1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.35 KB, 63 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



8



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



- Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng được cung cấp cho

các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hóa. Nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá

trình sản xuất kinh doanh để dự trữ nguyên vật liệu, chi phí sản xuất hoặc đáp ứng nhu

cầu thiếu vốn trong quan hệ thanh toán giữa các chủ thể kinh tế.

- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ

đời sống và thường được thu hồi dần từ nguồn thu nhập của cá nhân vay vốn.

Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:

- Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của chủ thể vay

vốn được bảo đảm bằng tài sản của chủ thể vay vốn, tài sản hình thành từ vốn vay

hoặc bảo đảm bằng uy tín và năng lực tài chính của bên thứ ba.

- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà theo đó ngân hàng

chủ động lựa chọn KH để cho vay trên cơ sở KH có tín nhiệm với ngân hàng, có năng

lực tài chính và có phương án, dự án khả thi có khả năng hoàn trả nợ vay.

Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn:

- Tín dụng vốn lưu động: được cung cấp để bổ sung vốn lưu động cho các thành

phần kinh tế, có quan hệ tín dụng với ngân hàng.

- Tín dụng vốn cố định: cho vay để hình thành nên tài sản cố định cho các thành

phần kinh tế, có quan hệ tín dụng với ngân hàng.

Theo phương thức cấp tín dụng:

- Chiết khấu thương phiếu: là việc NHTM sẽ đứng ra trả tiền trước cho KH. Số tiền

ngân hàng ứng trước phụ thuộc vào giá trị chứng từ, lãi suất chiết khấu, thời hạn chiết

khấu và lệ phí chiết khấu. Thực chất là ngân hàng đã bỏ tiền ra mua thương phiếu theo

một giá mà bao giờ cũng nhỏ hơn giá trị của thương phiếu (cho vay gián tiếp).

- Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho KH với cam kết KH phải hoàn trả cả gốc

và lãi trong khoảng thời gian đã xác định. Cho vay gồm các hình thức chủ yếu như :

thấu chi, cho vay trực tiếp (từng lần, theo hạn mức tín dụng), cho vay gián tiếp.

- Bảo lãnh (tái bảo lãnh): Bảo lãnh ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình

thức thư bảo lãnh về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho KH của ngân hàng

khi KH không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết.

- Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng bỏ tiền mua sắm tài sản cho KH thuê. Sau

một thời gian nhất định KH phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Tài sản cho thuê

thường là tài sản cố định. Vì vậy, cho thuê tài chính được xếp vào tín dụng trung dài

hạn.

1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tê

8



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp

-



9



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



Đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, là người trung gian điều hoà quan hệ

cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn

chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn : Ngân hàng ra đời gắn liền với sự vận động

trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Nền sản xuất hàng hoá phát triển

nhanh chóng đã thúc đẩy hàng hoá - tiền tệ ngày càng sâu sắc, phức tạp và bao trùm

lên mọi sinh hoạt kinh tế xã hội. Mặt khác, chính sản xuất và lưu thông hàng hoá ra

đời và được mở rộng xã kéo theo sự vận động vốn và là nền tảng tạo nên những tổ

chức kinh doanh tiền tệ đầu tiên mang những đặc trưng của một ngân hàng.

Vì vậy, chúng ta thấy rằng còn tồn tại quan hệ hàng hoá tiền tệ thì hoạt động tín

dụng không thể mất đi mà trái lại ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ. Bởi trong

nền kinh tế, tại một thời điểm tất yếu sẽ phát sinh hai loại nhu cầu là người thừa vốn

cho vay để hưởng lãi và người thiếu vốn đi vay để tiến hành sản xuất kinh doanh. Hai

loại nhu cầu này ngược nhau nhưng cũng chung một đối tượng đó là tiền, chung nhau

về tính tạm thời và cả hai bên đều thoả mãn nhu cầu và đều có lợi. Ngân hàng ra đời

với vai trò là nơi hiểu biết rõ nhất về tình hình cân đối giữa cung và cầu vốn trên thị

trường như thế nào.Và với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện

tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân

phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh



-



doanh...

