1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH NAM THĂNG LONG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.35 KB, 63 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



46



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



3.1 Các kết luận và phát hiên qua nghiên cứu hoạt động Quản trị RRTD tại

chi nhánh Nam Thăng Long

3.1.1 Các kêt quả đạt được



-



Có thể tổng kết một số thay đổi cơ bản trong Quản trị RRTD hiện nay tại Chi

nhánh Nam Thăng Long như sau:

Hoàn thiện bộ máy quản trị RRTD với sự phân cấp rõ ràng về hạn mức phán quyết,

chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, xây dựng các chính sách quản trị RRTD, chính



-



sách phân bổ tín dụng, chính sách khách hàng, xây dựng danh mục đầu tư, …

Chia bộ phận tín dụng trước đây thành các bộ phận chuyên trách khác nhau như Quan

hệ khách hàng, Quản lý RRTD, Bộ phận tác nghiệp nhằm đảm bảo tính khách quan



-



trong hoạt động cấp tín dụng.

Hệ thống thông tin tín dụng ngày càng hoàn thiện, Chi nhánh Nam Thăng Long đã

thực hiện việc cung cấp thông tin, chuyên đề phân tích ngành thường xuyên cho các

đơn vị trực thuộc để tăng khả năng nắm bắt thông tin và sử dụng hiệu quả trong công

tác thẩm định tín dụng.

3.1.2 Những điểm còn hạn chê và nguyên nhân



Hạn chế

- Công tác thẩm định cho vay, thẩm định tài sản đảm bảo, thẩm định rủi ro

tín dụng độc lập còn một số hạn chế.

- Thông tin được thu thập chưa đầy đủ và chính xác.

- Tài sản thế chấp được xem trọng hơn hiệu quả của phương án vay vốn.

- Việc kiểm tra, giám sát khoản vay chưa thường xuyên và còn mang tính

hình thức.

- Năng lực của bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ ngân hàng còn hạn chế

- Công tác đào tạo cán bộ chưa được quan tâm đúng mức.

 Nguyên nhân





Có thế tóm tắt một số nguyên nhân điển hình như sau :

- Chính sách tín dụng thay đổi liên tục trong giai đoạn 2010 – 2012

- Quy trình tín dụng chặt chẽ, tuy nhiên thiếu sự theo dõi, giám sát sự tuân thủ quy

trình tín dụng đã đưa ra; Thiếu giám sát và quản lý sau cho vay.

- Công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ chưa hiệu quả

- Yếu tố con người: cán bộ tín dụng yếu nghiệp vụ, thiếu tư cách đạo đức, …

- Và một số nguyên nhân khác từ phía khách hàng vay, từ môi trường bên ngoài: sự

không ổn định của nền kinh tế, hệ quả tất yếu của tự do hóa tài chính ảnh hưởng đến

các khách hàng của NH, môi trường pháp lý còn nhiều bất cập, …

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



47



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công

Thương – chi nhánh Nam Thăng Long

3.2.1 Hoàn thiện việc chuyển đổi mô hình quản trị rủi ro tín dụng

Thực tế, việc thẩm định RRTD giữa phòng QLRRTD và phòng khách hàng đôi khi

vẫn còn thực hiện một cách hình thức, có một số kết quả thẩm định chưa thực sự độc

lập. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân gây ra RRTD cho ngân hàng. Vì

vậy, đề xuất Chi nhánh sớm hoàn thiện việc chuyển đổi mô hình QTRRTD mới theo

hướng tách bộ phận quan hệ khách hàng ra khỏi bộ phận thẩm định tín dụng, nhằm

đảm bảo tính độc lập giữa khâu tiếp thị và khâu thẩm định xét duyệt hồ sơ cho vay

theo thông lệ quốc tế, giúp cho các quyết định cho vay mang tính khách quan hơn,

cũng như nhờ sự chuyên môn hóa sâu hơn theo chức năng mà việc thực hiện phân tích

và phản biện tín dụng sâu sắc và chính xác hơn, giúp nhận dạng các rủi ro tiềm năng

và có các biện pháp phòng ngừa thích hợp… Thêm vào đó, chính sự giám sát của bộ

phận QLRRTD đối với quan hệ khách hàng trong quá trình thực hiện các quyết định

cấp tín dụng đã tạo nên cơ chế kiểm tra và giám sát liên tục.

Mô hình QTRRTD mới gồm các phòng ban với chức năng và nhiệm vụ như sau:

- Phòng khách hàng: Có chức năng và nhiệm vụ là trực tiếp tư vấn và bán các sản

phẩm, dịch vụ của ngân hàng; đi tìm kiếm, tiếp thị và chăm sóc khách hàng; thực hiện

giải ngân, theo dõi, quản lý nợ, đôn đốc thu hồi nợ… Nghĩa là khi cán bộ phòng khách

hàng đã khởi tạo được mối quan hệ tín dụng với khách hàng thì tiếp nhận hồ sơ đầy đủ

theo quy định hiện hành, sau đó sẽ chuyển giao toàn bộ hồ sơ của khách hàng sang

phòng QLRRTD để tiến hành thẩm định khách hàng.

