1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công Thương – chi nhánh Nam Thăng Long

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.35 KB, 63 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



48



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



- Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ: Có chức năng và nhiệm vụ kiểm tra giám sát

mọi HĐKD của ngân hàng; giám sát sự tuân thủ chế độ, quy trình, quy định cho vay

hiện hành… để từ đó có những biện pháp ngăn ngừa RRTD xảy ra.

3.2.2 Nâng cao chất lượng thẩm định và thực hiện quy trình cho vay chặt chẽ

RRTD bắt đầu từ những kết quả phân tích, thẩm định tín dụng không cẩn trọng,

thiếu chính xác của các cán bộ thẩm định và không tuân thủ các quy định cho vay nên

đã dẫn đến những quyết định cho vay sai lầm. Vì vậy, để hạn chế được RRTD với hiệu

quả cao nhất, ít tổn thất nhất thì đòi hỏi cán bộ thẩm định thực hiện công tác phân tích

và thẩm định khách hàng thật tốt, phản ánh đúng bản chất về tình hình tài chính cũng

như hoạt động của khách hàng, tuân thủ các quy định cho vay.

Để giải quyết các đòi hỏi này thì Chi nhánh cần phải thực hiện phân tích và thẩm

định chính xác rủi ro tổng thể của khách hàng thông qua việc xác định GHTD theo

định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm. Công việc này sẽ giúp cho ngân hàng có cái nhìn tổng thể

về tình hình tài chính, chất lượng kinh doanh và đánh giá triển vọng phát triển của

khách hàng, để từ đó nhận thấy được những rủi ro của khách hàng, định ra một GHTD

hợp lý, nằm trong giới hạn chịu nợ của khách hàng đối với chi nhánh.

Để thực hiện tốt yêu cầu này, cần chú trọng đến phân tích định lượng, lượng hóa

mức độ rủi ro của khách hàng qua đánh giá các số liệu, đồng thời kết hợp với phân tích

định tính (phân tích môi trường vĩ mô, vi mô, môi trường nội bộ của doanh nghiệp,

lịch sử quan hệ tín dụng với Chi nhánh…) để nhận ra những rủi ro tiềm tàng và khả

năng kiểm soát, hạn chế những rủi ro cho Chi nhánh. Hệ thống này cần được thường

xuyên điều chỉnh cho phù hợp với thực tế và điều kiện kinh tế Việt Nam, không nên

cứng nhắc theo những tính toán của các nước có điều kiện không tương đồng. Thông

qua việc sử dụng các mô hình định lượng, mức độ rủi ro sẽ được lượng hóa hợp lý,

phản ánh một cách rõ ràng hơn mức độ rủi ro của các khoản vay dự kiến và xây dựng

những biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trước khi cấp tín dụng với khách hàng.

Cần phối kết hợp chặt chẽ các điều kiện tín dụng trong hợp đồng tín dụng như lãi

suất, tỷ lệ vốn tự có tham gia phương án, các TSĐB… để đảm bảo lợi ích thu được

phải tương xứng với mức độ rủi ro. Các khách hàng có mức độ xếp hạng tín dụng càng

thấp thì cần nâng tỷ lệ tham gia của vốn tự có, cần lựa chọn những TSĐB có tính

thanh khoản cao… Các điều kiện pháp lý trong hợp đồng tín dụng càng chặt chẽ, càng



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



49



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



đảm bảo các quyền lợi của ngân hàng khi có rủi ro xảy ra, đồng thời nâng cao trách

nhiệm của khách hàng trong sử dụng vốn vay và hạn chế rủi ro xảy ra.

