1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Bảng 2.8: Dự phòng rủi ro tín dụng giai đoạn 2010-2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.67 MB, 59 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



34



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



minh những lý do xin gia hạn là không hợp lệ. Đồng thời lập thông báo gửi khách hàng,

bám sát nguồn thu để thu nợ.

 Đối với khoản nợ có dấu hiệu khó đòi: kiểm soát khách hàng, tận dụng các nguồn

thu, xử lý các tài sản đảm bảo tiền vay.

 Đối với các khoản nợ xấu không có khả năng thu hồi: sử dụng dự phòng RRTD

để bù đắp tồn thất hoặc chuyển qua công ty quản lý tài sản và khai thác nợ tiếp tục theo

dõi tìm biện pháp khắc phục.

1.4 Kết luận và phát hiện vấn đề nghiên cứu

1.4.1 Thành tựu và kết quả đạt được

Từ những kết quả đã đạt được ở trên ta thấy hoạt động cho vay của CN Đông Hà Nội

đã có những bước phát triển nhanh chóng. Dư nợ tín dụng liên tục tăng, số lượng khách

hàng quan hệ ngày càng tăng. Măc dù trong năm 2011 tỷ lệ nợ quá hạn( NQH) trên tổng

dư nợ tăng cao so với năm 2010, nhưng sang năm 2012, tỉ lệ NQH trên tổng dư nợ cho

vay giảm rõ rệt. Bên cạnh đó, Ngân hàng đã luôn duy trì một khoảng dự phòng để bù đắp

rủi ro. Nhìn chung công tác QTRRTD của CN đã có những thay đổi rõ rệt so với trước

đây, cụ thể là:

 Đội ngũ lãnh đạo ngân hàng có khả năng quản lý và hoạch định chính sách tốt.

Đội ngũ nhân viên đông đảo, còn trẻ cho nên rất năng động, nhanh nhạy, có khả năng

tiếp thu học hỏi điều mới.

 Nhờ những biện pháp QTRRTD hiện đại trong năm 2012, tỷ lệ nợ xấu trên tổng

dư nợ của ngân hàng tính theo tiêu chuẩn Việt Nam đã giảm. Xu hướng giảm nợ xấu là

một cố găng lớn của CN Đông Hà Nội trong việc nâng cao chất lượng tín dụng và ngăn

ngừa nợ xấu.

 Vietinbank - CN Đông Hà Nội đã đánh giá được tầm quan trọng của công tác

quản trị rủi ro tín dụng và đã tích cực thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao khả năng

phòng ngừa và phát hiện rủi ro tín dụng. CN đã xây dựng một chính sách cho vay tương

đối hợp lý, đảm bảo tính linh hoạt trong hoạt động thực tế, với các quy định chặt chẽ và

tăng cường khả năng kiểm soát những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, bảo đảm mục tiêu quản lý

rủi ro tín dụng.

 Vietinbank - CN Đông Hà Nội đang kiên quyết thực hiện các giải pháp đồng bộ

để giảm nợ xấu, thực hiện kiểm soát tín dụng chặt chẽ, chú trọng đến chất lượng hơn là

tăng trưởng dư nợ.

1.4.2 Các vấn đề tồn tại

 Chất lượng đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng nhu cầu hội nhập

SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



35



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên môn và đáp ứng

nhu cầu mới, có kinh nghiệm và năng lực điều hành xong vẫn còn chưa đáp ứng nhu cầu

hội nhập:

- Năng lực quản trị điều hành còn nhiều hạn chế: CBTD thiếu chủ động trong việc

mở rộng tìm kiếm khách hàng và dự án đề tài trợ vốn nhất là đối với DNVVN. Do mới

thực hiện cho vay trên cơ sở thương mại trong một thời gian ngắn và có nhiều sự thay đổi

về các quy định liên quan đến cho vay nên CBTD về cơ bản vẫn ở giai đoạn học hỏi. Hơn

nữa, sự tăng trưởng nhanh và mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực khác nhau, các khu vực

khác nhau, CBTD phải chịu khá nhiều áp lực, thậm chí vượt quá khả năng để đánh giá

chính xác khoản vay mới, theo dõi năng lực của khách hàng vay vốn cũng như khả năng

đáp ứng nhu cầu vay vốn của họ.

