hoạch, tổ chức, sắp xếp từng

nhóm cán bộ chuyên trách về từng lĩnh vực, phù hợp với yêu cầu công việc. Qua đó

sẽ giúp cán bộ tín dụng tránh khỏi tình trạng quá tải do phải ôm nhiều lĩnh vực, có

thời gian đi sâu vào từng loại lĩnh vực cụ thể, giúp cho công tác thẩm định dự án có

sự đánh giá chính xác hơn, đem lại hiệu quả cho hoạt động tín dụng.

NH cần có những chính sách, chế độ thi đua khen thưởng, kỷ luật hợp lý,

kịp thời đúng lúc đối với từng nhân viên để thúc đẩy tinh thần làm việc sáng tạo,

nâng cao hiệu quả làm việc. Hàng năm Ngân hàng cần tổ chức kiểm tra trình độ,

chất lượng công việc để làm cơ sở đánh giá, phân loại, xếp hạng cán bộ. Khen

thưởng đối với những cán bộ làm việc tận tình có hiệu quả và đồng thời có biện



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



61

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



pháp xử lý thích đáng với những cán bộ thiếu trách nhiệm, làm thất thoát tài sản của

NH. Bằng cách thực hiện chấm công, chấm điểm các cán bộ nhân viên để đưa ra

quyết định khen thưởng bằng vật chất hoặc tinh thần, nhưng vấn đề này phải thực

hiện thật công bằng. Thực hiện tốt được chính sách này,NH sẽ tạo được động lực

cho họ cống hiến hết mình trong công việc, tạo một đội ngũ cán bộ với trình độ

chuyên môn và đồng đều, đồng thời sẽ thu hút được nguồn nhân lực có trình độ cao,

kinh nghiệm thực tế.

3.2.4



Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát.



Đây là một trong những yếu tố đem lại sự an toàn, hiệu quả cho hoạt động tín

dụng của Ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm

phát hiện những vi phạm, sai sót để có biện pháp xử lý kịp thời. Muốn vậy, Ngân

-



hàng cần hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát theo hướng sau:

Thực hiện công tác kiểm toán nội bộ theo quy chế kiểm toán nội bộ.

Kiến nghị, bổ sung, chỉnh sửa các văn bản quy định của NH MHB nếu phát hiện

chưa hợp lý, chưa phù hợp với thực tiễn, dẫn đến không an toàn cho hoạt động của



-



chi nhánh.

Làm đầu mối phối hợp với các đoàn thanh tra, cơ quan pháp luật, cơ quan kiểm



-



toan đối với hoạt động của chi nhánh.

Hoàn thiện, củng cố, tăng cường cán bộ có kinh nghiệm, có năng lực làm công tác



-



kiểm tra, kiểm soát.

Lập kế hoạch định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra, giám sát việc thực hành quy trình

nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh theo đúng quy định về pháp luật ngân hàng và quy



-



định của NHNN, điều lệ tổ chức hoạt động, các quy định của NH MHB Việt Nam.

Đánh giá mức độ đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh và kiến nghị biện

pháp nâng cao khả năng an toàn trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh.

3.2.5



Xử lý có hiệu quả các khoản nợ có vấn đề.



Trong hoạt động Ngân hàng thì rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi

nhưng quan trọng là làm cách nào để Ngân hàng giảm thiểu rủi ro, đồng thời không

đẩy khách hàng đến chỗ phá sản. Khi các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi xảy ra,

Ngân hàng phải tìm biện pháp thích hợp để xử lý. Có hai biện pháp cơ bản để giải

quyết tình trạng đó, đó là biện pháp khai thác và biện pháp thanh lý các tài sản đảm



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



62

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



bảo cho khoản vay của khách hàng. Trên thực tế, việc áp dụng biện pháp nào là tùy

thuộc vào quan điểm của từng Ngân hàng, và thái độ, sự cố gắng của khách hàng





trong việc trả nợ ngân hàng.