- Phòng QLRRTD: Bao gồm 2 bộ phận đó là bộ phận thẩm định tín dụng và bộ phận

QLRRTD. Cụ thể:

• Bộ phận thẩm định tín dụng: Có chức năng và nhiệm vụ thẩm định tư cách khách

hàng, thẩm định tình hình tài chính, thẩm định hiệu quả của phương án vay, thẩm định

TSĐB và đề xuất cấp tín dụng cho khách hàng.

• Bộ phận QLRRTD: Có chức năng và nhiệm vụ thẩm định tín dụng độc lập; quản

lý giám sát thực hiện danh mục cho vay, TSĐB; đề xuất tăng trưởng/hạn chế tín dụng

theo nhóm khách hàng liên quan, ngành nghề, khu vực kinh tế; rà soát chấm điểm xếp

hạng tín dụng; kiểm tra việc hoàn thiện hồ sơ tín dụng và việc nhập dữ liệu vào hệ

thống…

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



48



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



- Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ: Có chức năng và nhiệm vụ kiểm tra giám sát

mọi HĐKD của ngân hàng; giám sát sự tuân thủ chế độ, quy trình, quy định cho vay

hiện hành… để từ đó có những biện pháp ngăn ngừa RRTD xảy ra.

3.2.2 Nâng cao chất lượng thẩm định và thực hiện quy trình cho vay chặt chẽ

RRTD bắt đầu từ những kết quả phân tích, thẩm định tín dụng không cẩn trọng,

thiếu chính xác của các cán bộ thẩm định và không tuân thủ các quy định cho vay nên

đã dẫn đến những quyết định cho vay sai lầm. Vì vậy, để hạn chế được RRTD với hiệu

quả cao nhất, ít tổn thất nhất thì đòi hỏi cán bộ thẩm định thực hiện công tác phân tích

và thẩm định khách hàng thật tốt, phản ánh đúng bản chất về tình hình tài chính cũng

như hoạt động của khách hàng, tuân thủ các quy định cho vay.

Để giải quyết các đòi hỏi này thì Chi nhánh cần phải thực hiện phân tích và thẩm

định chính xác rủi ro tổng thể của khách hàng thông qua việc xác định GHTD theo

định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm. Công việc này sẽ giúp cho ngân hàng có cái nhìn tổng thể

về tình hình tài chính, chất lượng kinh doanh và đánh giá triển vọng phát triển của

khách hàng, để từ đó nhận thấy được những rủi ro của khách hàng, định ra một GHTD

hợp lý, nằm trong giới hạn chịu nợ của khách hàng đối với chi nhánh.

Để thực hiện tốt yêu cầu này, cần chú trọng đến phân tích định lượng, lượng hóa

mức độ rủi ro của khách hàng qua đánh giá các số liệu, đồng thời kết hợp với phân tích

định tính (phân tích môi trường vĩ mô, vi mô, môi trường nội bộ của doanh nghiệp,

lịch sử quan hệ tín dụng với Chi nhánh…) để nhận ra những rủi ro tiềm tàng và khả

năng kiểm soát, hạn chế những rủi ro cho Chi nhánh. Hệ thống này cần được thường

xuyên điều chỉnh cho phù hợp với thực tế và điều kiện kinh tế Việt Nam, không nên

cứng nhắc theo những tính toán của các nước có điều kiện không tương đồng. Thông

qua việc sử dụng các mô hình định lượng, mức độ rủi ro sẽ được lượng hóa hợp lý,

phản ánh một cách rõ ràng hơn mức độ rủi ro của các khoản vay dự kiến và xây dựng

những biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trước khi cấp tín dụng với khách hàng.

Cần phối kết hợp chặt chẽ các điều kiện tín dụng trong hợp đồng tín dụng như lãi

suất, tỷ lệ vốn tự có tham gia phương án, các TSĐB… để đảm bảo lợi ích thu được

phải tương xứng với mức độ rủi ro. Các khách hàng có mức độ xếp hạng tín dụng càng

thấp thì cần nâng tỷ lệ tham gia của vốn tự có, cần lựa chọn những TSĐB có tính

thanh khoản cao… Các điều kiện pháp lý trong hợp đồng tín dụng càng chặt chẽ, càng



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



49



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



đảm bảo các quyền lợi của ngân hàng khi có rủi ro xảy ra, đồng thời nâng cao trách

nhiệm của khách hàng trong sử dụng vốn vay và hạn chế rủi ro xảy ra.