- Trình độ cán bộ nghiệp vụ còn nhiều hạn chế: Việc thẩm định công nghệ, thiết bị

máy móc của khách hàng và việc xác định mức kinh tế kỹ thuật dự án còn lúng tùng, gặp

khó khăn, thẩm định không chính xác do chưa am hiểu thị trường. Thêm vào đó là thẩm

định phương tiện kỹ thuật của những dự án đặc thù như thủy điện, xi măng, máy bay,

đóng tàu là vấn đề khó khăn đối với nhân viên tín dụng.

- Kiểm toán viên đôi khi còn thu thập và xử lý thông tin còn chưa chính xác, không

cập nhật được thường xuyên về các hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng. Bởi vậy, hoạt

động kiểm toán còn chưa phát huy lại hiệu quả như mong muốn. Một số CBTD sao lãng

trong việc kiểm tra vốn vay. Theo quy định thì trong vòng 5 ngày sau khi giải ngân bằng

tiền mặt, 10 ngày đối với hình thức chuyển khoản thì phải kiểm tra vốn vay nhưng thực tế

có sự chủ quan và quá tin tưởng vào uy tín của khách hàng nên chưa kiểm tra sát sao tình

hình thực tế sử dụng vốn vay và không giám sát được khách hàng.

 Tài sản bảo đảm khó trở thành nguồn thu nợ thứ 2

Thực tế, xử lý tài sản bảo đảm ở các ngân hàng hiện nay có 2 dạng thường gặp: tài

sản bảo đảm là động sản và bất động sản( BĐS). Với tài sản bảo đảm là động sản mà

không phải đăng ký quyền sở hữu (máy móc, dây chuyền sản xuất...), theo quy định hiện

hành chỉ cần căn cứ vào những thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà ngân hàng và

người vay đã ký kết, Ngân hàng được phép bán qua đấu giá, thu hồi vốn.

Nhưng với tài sản bảo đảm là BĐS, các tài sản này còn phải đăng ký quyền sở hữu

và liên quan đến phạm vi điều chỉnh nhiều bộ luật khác. Nếu khách hàng không chịu ký



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



36



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



vào hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho ngân hàng thì ngân hàng không bao giờ bán

được để thu hồi nợ.

 Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ



Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh

chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do

việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nhưng trong

thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của CN hầu như chỉ tồn tại trên hình thức.

Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe càng

lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ

xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi

tới.

 Công tác xử lý nợ xấu còn bất cập



Hiện tại CN chỉ mới áp dụng phương pháp truyền thống như: dùng dự phòng

RRTD, khai thác xử lý TSBĐ của khách hàng và bán nợ cho VietinBank AMC ( Công ty

TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản) để bù đắp cho tổn thất đã xảy ra.

Một số trường hợp, CN vẫn chưa quyết liệt trong việc khởi kiện, bán tài sản thu hồi

nợ vì việc kiện tụng sẽ tốn kém thời gian và tiền bạc trong khi sự hỗ trợ trong công tác

kiện tụng từ hội sở chính đối với CN còn nhiều hạn chế.

1.4.3 Nguyên nhân của các vấn đề tồn tại

 Điểm không phù hợp về quy định phân loại nợ và dự phòng rủi ro



Hiện tại đã có quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi( DPRR) ro theo

Quyết định 493/2005/QĐ NHNN ngày 22/01/2005 và đang dần đổi mới theo các chuẩn

mực quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm tồn tại:

Về chỉ tiêu phân loại nợ: mặc dù phân loại nợ theo 5 nhóm phù hợp với chuẩn quốc

tế nhưng tiêu chí phân loại còn dựa nhiều vào thời gian nợ quá hạn và chưa đánh giá tình

hình tài chính khách hàng.

Còn cơ sở tính DPRR: QĐ 493 đã tính đến giá trị TSBĐ trong công thức tính toán

cụ thể nhưng dự phòng cụ thể các nhóm nợ vẫn được tính theo tỷ lệ dự phòng cố định,

nghĩa là các khoản nợ thuộc cùng một nhóm thì áp dụng cùng một tỷ lệ trích dự phòng.

Đây là điểm “cứng nhắc” khiến dự phòng các khoản nợ chưa phản ánh đúng mức độ rủi

ro của nó.

SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



37



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



Một điểm bất cập nữa là thời điểm trích lập dự phòng cho quý IV dựa vào số dư

cuối ngày 30/11. Thực tế cho thấy, trong khoảng thời gian từ ngày 30/11 đến 31/12 thì

tình hình hoạt động kinh doanh có sự thay đổi khác biệt, và do đó số dự phòng tại ngày

30/11 sẽ không phản ánh đúng thực trạng chất lượng tín dụng trên BCTC. Còn một điểm

đáng nói nữa là cơ sở tính dự phòng chung theo Quy định 493 là 0,75 % tổng dư nợ từ

nhóm 1 đến nhóm 4, như vậy dư nợ các nhóm 2,3,4 được tính dự phòng 2 lần.

 Khó khăn trong thẩm định và đánh giá khách hàng



Việc thẩm định dự án, phương án kinh doanh chưa đạt kết quả chất lượng. Điều này

là do thiếu thông tin, thiếu thực tế, chưa có những đánh giá độc lập, nhiều hồ sơ thẩm

định còn mang tính sao chụp. Ngoài ra, hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách Nhà

Nước thường xuyên thay đổi, không minh bạch và không có tính dự báo cũng có thể gây

ra nhiều rủi ro cho dự án, khó khăn trong công tác rà soát của Ngân hàng( control).

 Xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng vẫn còn hạn chế



Hệ thống đinh giá nội bộ đang áp dụng hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc xếp hạng

phân loại khách hàng và nhóm nợ, chưa đánh giá hết RRTD của các khoản vay do hạn

chế trong cơ sở dữ liệu đầu vào( tính tin cậy BCTC thấp, các chỉ tiêu phi tài chính chưa

cụ thể, …). Do đó chưa xây dựng được mô hình thích hợp cho việc lượng hóa mức đổ rủi

ro của khách hàng như tổn thất ước tính của một khoản vay tương lai( về kỳ đáo hạn hiệu

dụng, xác xuất vỡ nợ,..).

 Công tác giám sát cho vay chưa hiệu quả



Trước áp lực chỉ tiêu kinh doanh nên việc kiểm tra, giám sát khoản cho vay chỉ thực

hiện chiếu lệ, chưa được xem trọng và thực thi một cách nghiêm túc trên thực tế. Có thể

lý giải cho vấn đề này như yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của nhân viên

tín dụng, do việc quản lý số lượng khách hàng quá đông đúc( đặc biệt là khách hàng cá

nhân), chưa sắp xếp khoa học thời gia bán hàng và kiểm soát khách hàng.

 Chất lượng thông tin trong phân tích tín dụng còn thiếu chính xác



Thông tin trong phân tích chủ yếu lấy từ CIC, từ các BCTC của khách hàng, các

nguồn thông tin không chính thức khác. Trên thực tế, thông tin khách hàng như năng lực

quản trị, điều hành của chủ doanh nghiệp không được đánh giá đúng thực chất, thông tin

về năng lực tài chính của doanh nghiệp chưa có cơ sở tin cậy, các thông tin trong hỗ trợ

trong thẩm định dự án, công nghệ máy móc thiết bị, TSBĐ cũng rất khó khăn để tìm

SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



38



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



kiếm.Hơn nữa Nhà nước chưa có quy định về việc minh bạch thông tin như buộc doanh

nghiệp phải kiểm toán BCTC đúng thời gian quy định và công khai thông tin tài chính

của họ. NHNN chưa có hình phạt, chế tài cụ thể nào đối với các NHTM trong việc chậm

trễ cung cấp thông tin về khách hàng vay vốn cho Trung tâm Thông tin Tín dụng( CIC)

của NHNH. Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay,

vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các

ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữ liệu của

CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời.

Chất lượng thông tin kém đã gây không ít khó khăn trong công tác thẩm định

khách hàng và dự án của họ, từ đó ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản trị rủi ro tín

dụng, thể hiện ở các mặt:

 Trong vấn đề kiểm toán BCTC thì số liệu kiểm toán còn nhiều mâu thuẫn, độ tin

cậy là chưa cao nên việc sử dụng chúng để chấm điểm xếp loại khách hàng hỗ trợ ra

quyết định tín dụng, giám sát khách hàng là không chính xác, dẫn tới những quyết định

gây rủi ro cho Ngân hàng. Nếu như nhất thiết yêu cầu khách hàng phải thực hiện kiểm

toán các BCTC thì mới cho vay thì rất có thể sẽ bị mất khách hàng.