Mặt khác, trên cơ sở quy trình cho vay đã có, đòi hỏi tất cả cán bộ làm công tác

tín dụng phải thực hiện chặt chẽ khi giải quyết hồ sơ tín dụng cho khách hàng. Nhưng

thực tế, để giải quyết hồ sơ nhanh và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, một số

CBTD đã thực hiện thẩm định qua loa, giải quyết cho vay trước rồi hoàn chỉnh hồ sơ

tín dụng sau. Điều này dẫn đến việc CBTD sẽ không nhìn thấy được những rủi ro tiềm

ẩn của khoản vay và có nguy cơ giải quyết sai lầm làm ảnh hưởng đến chất lượng tín

dụng. Và trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ tín dụng, CBTD mới phát hiện những chỗ

không phù hợp hoặc không đủ điều kiện để cấp tín dụng thì khả năng thu hồi lại số

tiền cho vay là rất khó, nguy cơ gây ra tổn thất về đồng vốn của ngân hàng là rất cao.

Vì vậy, đòi hỏi CBTD khi giải quyết cho vay cần phải thực hiện chặt chẽ quy trình cho

vay hiện hành của Chi nhánh để hạn chế tối đa những RRTD có thể xảy ra.

3.2.3 Thực hiện tốt việc cập nhật và quản lý thông tin khoản vay trên hệ thống dữ

liệu

Hiện tại, việc cập nhật và quản lý thông tin trên hệ thống dữ liệu đã được thực hiện

theo quy định hiện hành. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại trường hợp một số nhân viên ngân

hàng vì chỉ tiêu kinh doanh, chỉ tiêu thi đua nên đã vào hệ thống dữ liệu điều chỉnh

ngày trả nợ lãi, nợ gốc của khoản vay thêm một thời gian ngắn, điều này làm ảnh

hưởng đến việc phân loại nợ và phản ánh không đúng tính chất nợ của khoản vay. Vì

vậy, đề nghị các ngân hàng phải thực hiện nghiêm các quy định hiện hành, kiên quyết

chuyển nợ quá hạn đối với các trường hợp vi phạm hợp đồng tín dụng, có nguy cơ gây

ra RRTD và thực hiện trích lập dự phòng theo quy định nhằm bù đắp tổn thất khi

RRTD xảy ra.

3.2.4 Hoàn thiện quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Hiện nay, Chi nhánh đang thực hiện việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

theo Quyết định số 493 và các văn bản sửa đổi bổ sung Quyết định số 493. Tuy nhiên,

qua kết quả rà soát danh mục tín dụng của Công ty kiểm toán quốc tế E&Y đã cho

thấy tỷ lệ nợ nhóm 2 và nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cao hơn

nhiều so với tỷ lệ nợ nhóm 2 và nợ xấu theo quy định hiện hành của NHNN, nhiều

khoản nợ được phân loại vào nhóm 1, nhóm 2 theo NHNN nhưng theo Công ty tài

chính quốc tế thì lại bị phân loại vào nợ xấu, vì vậy nếu thực hiện phân loại theo chuẩn

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



50



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



quốc tế thì tỷ lệ nợ xấu tăng lên, đồng nghĩa với việc ngân hàng phải trích lập dự

phòng tăng, ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng.

Mặt khác, do không có quy định cũng như hướng dẫn cụ thể của NHNN về cách

xếp hạng tín dụng nội bộ, các ngân hàng đã tự xây dựng hệ thống này theo cách riêng

của mình. Điều này tạo sự không thống nhất trong quản lý chất lượng tín dụng giữa

các ngân hàng, khiến NHNN gặp khó khăn trong quản lý.

Vì vậy, đề xuất NHNN sớm ban hành thông tư mới về việc Phân loại nợ và trích

dự phòng rủi ro theo chuẩn quốc tế để thay thế cho Quyết định số 493 và các văn bản

sửa đổi bổ sung Quyết định 493, nhằm kiểm soát chất lượng hoạt động tín dụng, quy

định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng, quy định về thông tin tín

dụng. Đồng thời, giúp cho các ngân hàng đưa các khoản nợ xấu ra ánh sáng đúng với

bản chất thực của khoản nợ, trên thực tế những khoản nợ xấu được định dạng lại, bộc

lộ rõ hơn thì tỷ lệ nợ xấu tăng, nhưng không có nghĩa là ngân hàng hoạt động yếu đi,

mà là ngân hàng đang tự giúp mình khoẻ mạnh hơn trong tương lai.

