1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (371.12 KB, 48 trang )


7



với một thời gian nhất định và khi đến hạn, người sử dụng phải thanh toán cho

người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn, phần lớn hơn gọi là lợi tức”.

Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng cũng được hiểu theo nhiều nghĩa

khác nhau tùy theo bối cảnh sử dụng; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng

hoàn cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Xét một quan hệ tài

chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ

thể; xét trên khía cạnh chuyển dịch quỹ cho vay: tín dụng được coi là phương pháp

chuyển dịch từ quỹ cho vay sang người đi vay… Trong một số ngữ cảnh cụ thể,

thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay. Ví dụ, tín dụng ngắn hạn có

thể hiểu là cho vay ngắn hạn.

1.1.2 Đặc trưng của tín dụng NHTM

Tín dụng ngân hàng có một số đặc trưng cơ bản sau:

+ Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, tài sản giao dịch có thể theo hình thức

cho vay (bằng tiền) hoặc cho thuê (các loại hàng hóa, bất động sản).

+ Hoạt động tín dụng của ngân hàng xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả đầy đủ,

đúng hạn cả vốn và lãi

+ Số tiền hoàn trả thường lớn hơn số tiền lúc cho vay.

+ Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.

+ Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở hoàn trả vô

điều kiện.

+ Thực tế, tín dụng ngân hàng là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu

tài sản của các NHTM, đem lại rủi ro và thu nhập từ lãi lớn nhất cho ngân hàng.

1.1.3



Phân loại tín dụng NHTM



1.1.3.1 Căn cứ vào hình thức tín dụng

Dựa vào căn cứ này, tín dụng của NHTM được chia làm bốn loại:



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



8



Cho vay: Là hoạt động ngân hàng cho khách hàng vay một khoản tiền với cam kết

khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là hoạt

động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cấp tín dụng.

Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện

hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín

và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh

đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một NHTM không được vượt

quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM.

Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn

khác đối với tổ chức, cá nhân và có tái chiết khấu các thương phiếu và giấy tờ có

giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác. Chiết khấu là việc ngân hàng

ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần

thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy

nợ). Chiết khấu được xem như một loại hình tín dụng vì ngân hàng đã bỏ ra ở hiện

tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước.

Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng

thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau đó khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi

cho ngân hàng. NHTM muốn hoạt động cho thuê tài chính phải thành lập công ty

tài chính riêng theo nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty

cho thuê tài chính.

1.1.3.2 Căn cứ vào mức độ rủi ro

Theo tiêu chí này, tín dụng được phân thành:

Tín dụng lành mạnh: là những khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.

Tín dụng có vấn đề: là những khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như

khách hàng chậm tiêu thụ sản phẩm, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách

hàng gặp thiên tai, khách hàng chậm nộp báo cáo tài chính….



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



9



Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với thời gian ngắn

và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…

Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ đã quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất

kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…

1.1.3.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng



Cho vay không bảo đảm: đây là khoản vay không có tài sản cầm cố, thế chấp

hoặc bảo lãnh của người thứ ba. Khoản vay được ngân hàng chấp nhận nhờ vào uy

tín của chính khách hàng đó mà không cần nguồn bổ sung nợ thứ hai. Loại hình tín

dụng này được sử dụng đối với khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả

năng tài chính lành mạnh …

Cho vay có bảo đảm: là loại hình cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như: thế

chấp, cầm cố tài sản hoặc có người thứ ba đồng ý bảo lãnh. Loại hình tín dụng này

giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro vì khi khách hàng không trả được nợ, ngân hàng

có thể thu hồi một phần nhờ bán các tài sản đảm bảo hoặc người bảo lãnh sẽ phải

trả hộ.

1.1.3.4 Căn cứ vào mục đích cho vay



Cho vay bất động sản: là loại cho vay nhằm mục đích mua sắm và xây dựng bất

động sản như nhà ở, đất đai hoặc các bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp,

thương mại và dịch vụ.

Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu

động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân

bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…

Cho vay các định chế tài chính : là hoạt động cấp tín dụng cho các ngân hàng,

công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm…

Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu như mua

sắm các vật dụng đắt tiền, đi du lịch, du học, mua nhà ở…



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



10



Cho thuê: bao gồm hai loại là cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản

cho thuê bao gồm bất động sản và động sản mà chủ yếu là máy móc, thiết bị.