Biện pháp khai thác

Đây là biện pháp cũng được nhiều Ngân hàng áp dụng trong việc giải quyết các

khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi. Thực chất của phương pháp này là NH xét thấy bên

vay vẫn có khả năng duy trì sản xuất kinh doanh và có ý thức trả nợ NH nên NH sẽ

tạo điều kiện để KH có thời gian khắc phục khó khăn, giúp KH tư vấn trong sản

xuất để giảm nợ quá hạn. Nhưng khi áp dụng biện pháp này NH yêu cầu khách

hàng phải có tinh thần trách nhiệm cao, có phương án thích hợp để trả nợ NH. Để

thực hiện biện pháp này, NH có thể thực hiện một số công việc:

+ NH giúp KH trong việc thu hồi các khoản công nợ từ các KH khác có quan hệ

với NH để tạo thêm nguồn trả nợ cho doanh nghiệp.

+ NH hướng dẫn, tư vấn hoặc hỗ trợ cho các KH có điều kiện tổ chức lại, phát

triển kinh doanh để có khả năng tạo ra và thu được lợi nhuận nhằm thanh toán nợ

cho NH. NH có thể điều chỉnh hợp đồng tín dụng, gia hạn nợ, giảm quy mô hoàn trả

trước mắt, hoặc cho vay thêm vốn để doanh nghiệp tăng sức mạnh tài chính, khôi

phục sản xuất kinh doanh.

+ NH đề nghị KH quản lý chặt chẽ ngân quỹ, có thể bán bớt một số tài sản có giá

mà ít ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, giảm lượng hàng tồn kho, thanh

lý các tài sản không sử dụng,…

+ Nếu nguyên nhân của các khó khăn là do thiên tai, dịch bệnh,…dẫn đến KH

không trả được nợ hoặc không đủ, không đúng hạn,…thì NH có thể giảm bớt một

phần hoặc toàn bộ lãi phạt quá hạn cho KH, buộc KH bổ sung thêm tài sản thế chấp







để NH tăng thời hạn cho vay,..

Biện pháp thanh lý các tài sản đảm bảo cho khoản vay

Trong trường hợp NH thấy rằng việc tổ chức khai thác là không tiện lợi, không

có khả năng thu hồi được nợ thì NH sẽ áp dụng biện pháp này nhằm thu được nợ từ

khách hàng.

+ Đối với các khoản vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp mà NH có đủ giấy tờ

hợp pháp và có thể phát mại theo quy định của luật pháp để thu nợ thì có thể chuyển



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



63

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



tài sản thế chấp đó sang trung tâm bán đấu giá tài sản, hoặc xiết nợ đưa vào sử

dụng, hoặc đem góp vốn liên doanh,…

+ Đối với các khoản vay của KH không có thế chấp, đảm bảo thì NH phải chờ sự

giải quyết của tòa án kinh tế mới có biện pháp thu hồi vốn như bán tài sản của

người vay. Nếu người vay không có tài sản thì kết quả đòi nợ là vô hiệu hóa.

+ Khởi kiện trong trường hợp KH có những hành vi gian lận, cố tình lừa đảo NH

chiếm dụng vốn, bỏ trốn, lẩn tránh, sử dụng vốn sai mục đích gây thất thoát vốn.

+ Ngoài ra, đối với các khoản nợ khó đòi thì NH cần có quan hệ chặt chẽ với cấp

ủy, chính quyền địa phương, các ban ngành chức năng có liên quan trong việc thu

nợ, xử lý nợ, xử lý tài sản đảm bảo tiền vay.

3.2.6 Đẩy mạnh hoạt động marketing trong ngân hàng

Muốn đẩy mạnh hoạt động bán lẻ trong đó có hoạt động CVTD thì chi nhánh

phải phát triển hoạt động marketing nhiều hơn nữa để KH có thể biết đến chất

lượng sản phẩm cũng như dịch vụ của chi nhánh. Hiện nay, sự cạnh tranh trong lĩnh

vực tài chính- NH đang diễn ra rất gay gắt. Thông qua hoạt động marketing, các NH