 Trong quy định xếp loại khách hàng vay vốn của NHNN cũng như theo mô hinh

chấm điểm của CN thì CBTD phải đánh giá được năng lực quản trị của chủ doanh nghiệp

nhưng thực tế thông tin từ CIC chủ yếu là liệt kê bằng cấp của nhà quản trị. Với nguông

thông tin đầu vào như vậy, rõ ràng thông tin của khách hàng là chưa đẩy đủ và thiếu chất

lượng, không đánh giá đúng thực chất năng lực quản trị của khách hàng, thực tế cho thấy

năng lực này không chỉ thê hiện ở bằng cấp mà còn nhiều yếu tố khác.



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



39



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ RỦI

RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG

VIETINBANK - CN ĐÔNG HÀ NỘI

I.1 Mục tiêu phát triển của Ngân hàng Vietinbank - CN Đông Hà Nội

I.1.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng trong thời gian tới

Trong công tác tín dụng, CN đã thực hiện chấm điểm, đánh giá, xếp hạng tín dụng

khách hàng định kỳ, kiểm soát tốt rủi ro và nắm bắt thông tin thị trường, linh hoạt trong

cạnh tranh. Vì vậy chất lượng tín dụng được đảm bảo, tăng trưởng dư nợ lành mạnh. Đến

cuối tháng 4/2012, dư nợ đạt trên 1160 tỷ đồng. Nguồn vốn tín dụng của chi nhánh đã

đáp ứng tốt nhu cầu vốn phục vụ đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh dịch vụ của các

doanh nghiệp và mọi thành phần kinh tế trên địa bàn, từng bước góp phần đẩy nhanh quá

trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động, tăng thu nhập

cho doanh nghiệp.

Đặc biệt, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn hiện nay, thực

hiện chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ, CN đã tiến hành hỗ trợ cho các tổ chức,

cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh. Đến thời điểm hiện tại chi nhánh đã

cho vay hơn 230 tỷ đồng, trong đó dư nợ ngắn hạn là 200 tỷ đồng, dài hạn là 30 tỷ đồng.

Cùng với việc tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác huy động vốn và đầu

tư tín dụng, CN đã đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ như: chuyển tiền, tài trợ thương

mại, thu đổi ngoại tệ , thanh toán séc du lịch, cho vay du học, chi trả kiều hối, đại lý nhận

lệnh chứng khoán, các dịch vụ về thẻ … Đến thời điểm hiện tại, chi nhánh đã có 45 điểm

chấp nhận thẻ và 15 máy ATM, phát hành được 48000 thẻ E-Partner, góp phần tích cực

trong việc mang lại hiệu quả kinh doanh cho Chi nhánh.

I.1.2 Mục tiêu trong hoạt động kinh doanh



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



40



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



Với mục tiêu phấn đấu phát triển bền vững, chi nhánh đặc biệt coi trọng công tác

huy động nguồn vốn, đa dạng hoá các hình thức huy động như: tiết kiệm, kỳ phiếu,

chứng chỉ tiền gửi theo nhiều kỳ hạn với phương thức trả lãi và lãi suất phù hợp. Đồng

thời triển khai đồng bộ các giải pháp điều chỉnh lãi suất theo cung cầu thị trường, sản

phẩm tiền gửi rút vốn linh hoạt, chương trình khuyến mãi huy động vốn, tiếp thị, chăm

sóc khách hàng... Vì vậy nguồn vốn của chi nhánh luôn đạt mức tăng trưởng khá qua các

năm. Tính đến cuối tháng 6/2012, tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh đạt trên 200 tỷ

đồng, đạt 80% kế hoạch năm.

Bảng 3.1: Mục tiêu tăng trưởng chi nhánh năm 2013

Chỉ tiêu

Lợi nhuận trước thuế

Tổng tài sản

Dư nợ cho vay khách hàng

Huy động tiền gửi khách hàng



Năm 2013( tỷ đồng)

210 tỷ đồng

5000 tỷ đồng

3850 tỷ đồng

4510 tỷ đồng



Với phương châm “Hiệu quả kinh doanh của khách hàng là mục tiêu hoạt động của

ngân hàng”, CN Đông Hà Nội luôn sẵn sàng cung cấp sản phẩm tín dụng và dịch vụ ngân

hàng có chất lượng tốt nhất, nâng cao tiện ích các sản phẩm dịch vụ nhằm thoả mãn yêu

cầu đa dạng của khách hàng. Đây chính là nền tảng vững chắc cho chi nhánh trong cạnh

tranh, phát triển và chiếm lĩnh thị trường. Ngoài việc phát huy những sản phẩm hiện có,

CN đã chủ động tiếp thị, chăm sóc và tư vấn cho khách hàng, giúp khách hàng kinh

doanh có hiệu quả và quản lý an toàn vốn.