1.1.3.5 Căn cứ vào thời hạn cho vay



Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn dưới 12 tháng, được sử

dụng để bù đắp những thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi

tiêu ngắn hạn của các cá nhân.

Cho vay trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Loại

tín dụng này chủ yếu được dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc

đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới

có quy mô nhỏ và có thời gian thu hồi vốn nhanh. Ngoài ra, cho vay trung hạn còn

là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp.

Cho vay dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm. Đây là loại hình

tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các

thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, hoặc xây dựng các xí nghiệp mới.

1.2

Cho vay tiêu dùng tại NHTM

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm cho vay tiêu dùng tại NHTM

1.2.1.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng tại NHTM



Cho vay tiêu dùng được định nghĩa như sau: “Cho vay tiêu dùng là sản phẩm tín

dụng hỗ trợ nguồn tài chính cho các nhu cầu mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa

nhà ở, sửa xe cơ giới, làm kinh tế hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch, chữa

bệnh,… và các nhu cầu thiết yếu khác trong cuộc sống”. (Theo

nganhangonline.com).

Cũng có thể định nghĩa: “ Cho vay tiêu dùng là nghiệp vụ trong đó ngân hàng là

người cho vay, người đi vay là các cá nhân, hộ gia đình trên nguyên tắc hoàn trả cả

gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định nhằm giúp người tiêu dùng sử dụng

hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ được

hưởng mức sống cao hơn”.



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



11



Định nghĩa về cho vay tiêu dùng có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản là

giống nhau, cùng đề cập đến mục đích của loại hình cho vay này: cho vay tiêu dùng

là để phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình, những

người có nhu cầu nâng cao mức sống nhưng chưa có khả năng chi trả trong hiện tại.

Ngân hàng phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu của khách

hàng và thu được gốc cùng lợi nhuận từ khoản vay.



1.2.1.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng tại NHTM



Cho vay tiêu dùng của NHTM có nhiều đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, để phân

biệt với các loại hình cho vay khác, chúng ta có thể xét trên một số mặt sau:

Về khách hàng

- Cho vay tiêu dùng có khách hàng mục tiêu là các cá nhân và hộ gia đình có nhu

cầu mua sắm nhà cửa, hàng hóa, vật dụng … nhằm nâng cao mức sống.

- Cho vay tiêu dùng nhạy cảm theo chu kì: Nhu cầu vay của khách hàng không chỉ

phụ thuộc vào tình hình tài chính của họ mà còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế

trong những giai đoạn cụ thể (chu kì kinh tế). Khi nền kinh tế phát triển, khách hàng

lạc quan hơn về thu nhập thì nhu cầu hưởng thụ cuộc sống cũng cao hơn. Ngược lại,

khi nền kinh tế suy thoái thì cho vay tiêu dùng cũng bị thu hẹp và giảm sút.

- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất cho vay tiêu

dùng. Thông thường, người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hàng tháng

hơn là lãi suất mà họ phải chịu.

Về khoản vay

- Giá trị khoản vay không lớn nhưng số lượng các khoản vay nhiều: Với mục đích

đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình nên quy mô của mỗi khoản

vay tiêu dùng thường nhỏ so với giá trị các khoản vay sản xuất kinh doanh. Tuy

nhiên, số lượng các khoản vay tiêu dùng lại rất nhiều do nhu cầu chi tiêu của con

người ngày càng tăng lên với mức độ thường xuyên hơn. Hiện nay, khi nền kinh tế



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



12



tăng trưởng ổn định và đời sống người dân được cải thiện thì nhu cầu cho vay tiêu

dùng để nâng cao chất lượng cuộc sống là điều dễ hiểu.

- Chi phí quản lí món vay tiêu dùng lớn: do giá trị mỗi khoản vay thường không

lớn nhưng ngân hàng vẫn phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để thực hiện đầy đủ

một quy trình tín dụng. Hơn nữa, với số lượng lớn các khoản vay thì việc quản lí

của NHTM cũng không đơn giản. Đây cũng là lí do khiến lãi suất áp dụng trong cho

vay tiêu dùng thường lớn hơn cho vay thương mại.