phải chủ động tìm hiểu nhu cầu của thị trường, tìm đến KH và lôi kéo họ về phía

mình. Hoạt động marketing có ý nghĩa quyết định đến số lượng KH cũng như sự

trung thành của họ đối với NH. Chính vì lẽ đó, để nâng cao chất lượng CVTD, chi

nhánh cần phải tăng cường hoạt động marketing, tập trung vào đối tượng KH tiềm

năng. Nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động này là xác định được nhu cầu, mong

muốn của KH có nhu cầu vay tiêu dùng và cách thức đáp ứng nhu cầu đó một cách

hiệu quả hơn các đối thủ của chi nhánh. Chi nhánh cũng cần biết rằng các NH như

ACB, VP bank, Sacombank… có truyền thống bán lẻ, sản phẩm của họ khá đa

dạng, trên web chính thức có rất nhiều sản phẩm, trong khi MHB chỉ có những sản

phẩm chủ yếu: cho vay mua nhà, ô tô, …Chi nhánh cần phải đa dạng hơn nữa các

sản phẩm CVTD để KH có thể biết và sử dụng.

Đa số các sản phẩm CVTD của chi nhánh nhìn chung ít khác biệt so với các sản

phẩm CVTD của các NH khác. Điều đó tạo ra tâm lý quen thuộc của KH là dù đến

các NH khác nhau, họ cũng nhận được những loại hình dịch vụ như nhau, với chất

lượng đồng đều. Bởi vậy, để nâng cao chất lượng CVTD, chi nhánh phải nắm bắt



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



64

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



kịp thời nhu cầu của thị trường, đa dạng hóa danh mục tín dụng để đáp ứng nhu cầu

ngày càng phong phú của KH. Hơn thế nữa, chi nhánh cần phải tạo ra sự khác biệt

cho sản phẩm của mình bằng cách nâng cao chất lượng phục vụ như cung cấp thêm

các dịch vụ tiện ích kèm theo hay bằng phong cách phục vụ tận tình chuyên nghiệp.

Điều này sẽ tạo ra dấu ấn riêng cho các sản phẩm dịch vụ của chi nhánh. Một mặt

hoàn thiện các sản phẩm của mình, mặt khác, chi nhánh cần phải tìm hiểu xem các

NH đối thủ đang triển khai dịch vụ gì, chất lượng ra sao và dịch vụ mới nào sắp

được họ tung ra thị trường. Từ đó, chi nhánh có những động thái đáp lại để có thể

cạnh tranh với các NH khác trong việc thu hút KH về phía mình.

Hàng năm, NH nên tổ chức hội nghị KH, qua đó tạo được mối quan hệ thân thiết

hơn với KH. Bên cạnh đó, việc tổ chức hội nghị KH cũng giúp cho NH có được cái

nhìn chính xác hơn về chất lượng phục vụ thông qua những ý kiến của KH. Đồng

thời cũng giúp cho NH nâng cao chất lượng phục vụ. Hội nghị KH giúp cho NH

hiểu được những thuận lợi và khó khăn của KH, từ đó nắm bắt được nhu cầu của

họ. Đây là cơ sở giúp NH có thể triển khai các sản phẩm CVTD phù hợp với từng

đối tượng KH, từ đó giúp NH có nhiều KH hơn nữa để có thể cạnh tranh với các

NH khác trên địa bàn tỉnh đặc biệt là các NH có truyền thống bán lẻ mạnh như

ACB, Sacombank…

Đối với các sản phẩm thấu chi, CVTD tín chấp thì định kỳ như hàng tháng chi

nhánh nên đến trực tiếp các công ty, doanh nghiệp trả lương qua hệ thống MHB để

giới thiệu, tư vấn cho các nhân viên của công ty đó biết các sản phẩm này, hay bất

cứ sản phẩm CVTD nào mà KH quan tâm để KH có thể yên tâm sử dụng.

3.2.7 Hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng phục vụ cho hoạt động tín dụng

Tiếp tục thực hiện đổi mới công nghệ Ngân hàng vì công nghệ ngân hàng chính

là đòn bẩy của sự phát triển, là điều kiện để NH hội nhập với cộng đồng tài chính

quốc tế, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu quản lý và tăng cường

sức cạnh trạnh của Ngân hàng. Sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ

giúp cho việc thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, công tác lập kế hoạch, xây

dựng chính sách tín dụng cũng có hiệu quả hơn.