Mặt khác, trên cơ sở quy trình cho vay đã có, đòi hỏi tất cả cán bộ làm công tác

tín dụng phải thực hiện chặt chẽ khi giải quyết hồ sơ tín dụng cho khách hàng. Nhưng

thực tế, để giải quyết hồ sơ nhanh và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, một số

CBTD đã thực hiện thẩm định qua loa, giải quyết cho vay trước rồi hoàn chỉnh hồ sơ

tín dụng sau. Điều này dẫn đến việc CBTD sẽ không nhìn thấy được những rủi ro tiềm

ẩn của khoản vay và có nguy cơ giải quyết sai lầm làm ảnh hưởng đến chất lượng tín

dụng. Và trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ tín dụng, CBTD mới phát hiện những chỗ

không phù hợp hoặc không đủ điều kiện để cấp tín dụng thì khả năng thu hồi lại số

tiền cho vay là rất khó, nguy cơ gây ra tổn thất về đồng vốn của ngân hàng là rất cao.

Vì vậy, đòi hỏi CBTD khi giải quyết cho vay cần phải thực hiện chặt chẽ quy trình cho

vay hiện hành của Chi nhánh để hạn chế tối đa những RRTD có thể xảy ra.

3.2.3 Thực hiện tốt việc cập nhật và quản lý thông tin khoản vay trên hệ thống dữ

liệu

Hiện tại, việc cập nhật và quản lý thông tin trên hệ thống dữ liệu đã được thực hiện

theo quy định hiện hành. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại trường hợp một số nhân viên ngân

hàng vì chỉ tiêu kinh doanh, chỉ tiêu thi đua nên đã vào hệ thống dữ liệu điều chỉnh

ngày trả nợ lãi, nợ gốc của khoản vay thêm một thời gian ngắn, điều này làm ảnh

hưởng đến việc phân loại nợ và phản ánh không đúng tính chất nợ của khoản vay. Vì

vậy, đề nghị các ngân hàng phải thực hiện nghiêm các quy định hiện hành, kiên quyết

chuyển nợ quá hạn đối với các trường hợp vi phạm hợp đồng tín dụng, có nguy cơ gây

ra RRTD và thực hiện trích lập dự phòng theo quy định nhằm bù đắp tổn thất khi

RRTD xảy ra.

3.2.4 Hoàn thiện quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Hiện nay, Chi nhánh đang thực hiện việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

theo Quyết định số 493 và các văn bản sửa đổi bổ sung Quyết định số 493. Tuy nhiên,

qua kết quả rà soát danh mục tín dụng của Công ty kiểm toán quốc tế E&Y đã cho

thấy tỷ lệ nợ nhóm 2 và nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cao hơn

nhiều so với tỷ lệ nợ nhóm 2 và nợ xấu theo quy định hiện hành của NHNN, nhiều

khoản nợ được phân loại vào nhóm 1, nhóm 2 theo NHNN nhưng theo Công ty tài

chính quốc tế thì lại bị phân loại vào nợ xấu, vì vậy nếu thực hiện phân loại theo chuẩn

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



50



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



quốc tế thì tỷ lệ nợ xấu tăng lên, đồng nghĩa với việc ngân hàng phải trích lập dự

phòng tăng, ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng.

Mặt khác, do không có quy định cũng như hướng dẫn cụ thể của NHNN về cách

xếp hạng tín dụng nội bộ, các ngân hàng đã tự xây dựng hệ thống này theo cách riêng

của mình. Điều này tạo sự không thống nhất trong quản lý chất lượng tín dụng giữa

các ngân hàng, khiến NHNN gặp khó khăn trong quản lý.

Vì vậy, đề xuất NHNN sớm ban hành thông tư mới về việc Phân loại nợ và trích

dự phòng rủi ro theo chuẩn quốc tế để thay thế cho Quyết định số 493 và các văn bản

sửa đổi bổ sung Quyết định 493, nhằm kiểm soát chất lượng hoạt động tín dụng, quy

định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng, quy định về thông tin tín

dụng. Đồng thời, giúp cho các ngân hàng đưa các khoản nợ xấu ra ánh sáng đúng với

bản chất thực của khoản nợ, trên thực tế những khoản nợ xấu được định dạng lại, bộc

lộ rõ hơn thì tỷ lệ nợ xấu tăng, nhưng không có nghĩa là ngân hàng hoạt động yếu đi,

mà là ngân hàng đang tự giúp mình khoẻ mạnh hơn trong tương lai.