- Cho vay tiêu dùng có mức độ rủi ro cao: rủi ro trong cho vay tiêu dùng cao hơn

trong kinh doanh. Rủi ro tiêu dùng bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro từ phía khách

hàng. Trong đó, lãi suất cho vay tiêu dùng là lãi suất cứng nhắc trong khi lãi suất

trong cho vay kinh doanh thường áp dụng hiện nay là lãi suất thả nổi được điều

chỉnh theo kì hạn nên khi thị trường có biến động, lãi suất huy động vốn tăng lên,

các ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất khi cho vay tiêu dùng. Hơn nữa, nguồn trả nợ

của khách hàng cho các khoản vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của họ nên

nếu có những nhân tố tác động làm giảm thu nhập thì điều đó cũng làm gia tăng độ

rủi ro cho ngân hàng.

Về lợi nhuận

Vì cho vay tiêu dùng có lãi suất cao nên đem lại lợi nhuận lớn cho các NHTM.

Đặc biệt là khi nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng, chi tiêu cho tiêu dùng của người

dân ngày càng cao như hiện nay. Các ngân hàng đã xem xét hoạt động cho vay tiêu

dùng là một hoạt động quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao lợi nhuận và tăng khả

năng cạnh tranh của mình.

1.2.2



Vai trò của cho vay tiêu dùng tại NHTM



Cho vay tiêu dùng là hoạt động mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Vai trò và

lợi ích của nó cũng khác nhau ứng với mỗi chủ thể kinh tế khác nhau.

Về phía NHTM



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



13



Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, chất lượng cuộc sống ngày càng

được nâng cao khiến con người muốn thỏa mãn cao hơn những nhu cầu của mình.

Điều này khiến cho vay tiêu dùng trở thành một thị trường tiềm năng. Hiện nay, các

ngân hàng đang hưởng tới thị trường này nhờ những lợi ích mà nó mang lại. Mặc dù

các khoản tài trợ theo hình thức cho vay tiêu dùng là nhỏ nhưng với số lượng các

khoản này lại rất lớn (đối tượng của cho vay tiêu dùng là tất cả mọi thành phần

trong xã hội), vì thế, tổng quy mô là rất lớn. Bên cạnh đó, lãi suất của các khoản tài

trợ theo hình thức này rất cao (do người đi vay theo hình thức này thường ít quan

tâm đến lãi suất mà chỉ quan tâm đến nhu cầu trước mắt) nên mang lại cho ngân

hàng một tỷ suất lợi nhuận tương đối lớn.

Về phía người đi vay

Cho vay tiêu dùng đặc biệt có tác dụng với người có thu nhập thấp và trung bình.

Thông qua nghiệp vụ này, họ sẽ được hưởng các dịch vụ, tiện ích trước khi có đủ

khả năng về tài chính như mua sắm các hàng hóa thiết yếu có giá trị cao (nhà, xe

hơi…) hay trong trường hợp cần chi tiêu cấp bách như nhu cầu y tế, giáo dục… Bất

cứ ai cũng mong muốn được thỏa mãn những nhu cầu của mình từ hàng hóa tất yếu

đến những hàng hóa xa xỉ hơn. Nhưng, với những người trẻ, họ chưa có đủ khả

năng chi trả cho những nhu cầu đó mà phải cần thời gian để tích lũy. Với cho vay

tiêu dùng, người tiêu dùng có thể phối hợp giữa thỏa mãn ở hiện tại và khả năng

thanh toán ở hiện tại và tương lai. Do vậy, người tiêu dùng là người được hưởng

trực tiếp và nhiều nhất lợi ích mà hình thức cho vay này mang lại. Tuy nhiên, cũng

không nên lạm dụng cho vay tiêu dùng vì nó có thể làm cho người đi vay chi tiêu

vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai.

Về phía nền kinh tế- xã hội

Nếu cho vay tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng hóa, dịch vụ

trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, nếu không được dùng đúng như vậy thì có thể làm giảm khả năng tiết

kiệm trong nước. Cho vay tiêu dùng mang lại những lợi ích sau:



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



14



- Đối với doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng kéo nhu cầu tương lai về hiện tại khiến

quy mô sản xuất tăng nhanh; mức độ đổi mới và phong phú về chất lượng ngày

càng lớn. Chính điều này đã làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối,

tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, đó chính là nền tảng của tăng trưởng

kinh tế.

- Cho vay tiêu dùng thúc đẩy thành phần tiêu dùng và do đó gia tăng cầu trong

nước, trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội; hạn chế sự phụ thuộc vào cầu nước

ngoài, do đó thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững hơn.