Tạo ra nguôn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường liên

tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái ẩn xuất mở rộng, đầu

tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất : Hoạt động tín dụng ngân

hàng ra đời đã biến các phương tiện tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành những

phương tiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả, động viên nhanh chóng nguồn vật tư,

lao động và các nguồn lực sẵn có khác đưa vào sản xuất, phục vụ và thúc đẩy sản xuất

lưu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Mặt khác việc cung ứng

vốn một cách kịp thời của tín dụng ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu

động, vốn cố định của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên

tục tránh tình trạng ứ tắc, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn để ứng

dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản

xuất mở rộng từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triênr nhanh chóng.

9



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp

-



10



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



Thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế độ hoạch toán kinh tế :

Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức Ngân hàng huy

động vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần vốn để bổ

xung cho sản xuất kinh doanh. Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp phải

tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi.

Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn,

giảm chi phí, tăng vòng quay vốn... để tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh

nghiệp. Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vươn lên thông qua các hoạt động của

mình, một trong những hoạt động khá quan trọng là hạch toán kinh tế.

Quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lí đồng vốn sao cho có hiệu quả. Để

quản lí đồng vốn có hiệu quả thì hạch toán tinh tế phải giám sát chặt chẽ quá trình sử

dụng vốn để nó được sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cho doanh nghiệp. Điều

này đã thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn quá trình hạch toán của



-



đơn vị mình.

Tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại : Ngày nay sự phát

triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn luôn gắn quan hệ kinh tế với thị trường thế giới,

nền kinh tế “đóng” tự cung tự cấp trước đây nay đã nhường chỗ cho nền kinh tế “mở”

phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới.

Một quốc gia được gọi là phát triển thì trước hết phải có một nền kinh tế chính trị

ổn định, có vị thế trên thị trường quốc tế, có một lượng vốn lớn trong đó vốn dự trữ

ngoại tệ là rất quan trọng. Tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phương tiện

nối liền kinh tế các nước với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế như các hình

thức tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức cá nhân với chính phủ, giữa các cá

nhân với cá nhân...Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt động ngoại thương và số

thành viên tham dự hoạt động ngaỳ càng lớn làm cho nhu cầu về hoạt động tài chính

càng trở nên cần thiết. Vì vậy việc tạo điều kiện thuận lợi về tài chính là một công cụ

cạnh tranh có hiệu quả bên cạnh các yếu tố cạnh tranh khác như giá cả, chất lượng sản

phẩm, dịch vụ, thương mại... đã vượt ra khỏi phạm vi của một nước ra phạm vi của thế

giới có tác dụng thúc đẩy nền sản xuất mang tính quốc tế hoá, hình thành thị trường

khu vực và thị trường thế giới, tạo ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác và

cạnh tranh giữa các nước với nhau. Như vậy các hình thực thanh toán cũng sẽ đa dạng

hơn như thanh toán qua mạng SWIFT, thanh toán LC... mỗi hình thực thanh toán đòi

10



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



11



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



hỏi hình thức tín dụng phù hợp và đảm bảo cho nó an toàn và hiệu quả. Chất lượng của

hoạt động tín dụng ngoại thương là cơ sở để tạo lòng tin cho bạn hàng trong thương

mại, tạo điều kiện cho quá trình lưu thông hàng hoá, thắng trong cạnh tranh về thanh

toán sẽ dẫn tới thắng lợi của mọi cạnh tranh khác trọng hoạt động ngoại thương.

1.2. Rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Trong cuộc sống hằng ngày, trong lao động sản xuất kinh doanh có những sự cố bất

ngờ, ngẫu nhiên xảy ra không thể báo trước được, những tình huống bất ngờ như vậy

gọi là rủi ro. Khi nói đến rủi ro người ta thường nghĩ đến điều không tốt lành hoặc một

thiệt hại, tổn thất nào đó về vật chất hữu hình hoặc vô hình bất ngờ mang đến do

những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan gây nên.