1.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của

Ngân hàng Vietinbank - Chi nhánh Đông Hà Nội

1.2.1 Nâng cao chất lượng nhân lực và sự phối hợp giữa các bộ phận

 Đào tạo bồi dưỡng, cập nhật kiến thức kinh doanh cơ bản theo cơ chế thị trường

cho nguồn cán bộ hiện có nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng phức tạp và chịu áp lực cạnh

tranh ngày càng lớn của môi trường kinh doanh.

 Chú trọng việc đào tạo kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý cho cán bộ quản lý cấp

trung và cấp cao nhằm tạo sự đột phá về tư duy và kỹ năng quản lý theo cơ chế thị

trường, tạo tiền đề cho việc triển khai các kế hoạch cải tổ, cải cách và chấp nhận sự thay

đổi ở các cấp điều hành và cấp thực hiện.

 Đa dạng hoá việc đào tạo các kỹ năng chuyên nghiệp cho đội ngũ giao dịch viên và

chuyên viên quan hệ khách hàng tại các phòng giao dịch nhằm tạo dựng phong cách kinh

SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Khóa luận tốt nghiệp



41



GVHD : GS.TS Đinh Văn Sơn



doanh hiện đại, đáp ứng yêu cầu và các phẩm chất cần có của mạng lưới bán lẻ. Coi trọng

việc đào tạo các kỹ năng mềm cho cán bộ tác nghiệp nhằm biến tiềm năng kiến thức thành

hiệu quả công việc và khai thác tối đa các nguồn lực hiện có trong các ngân hàng.

 Có chính sách khen thưởng cho các nhân viên tín dụng giỏi, có trình độ nghiệp

vụ tốt, có tinh thần trách nhiệm trong công việc nhằm động viên tinh thần, khuyến khích

CBTD tránh xảy ra rủi ro đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời cũng phải kiên quyết phê bình,

kỷ luật và cuối cùng là sa thải đối với những CBTD sa sút về phẩm chất hoặc không có

khả năng chuyên môn gây ảnh hưởng xấu đến công việc.

 Tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận trong chi nhánh

Sự phối hợp giữa các phòng ban nghiệp vụ: phòng quan hệ khách hàng với phòng

phân tích tín dụng, khối quyết định tín dụng. Hơn nữa là sự kết hợp chặt chẽ giữa các

nhân viên tín dụng trong chi nhánh và người có thẩm quyền liên quan.

1.2.2 Hoàn thiện mô hình kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Để công tác KTKSNB thực sự đi vào nề nếp và đạt được hiệu quả thiết thực, đáp

ứng yêu cầu quản lý, điều hành của toàn hệ thống, ngoài việc tăng cường nhận thức, trách

nhiệm của các nhà quản trị, điều hành trong củng cổ và phát triển hệ thống kiểm tra, kiểm

soát nội bộ theo Quyết định 36/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và công

văn 6267/CV về triển khai thực hiện Quy chế và hướng dẫn của Tổng Giám đốc

NHCTVN, cũng như việc tạo điều kiện về cơ sở vật chất, môi trường kiểm tra thuận lợi,

chế độ đãi ngộ hợp lý... Ban Lãnh đạo, Ban KTKSNB cần quan tâm một số vấn đề sau:

 Thường xuyên quán triệt tư tưởng, quan điểm của lãnh đạo NHCTVN: Bộ máy



kTKSNB là cánh tay nối dài của Tổng Giám đốc, giúp Tổng Giám đốc phát hiện, ngăn

ngừa kịp thời việc không tuân thủ quy trình, quy chế nội bộ có thể dẫn đến rủi ro để nâng

cao hiệu quả kinh doanh trong toàn hệ thống, vì “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

 Tăng cường công tác KTKSNB định kỳ và đột xuất, nhất là tổ chức các đợt

kiểm tra chéo để sớm phát hiện các dấu hiệu sai phạm và có hướng giải quyết dứt điểm,

không để kéo dài. Qua đó cán bộ kiểm tra có thể học tập kinh nghiệm lẫn nhau để nâng

cao nghiệp vụ và kỹ năng chuyên môn.

 Có kế hoạch bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ kiểm tra, bồi

dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng kiểm tra của từng người, giúp họ có đủ năng

lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.



SVTH: Nguyễn Hữu Thắng – 09D180049



Lớp: K45H1



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

×