- Cho vay tiêu dùng góp phần xóa bỏ vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp- tiết kiệm ítsản lượng thấp.

- Cho vay tiêu dùng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và từ đó lại làm tăng

thu nhập, tạo khả năng tăng tiết kiệm, mở rộng cơ hội huy động vốn và phát triển

các dịch vụ ngân hàng của các tổ chức tín dụng.

Như vậy, cho vay tiêu dùng là hoạt động có lợi cho cả người cho vay, người đi

vay và nền kinh tế, hay nói cách khác là có lợi ích, vai trò quan trọng cho xã hội.

Chính vì vậy, phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng là một hướng đi đúng đắn của

các NHTM.

1.2.3 Phân loại cho vay tiêu dùng tại NHTM

1.2.3.1 Căn cứ vào mục đích cho vay tại NHTM



Theo tiêu chí này, cho vay tiêu dùng được phân thành:

Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua

sắm, xây dựng, cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình.

Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các

chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch.

1.2.3.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả tại NHTM



Theo căn cứ này, cho vay tiêu dùng bao gồm:

Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người

đi vay trả nợ (gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những thời hạn nhất định

trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường áp dụng với các khoản vay có giá



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



15



trị lớn, hoặc thu nhập từng định kì của khách hàng vay không đủ khả năng thanh

toán hết một lần số nợ vay.

Cho vay tiêu dùng phi trả góp: tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân

hàng một lần khi đáo hạn. Hình thức cho vay này chỉ phù hợp với những khoản cho

vay có giá trị nhỏ và thời gian ngắn.

Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân

hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại sec được phép

thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.

1.2.3.3 Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ tại NHTM



Theo căn cứ này, cho vay tiêu dùng được phân thành:

Tín dụng tiêu dùng trực tiếp: Gồm 2 phương thức :

- Tín dụng trả theo định kì: là phương thức trong đó khách hàng vay và trả trực tiếp

ngân hàng với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được quy định cụ thể khi cho vay.

Hình thức này tạo cho ngân hàng khả năng thanh khoản đều đặn và thích hợp với cá

nhân có thu nhập ổn định và đều đặn.

- Thẻ tín dụng: là nghiệp vụ tín dụng, trong đó ngân hàng phát hành thẻ cho những

người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mức giới hạn tín

dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng.

Tín dụng tiêu dùng gián tiếp

Đây được hiểu là các hoạt động tín dụng tiêu dùng qua việc ngân hàng mua các

khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho

người tiêu dùng và như vậy, nó chính là hình thức tài trợ bán trả góp của các

NHTM.

1.3 Phát triển cho vay tiêu dùng của NHTM

1.3.1 Khái niệm và mục tiêu của phát triển cho vay tiêu dùng đối với NHTM

1.3.1.1 Khái niệm phát triển cho vay tiêu dùng tại NHTM



Theo cách hiểu chung nhất, “phát triển” là sự gia tăng về mọi mặt của một chủ thể,

trong đó bao gồm sự tăng tiến cả về mặt chất và lượng. Như vậy, khi nói đến sự phát

triển cho vay tiêu dùng là nói đến sự gia tăng về số lượng và chất lượng của hoạt

động này của các NHTM. Gia tăng về số lượng gồm các chỉ tiêu cụ thể như doanh số



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



16



cho vay, dư nợ cho vay, số lượng hợp đồng tín dụng. Sự gia tăng về chất lượng cho

vay tiêu dùng gồm các đại lượng như sự giảm của nợ quá hạn, nợ xấu và sự gia tăng

trong doanh số thu hồi nợ. Sự phát triển cho vay tiêu dùng của các NHTM do vậy

phải là sự gia tăng tổng hợp về chất và lượng, và khi phân tích hoạt động này phải đi

sâu vào phân tích các chỉ tiêu cụ thể phản ánh hai đại lượng này.