3.2.5 Hạn chê việc quan trọng hóa tài sản đảm bảo, quan tâm hơn nữa việc sử

dụng công cụ bảo hiểm

Khi giải quyết hồ sơ vay vốn, TSTC là điều kiện cần phải có (ngoại trừ trường hợp

cho vay tín chấp), nhưng thực tế đã có trường hợp do quan điểm sai lầm của một số

cán bộ ngân hàng là đã xem TSĐB là nguồn thu nợ chính yếu khi có RRTD xảy ra,

nên đã định giá TSĐB quá cao so với giá trị thực trên thị trường, vì vậy khi có RRTD

xảy ra, thời gian chờ xử lý TSĐB để thu hồi nợ kéo dài và giá trị TSĐB sau khi xử lý

vẫn không hồi thu đủ nợ của ngân hàng. Vì vậy, để hạn chế những tổn thất khi RRTD

xảy ra, đề xuất phải sớm có những quy định cụ thể về việc xử phạt đối với trường hợp

định giá TSĐB quá cao so với giá thị trường (không có cơ sở định giá) của các ngân

hàng.

Bên cạnh đó, đề xuất ngân hàng phải quan tâm hơn nữa việc sử dụng công cụ bảo

hiểm. Cụ thể, ngân hàng cần phải yêu cầu khách hàng vay mua bảo hiểm trong quá

trình xây dựng và bảo hiểm công trình (đối với các dự án đầu tư), bảo hiểm đối với

TSĐB, bảo hiểm hàng hóa và cả việc mua bảo hiểm cho đối tượng vay vốn… Bởi lẽ,

khi có RRTD xảy ra, chẳng hạn do nguyên nhân cháy nổ, thiên tai… gây ra thì ngân

hàng vẫn còn có nguồn bồi thường thiệt hại từ công ty bảo hiểm để thu hồi nợ lãi vay

và nợ gốc nhằm hạn chế tối đa những tổn thất có thể xảy ra.

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



51



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



3.2.6 Nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát khoản vay

Trên thực tế, nguyên nhân để RRTD xảy ra không phải tất cả đều do phương án vay

vốn kém hiệu quả hay do khách hàng vay sử dụng vốn sai mục đích mà còn do CBTD

không thực hiện việc kiểm tra giám sát khoản vay chặt chẽ và thường xuyên, dẫn đến

việc ngân hàng không kiểm soát được dòng tiền sau khi khách hàng kết thúc phương

án kinh doanh, cũng như không phát hiện kịp thời việc khách hàng có thể dùng nguồn

tiền này để đầu tư vào các mục đích khác kém hiệu quả hay không minh bạch... Vì

vậy, để phòng ngừa RRTD xảy ra, đề nghị các CBTD phải thực hiện công việc kiểm

tra giám sát khoản vay một cách chặt chẽ và thường xuyên. Cụ thể:

• Khi thực hiện giải ngân, CBTD cần phải xem xét tính hợp lý giữa mục đích vay

vốn, yêu cầu giải ngân và cơ cấu các khoản chi phí trong nhu cầu vốn của khách hàng;

đảm bảo việc giải ngân phải có đầy đủ chứng từ chứng minh và hợp lệ. Hạn chế giải

ngân bằng tiền mặt trừ những trường hợp kinh doanh đặc thù như chi trả lương công

nhân viên, thanh toán tiền hàng cho người dân hay thanh toán cho những cơ sở kinh

doanh nhỏ lẻ… khuyến khích khách hàng nhận nợ vay bằng hình thức chuyển khoản

để việc kiểm soát mục đích sử dụng tiền vay của khách hàng được dễ dàng hơn.

• Phải có kế hoạch định kỳ đi kiểm tra tình hình hoạt động thực tế đối với từng

khách hàng vay (tùy thuộc vào kết quả xếp hạng nội bộ, uy tín của khách hang trong

quan hệ tín dụng…).

• Thực hiện kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng phải dựa trên số liệu

thực tế và các chứng từ gốc chứng minh hợp lệ.

• Biên bản kiểm tra sử dụng vốn vay phải thể hiện đầy đủ các thông tin về tình hình

tài chính, tình hình HĐKD, hàng tồn kho, công nợ của khách hàng, hiện trạng và giá

trị TSĐB tại thời điểm kiểm tra… Để có thể đánh giá chính xác hiệu quả của việc sử

dụng vốn vay. Đồng thời phát hiện kịp thời những rủi ro có thể xảy ra, từ đó có những

biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời, tránh tình trạng thực hiện kiểm tra mục đích

sử dụng vốn vay mang tính đối phó, qua loa.

• Cần có sự phân tích và đánh giá kịp thời những dấu hiệu của RRTD như khi khách

hàng vay thường xuyên chậm trả lãi, trả gốc, sự thay đổi của môi trường kinh doanh,

tình hình thị trường ảnh hưởng xấu đến phương án kinh doanh … để có những biện

pháp xử lý chủ động và kịp thời khi RRTD có nguy cơ xảy ra.

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (63 trang)

×