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



65

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



Hiện nay, các Ngân hàng đứng trước nhu cầu đổi mới, trước hết là đổi mới về

trang thiết bị máy móc sử dụng trong Ngân hàng, và đầu tiên là ưu tiên đổi mới hệ

thống mạng máy tính, bổ sung các công nghệ hiện đại, hỗ trợ các giao dịch điện tử

cho các máy ATM, các máy POS, giao dịch Ngân hàng qua Internet, đa dạng hóa

các sản phẩm, dịch vụ. Tiếp tục sử dụng hệ thống Core – banking một dự án sẽ làm

thay đổi rất lớn về công nghệ, qui trình giao dịch của MHB.

Đầu tư mua sắm, bổ sung trang thiết bị phần cứng, phần mềm cho Ngân hàng.

Ngân hàng có thể đặt hàng các công ty tin học trong và ngoài nước nhằm hoàn thiện

hơn nữa phần mềm sử dụng trong công việc giúp cho các cán bộ thực hiện công

việc một cách chính xác, nhanh chóng, an toàn và đem lại hiệu quả cao.

Ngân hàng cần cập nhật thường xuyên các thông tin về sự đổi mới công nghệ

Ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng trong và ngoài nước để có sự tiếp thu, kế

thừa, thích ứng một cách hợp lý và đem lại hiệu quả cao.

Tạo điều kiện cho các cán bộ nhân viên trong Ngân hàng có khả năng, cùng

với các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ ngân hàng nghiên cứu, tìm hiểu, đánh

giá để tìm ra một công nghệ phù hợp với Ngân hàng MHB để có một công nghệ

phục vụ riêng cho Ngân hàng.

3.3.Một số kiến nghị.

3.3.1. Đối với chính phủ.

- Mọi hoạt động trong nền kinh tế đều chịu sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Các

chính sách của Nhà nước trong mỗi giai đoạn có thể tạo môi trường thuận lợi để

ngành này phát triển nhưng cũng lại hạn chế sự phát triển của ngành khác, tùy theo

mục tiêu phát triển của cấp lãnh đạo trong thời kỳ đó. Do vậy, mỗi chủ trương chính

sách của nhà nước khi ban hành cần có sự phối hợp đồng thuận giữa các cơ quan,

ban ngành có liên quan.

- Nhà nước cần phải tạo lập một hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách ổn

định, hợp lý. Nhà nước có định hướng chính sách thống nhất đồng bộ về lĩnh vực

hoạt động của ngành ngân hàng, đặc biệt quan tâm đến hoạt động CVTD.

- Tăng cường giám sát việc thực thi pháp luật, đặc biệt là Bộ Tài Chính cần

tích cực hướng dẫn, giám sát các doanh nghiệp thực thi chế độ hạch toán kế toán,

tránh tình trạng các doanh nghiệp đưa ra các thông tin tài chính sai lệch ảnh hưởng



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



66

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



đến hoạt động của Ngân hàng trong việc đánh giá doanh nghiệp cũng như giám sát

các khoản vay sau khi giải ngân. Đồng thời, nhà nước cần tăng cường thực hiện chế

độ kiểm toán các doanh nghiệp theo định kỳ hoặc là khi có yêu cầu, qui định rõ

trách nhiêm của các bộ, ngành có liên quan; tiến hành xếp hạng tín nhiệm đối với

các doanh nghiệp.

- Củng cố lại hệ thống tài chính tiền tệ nhằm nâng cao năng lực hoạt động

của hệ thống NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống

tài chính tiền tệ là nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế. Sự yếu kém của nó

ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống Ngân hàng, có thể là mầm mống của sự

khủng hoảng kinh tế. Hơn nữa, hiện nay Việt Nam đã là thành viên của WTO, vì

vậy nhà nước cần phải sửa đổi và ban hành các văn bản pháp lý phù hợp với nền

kinh tế thế giới.

- Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn

bỏ vốn vào phát triển sản xuất kinh doanh, có các phương án đổi mới trang thiết bị,

công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm thay

thế cho hàng hóa xuất nhập khẩu. Mọi quyết định của Nhà nước đưa ra cần được

cân nhắc kỹ lưỡng, tránh tình trạng quyết định mới đưa ra lại không phù hợp với

tình hình thực tế của các doanh nghiệp, rồi lại vội vàng điều chỉnh, sửa đổi liên tục

gây tâm lý hoang mang cho các doanh nghiệp.

- Kiểm soát chặt chẽ các nguồn hàng tử bên ngoài đưa vào để ngăn chặn hàng

nhập lậu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các sản phẩm sản xuất trong nước. Đây

là một vấn đề nhức nhối nhất mà các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang phải

đối mặt.

- Tiếp tục hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán của Việt Nam tạo

kênh huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp, cho phép các Ngân hàng mua

bán các chứng chỉ tiền gửi dài hạn của ngân hàng. Đồng thời, chính phủ nên cho

phép các NHTM lớn được phép phát hành trái phiếu gọi vốn từ nước ngoài.

- Thành lập công ty bảo hiểm tiền gửi nhằm tạo niềm tin cho người gửi tiền,

khuyến khích người dân gửi tiền dài hạn vào ngân hàng. Đồng thời thành lập một tổ

chức chuyên mua bán nợ để giúp đỡ các Ngân hàng xử lý các khoản nợ không lành

mạnh, các tài sản thế chấp.



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



67

Trường Đại học Thương Mại



Khoa Tài Chính Ngân Hàng



3.3.2. Đối với ngân hàng nhà nước.

- NHNN có chức năng rất quan trọng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng

của các ngân hàng, là trung tâm thanh toán quốc gia, điều hành thị trường tiền tệ.

Do vậy, để nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng cần phải đổi mới cơ cấu tổ

chức của NHNN từ trung ương đến chi nhánh theo hướng tinh gọn và hiện đại, đảm

bảo cho NHNN gánh vác trọng trách trong việc tạo lập môi trường hoạt động thông

thoáng và thuận lợi cho các NHTM.

- Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường trên cơ sở

thiết lập chính sách tiền tệ với cơ chế truyền tải thích hợp và mục tiêu được lượng

hóa để đáp ứng được bước chuyển giai đoạn của nền kinh tế thị trường.

- Công tác thanh tra của NHNN rất có hiệu quả đối với hoạt động của hệ

thống Ngân hàng, vừa phát hiện kịp thời, vừa xử lý những sai sót đồng thời thấy

được những điểm chưa hợp lý trong hệ thống văn bản pháp quy của NHNN, từ đó

có sự điều chỉnh kịp thời và hợp lý. Vì vậy, cần cải cách toàn diện hệ thống thanh

tra, giám sát ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế về phát hiện hệ thống Ngân

hàng Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về giám sát NH.

- Tiếp tục hiện đại hệ thống thanh toán nhằm tăng cường tính tiện ích của

dịch vụ NH cung cấp, tăng nhanh tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt và thanh

toán qua NH, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, và hiệu quả hoạt động của NH,

NHNN có thể kiểm soát được lượng tiền trong lưu thông và giảm thiểu rủi ro tài

chính.

- Bảo đảm thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời cho hệ thống NH hoạt động

bao gồm thông tin về doanh nghiệp và thông tin có tính chất định hướng cho hoạt

động của NHTM. Do đó, NHNN cần nâng cao năng lực hoạt động của trung tâm

thông tin tín dụng (CIC) – tổ chức sự nghiệp Nhà nước thuộc NHNN, để tạo một

kênh thông tin tin cậy, đóng góp tích cực trong công tác quản lý của NHNN cũng

như đảm bảo hoạt động kinh doanh tín dụng an toàn, hiệu quả, góp phần vào ổn

định hệ thống NH. CIC có sứ mệnh hỗ trợ tổ chức cấp tìn dụng mở rộng và phát

triển hoạt động tín dụng, nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của khách

hàng vay, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.



Nguyễn Đức Lý- K45H6



Luận Văn Tốt Nghiệp



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (73 trang)

×