1.3.1.2 Mục tiêu của phát triển cho vay tiêu dùng tại NHTM



Mục tiêu tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu luôn là mục tiêu quan trọng nhất của

bất kì doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động kinh

doanh của ngân hàng rất đa dạng như nhận tiền gửi, tín dụng, thanh toán, cung cấp

dịch vụ cho khách hàng …, tất cả các hoạt động này đem lại thu nhập cho ngân

hàng. Cho vay tiêu dùng nằm trong hoạt động tín dụng, là một trong những hoạt

động chủ yếu của ngân hàng và mang lại thu nhập chính cho ngân hàng. Vì thế phát

triển cho vay tiêu dùng của NHTM qua gia tăng số lượng và chất lượng các khoản

vay phải làm gia tăng được doanh thu cho ngân hàng. Doanh thu sau khi trừ đi các

chi phí sẽ được lợi nhuận, lợi nhuận dùng để chia cổ tức và bổ sung vào nguồn vốn

kinh doanh của ngân hàng, qua đó làm tăng giá trị vốn chủ sở hữu.

Ngoài mục tiêu cuối cùng là gia tăng giá trị vốn chủ sở hữu, NHTM còn có

những mục tiêu trung gian khi thực hiện chiến lược phát triển cho vay tiêu dùng:



-



Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn

Tăng cường năng lực cạnh tranh

Phát triển mối quan hệ với khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân

Thực hiện vai trò của NHTM trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển cho vay tiêu dùng tại NHTM

1.3.2.1 Tốc độ tăng doanh số cho vay tiêu dùng tại NHTM

Doanh số cho vay tiêu dùng là tổng lượng tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay

trong thời gian nhất định, thường là một năm. Sự phát triển của cho vay tiêu dùng

được đo lường trên quy mô của doanh số cho vay tiêu dùng và sự gia tăng của nó

theo thời gian. Quy mô cho vay tiêu dùng càng lớn, tốc độ tăng doanh số càng cao

thì chứng tỏ hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng càng phát triển.



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



17



Tuy nhiên, doanh số cho vay tiêu dùng mới chỉ phản ánh sự phát triển về lượng,

chưa phản ánh được chất lượng của hoạt động này. Mục tiêu của ngân hàng là phải

thu được gốc và lãi của khoản vay, vì thế sự gia tăng của doanh số cho vay phải đi

kèm với sự tăng trưởng của doanh số thu hồi nợ. Doanh số thu hồi nợ phải có tốc độ

tăng tương đương hoặc lớn hơn tốc độ tăng của doanh số cho vay mới đảm bảo

được hiệu quả của cho vay tiêu dùng.

1.3.2.2 Tốc độ tăng dư nợ cho vay tiêu dùng tại NHTM



Dư nợ cho vay là số tiền khách hàng nợ ngân hàng tại một thời điểm, nó phản

ánh lượng tiền mà ngân hàng chưa thu hồi được.

Sự phát triển của dư nợ cho vay tiêu dùng có thể được phản ánh theo số tuyệt đối

hoặc tương đối. Tốc độ tăng tuyệt đối là sự gia tăng của dư nợ cho vay theo thời

gian, thường lấy chỉ tiêu dư nợ vào thời điểm cuối năm. Dư nợ cho vay tiêu dùng

càng tăng từ năm này qua năm khác, phản ánh sự phát triển về lượng của cho vay

tiêu dùng. Không chỉ đánh giá sự gia tăng dư nợ cho vay theo thời gian mà còn phải

xem xét nó trong mối tương quan với tổng dư nợ của cả ngân hàng tại thời điểm

phân tích. Nếu tốc độ tăng tổng dư nợ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của dư nợ cho

vay tiêu dùng chứng tỏ sự phát triển của hoạt động cho vay tiêu dùng chưa theo kịp

sự phát triển của các loại hình tín dụng khác. Vì vậy, khi đánh giá sự gia tăng của

dư nợ cho vay tiêu dùng phải đánh giá nó trong mối quan hệ với sự gia tăng của các

hoạt động khác của ngân hàng.

1.3.2.3 Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng tại NHTM



Nợ quá hạn là khoản nợ đến thời điểm hoàn trả của khách hàng mà ngân hàng

vẫn chưa thu hồi được, đây là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của ngân

hàng. Công thức:

Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ cho vay tiêu dùng

Khi ngân hàng chuyển nợ quá hạn nghĩa là rủi ro không thu hồi được nợ gốc và

lãi của ngân hàng đã tăng lên và có thể dẫn đến mất vốn. Nợ quá hạn nhiều phản

ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng không tốt, chứa đựng nhiều rủi ro trong hoạt

động kinh doanh. Ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ sự phát triển an toàn và



GVHD: ThS. Lê Đức Tố



SV: Hoàng Văn Thêm



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (48 trang)

×