- Rủi ro là sự việc ngoài ý muốn chủ quan của con người, đem lại những hậu quả

mà người ta không thể dự đoán được.

-



Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi

khi xảy ra, dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với

dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp



-



vụ tài chính nhất định.

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng và tổ chức

kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả. Việc hoàn trả nợ gốc trong tín dụng có nghĩa

là việc thực hiện được giá trị hàng hóa trên thị trường, còn việc hoàn trả được lãi vay

trong tín dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường. Do đó, có thể

xem RRTD cũng là rủi ro kinh doanh nhưng được xem xét dưới góc độ kinh doanh



-



ngân hàng.

RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất

trong hoạt động tín dụng do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện

nghĩa vụ của mình theo cam kết.

1.2.2 Nguyên nhân gây ra RRTD

1.2.2.1 Nguyên nhân khách quan

- Chính sách kinh tế của Nhà nước (như chính sách về tỷ giá, về lãi suất…) phải

thay đổi cho phù hợp với những biến động về kinh tế, chính trị trên thế giới vì nếu nền

kinh tế có biến động mà Nhà nước không có những chính sách điều hành đúng đắn và

kịp thời nhằm can thiệp vào nền kinh tế thì tình hình HĐKD của khách hàng gặp nhiều

11



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



12



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



khó khăn, dẫn đến khả năng trả nợ lãi và gốc cho ngân hàng bị hạn chế và nguy cơ xảy

ra RRTD là cao.

- Mặc dù luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn thi hành có quy định việc TCTD

có quyền xử lý TSĐB của khách hàng khi khách hàng không trả nợ vay nhưng vẫn còn

nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện. Thật vậy, TCTD không có chức năng trực

tiếp cưỡng chế mà phải thông qua Tòa án xử lý. Thời gian chờ Tòa án thụ lý hồ sơ là

cả một quá trình và việc tiến hành phát mãi, xử lý TSĐB vẫn còn nhiêu khê. Điều này

gây ra sự chậm trễ trong việc thu hồi nợ vay. Bởi thực tế, khi có RRTD xảy ra, TCTD

sẽ tiến hành thu hồi nợ bằng nhiều biện pháp và TSĐB là nguồn thu nợ hữu hiệu nhất

đối với các TCTD.

- Những khủng hoảng về kinh tế thế giới, kinh tế trong nước, biến động của thị

trường, tác động xấu đến hoạt động SX-KD của doanh nghiệp là nguyên nhân dẫn đến

tình trạng doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán nợ vay cho ngân hàng và

RRTD xảy ra.

- Thiên tai, những thay đổi bất thường về thời tiết, tác động xấu đến điều kiện SXKD của doanh nghiệp cũng là nguyên nhân gây ra RRTD cho ngân hàng. Bởi vì khi

doanh nghiệp bị khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai, thời tiết…dẫn đến khả năng trả



-



nợ của khách hàng bị hạn chế và nguy cơ mất vốn của ngân hàng là cao.

1.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan

 Từ phía khách hàng vay vốn

Khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh do trình độ và khả năng quản ly

còn yếu kém : Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở phương án sử dụng

vốn vay có hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế khi nhận được tiền vay, một số khách

hàng không sử dụng đúng mục đích như phương án đã lập ban đầu, mà đem số tiền đó



-



đầu tư vào các mục đích khác nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn.

Thiếu minh bạch và chính xác trong việc cung cấp các báo cáo tài chính : Phần lớn

các doanh nghiệp đều có hai đến ba báo cáo với số liệu khác nhau về tình hình tài

chính và kết quả kinh doanh, một báo cáo là để theo dõi tình hình hoạt động thực tế

của doanh nghiệp, một báo cáo là để nộp cho cơ quan thuế và báo cáo còn lại là để giải

trình cho ngân hàng khi có nhu cầu vay vốn. Hầu hết các số liệu trong báo cáo cung

cấp cho ngân hàng không còn tính trung thực, họ đưa ra những thông tin sai lệch nhằm

đảm bảo các điều kiện để được ngân hàng cấp tín dụng. Vì vậy, khi nhân viên ngân

12



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



13



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



hàng phân tích tình hình tài chính và kết quả kinh doanh dựa trên số liệu do các doanh

nghiệp này cung cấp thì sẽ không chính xác.

 Từ phía ngân hàng

- Chính sách tín dụng của ngân hàng : Trình độ, năng lực chuyên môn của một

số nhân viên làm công tác tín dụng còn hạn chế nên đã làm ảnh hưởng đến việc đánh

giá đúng tình hình hoạt động của khách hàng. Từ đó, không phân tích được các báo

cáo tài chính với kết quả chuẩn xác, không phát hiện ra được những số liệu không phù

hợp với tình hình thực tiễn của doanh nghiệp, không am hiểu về thị trường, thiếu

thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp

lý.

- Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ ngân hàng còn hạn chế : Bộ phận kiểm

tra, kiểm soát nội bộ ngân hàng có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi, kiểm tra và giám

sát các khoản vay nhằm kịp thời phát hiện ra những sai sót và những vấn đề bất hợp lý

có thể sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, để có những giải pháp xử lý kịp thời, hạn chế

rủi ro xảy ra. Tuy nhiên, trên thực tế, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu

như chỉ tồn tại dưới dạng hình thức, công tác kiểm tra, kiểm soát chưa được quan tâm

đúng mức. Vì vậy, kiểm tra kiểm soát nội bộ cần phải được xem như một công cụ hữu

hiệu trong vấn đề phát hiện, phòng ngừa RRTD.

- Thiếu giám sát và quản ly sau khi cho vay : Các ngân hàng thường có thói

quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà không chú

trọng trong quá trình kiểm tra, kiểm soát vốn sau khi cho vay. Khi ngân hàng cho vay

thì khoản cho vay cần phải được theo dõi và giám sát việc sử dụng vốn vay nhằm đảm

bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích với phương án vay ban đầu. Tuy nhiên, trong

thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này một phần là do yếu

tố tâm lý sợ gây phiền hà cho khách hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý

phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời,

đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu.

- Đạo đức nghề nghiệp của một số nhân viên ngân hàng : Lĩnh vực tín dụng

ngân hàng là một lĩnh vực rất nhạy cảm, nhân viên ngân hang rất dễ bị cám dỗ bởi

những cái lợi trước mắt mà người vay đem đến và sẽ cực kỳ nguy hiểm khi cán bộ

ngân hàng bị tha hóa, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, bất chấp pháp luật, cố tình không

tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay, không thực

13



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



14



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết, không đảm bảo các nguyên tắc cần thiết của

TSĐB… Thực tế, đã có nhiều trường hợp xảy ra là nhân viên ngân hàng tiếp tay với

khách hàng làm giả hồ sơ vay, định giá TSĐB lên quá cao so với giá trị trên thị trường

để rút tiền ngân hàng nhiều.

1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng đên hoạt động của Ngân hàng và nền kinh tê xa

hội

RRTD luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đã gây ra những

hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội của quốc gia,

và lan rộng trên phạm vi toàn cầu.

1.2.3.1 Tác động đến hoạt động của Ngân hàng

-



Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay,

nhưng vẫn phải trả lãi cho người gửi tiền khi đến hạn, gây mất cân đối thu chi, vòng



-



quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí tăng.

Từ đó, bắt buộc phải thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín,

sức cạnh tranh giảm không những đối với thị trường nội địa mà còn lan rộng sang các

nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn đến thua lỗ hoặc

đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.

1.2.3.2 Tác động đến nền kinh tế xã hội



-



Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, có chức năng huy động vốn nhàn rỗi để

cho vay lại, nên khi có RRTD xảy ra thì chẳng những ngân hàng bị thiệt mà quyền lợi

của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Vả lại, khi một ngân hàng gặp phải RRTD sẽ có



-



tác động dây chuyền, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn.

Khi uy tín của ngân hàng giảm sút, hệ thống ngân hàng không còn khả năng thực hiện

chức năng trung gian tài chính thì sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp, dẫn đến thất nghiệp. Hơn nữa, sự đổ vỡ của ngân hàng sẽ ảnh hưởng rất

lớn đến toàn bộ nền kinh tế, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua

giảm, thất nghiệp và xã hội mất ổn định, …

Tóm lại, RRTD của ngân hàng xảy ra ở những mức độ khác nhau. Nếu kéo dài

ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ

thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết



14



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



15



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong khi cấp

tín dụng.

1.3 Quản trị rủi ro tín dụng

1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ

thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát,



-



những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro.

Nhiệm vụ của công tác quản trị rủi ro

Hoạch định phương hướng, kế hoạch phòng chống rủi ro. Dự đoán rủi ro có thể xảy ra

đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân và hậu quả ra sao, … Đồng thời, tổ chức

phòng chống rủi ro một cách khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt



-



được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể đạt được.

Xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống rủi ro, phân

quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật

phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một cách



-



nghiêm túc.

Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng chống rủi ro

đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao dịch, trên cơ

sở đó kiến nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản

trị rủi ro.

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các

chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu

quả và phát triển bền vững. Đồng thời phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn

chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu,

giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh trong cả ngắn

hạn và dài hạn của NHTM.

1



Quy trình của quản trị RRTD



1.3.2.1 Giám sát RRTD

Giám sát rủi ro bao gồm các công việc như: giám sát thực tiễn sản xuất kinh

doanh cuả khách hàng và việc thực hiện các điều khoản đã có trong hợp đồng tín dụng

ký với khách hàng. Việc giám sát nhằm phát hiện ra các đấu hiệu rủi ro thực tiễn,

15



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



16



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



những biến động xấu trong sản xuất kinh doanh của khách hàng để từ đó xác định rủi

ro tiềm tàng và có các biện pháp sử lý kịp thời. Phương pháp giám sát rất đa dạng, sau

đây là một số phương pháp thường dùng trong ngân hàng:

* Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng

Sự thay đổi số dư, số phát sinh trong tài khoản tiền gửi và tiền vay của khách

hàng phản ánh tình hình tiêu thụ sản phẩm, lưu chuyển tiền tệ, sử dụng vốn vay và trả

nợ. Sự biến đổi bất thường trong tài khoản phản ánh những khó khăn trong quản trị tài

chính của khách hàng, dẫn tới khó khăn trong chi trả của khách hàng.

* Phân tích báo cáo tài chính định kỳ

Kết quả phân tích sẽ cho thấy những biểu hiện làm giảm khả năng hoàn trả nợ

hay biểu hiện vi phạm hợp đồng cuat khách hàng

* Kiểm tra các bảo đảm tiền vay

Thông qua các báo cáo thường kỳ về tình trạng tài sản đảm bảo hoặc kiểm tra

trực tiếp tại chỗ của khách hàng. Đối với tài sản thế chấp ngân hàng còn cần xem xét

việc sử dụng tài sản có hợp lý đúng như cam kết hay không. Còn với đảm bảo bằng

bảo lãnh cần xem xét nội dung giám sát người bảo lãnh cũng như đối với khách hàng

đi vay.

* Giám sát những thông tin khác

Ngoài ra cần kiểm tra địa điểm cư trú, nơi sản xuất kinh doanh, thông tin từ các

phương tiện thông tin đại chúng.

1.3.2.2 Đo lường RRTD

(1) Theo QĐ 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc

Ngân hàng Nhà Nước, TCTD thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm như sau:

* Nhóm 1: ( Nợ đủ tiêu chuẩn ) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn và các tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu

hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn.

- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả

năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn

còn lại.

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định.

* Nhóm 2 (Nợ cần chú ý ) bao gồm:

16



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (63 trang)

×