3.2.5 Hạn chê việc quan trọng hóa tài sản đảm bảo, quan tâm hơn nữa việc sử

dụng công cụ bảo hiểm

Khi giải quyết hồ sơ vay vốn, TSTC là điều kiện cần phải có (ngoại trừ trường hợp

cho vay tín chấp), nhưng thực tế đã có trường hợp do quan điểm sai lầm của một số

cán bộ ngân hàng là đã xem TSĐB là nguồn thu nợ chính yếu khi có RRTD xảy ra,

nên đã định giá TSĐB quá cao so với giá trị thực trên thị trường, vì vậy khi có RRTD

xảy ra, thời gian chờ xử lý TSĐB để thu hồi nợ kéo dài và giá trị TSĐB sau khi xử lý

vẫn không hồi thu đủ nợ của ngân hàng. Vì vậy, để hạn chế những tổn thất khi RRTD

xảy ra, đề xuất phải sớm có những quy định cụ thể về việc xử phạt đối với trường hợp

định giá TSĐB quá cao so với giá thị trường (không có cơ sở định giá) của các ngân

hàng.

Bên cạnh đó, đề xuất ngân hàng phải quan tâm hơn nữa việc sử dụng công cụ bảo

hiểm. Cụ thể, ngân hàng cần phải yêu cầu khách hàng vay mua bảo hiểm trong quá

trình xây dựng và bảo hiểm công trình (đối với các dự án đầu tư), bảo hiểm đối với

TSĐB, bảo hiểm hàng hóa và cả việc mua bảo hiểm cho đối tượng vay vốn… Bởi lẽ,

khi có RRTD xảy ra, chẳng hạn do nguyên nhân cháy nổ, thiên tai… gây ra thì ngân

hàng vẫn còn có nguồn bồi thường thiệt hại từ công ty bảo hiểm để thu hồi nợ lãi vay

và nợ gốc nhằm hạn chế tối đa những tổn thất có thể xảy ra.

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



51



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



3.2.6 Nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát khoản vay

Trên thực tế, nguyên nhân để RRTD xảy ra không phải tất cả đều do phương án vay

vốn kém hiệu quả hay do khách hàng vay sử dụng vốn sai mục đích mà còn do CBTD

không thực hiện việc kiểm tra giám sát khoản vay chặt chẽ và thường xuyên, dẫn đến

việc ngân hàng không kiểm soát được dòng tiền sau khi khách hàng kết thúc phương

án kinh doanh, cũng như không phát hiện kịp thời việc khách hàng có thể dùng nguồn

tiền này để đầu tư vào các mục đích khác kém hiệu quả hay không minh bạch... Vì

vậy, để phòng ngừa RRTD xảy ra, đề nghị các CBTD phải thực hiện công việc kiểm

tra giám sát khoản vay một cách chặt chẽ và thường xuyên. Cụ thể:

• Khi thực hiện giải ngân, CBTD cần phải xem xét tính hợp lý giữa mục đích vay

vốn, yêu cầu giải ngân và cơ cấu các khoản chi phí trong nhu cầu vốn của khách hàng;

đảm bảo việc giải ngân phải có đầy đủ chứng từ chứng minh và hợp lệ. Hạn chế giải

ngân bằng tiền mặt trừ những trường hợp kinh doanh đặc thù như chi trả lương công

nhân viên, thanh toán tiền hàng cho người dân hay thanh toán cho những cơ sở kinh

doanh nhỏ lẻ… khuyến khích khách hàng nhận nợ vay bằng hình thức chuyển khoản

để việc kiểm soát mục đích sử dụng tiền vay của khách hàng được dễ dàng hơn.

• Phải có kế hoạch định kỳ đi kiểm tra tình hình hoạt động thực tế đối với từng

khách hàng vay (tùy thuộc vào kết quả xếp hạng nội bộ, uy tín của khách hang trong

quan hệ tín dụng…).

• Thực hiện kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng phải dựa trên số liệu

thực tế và các chứng từ gốc chứng minh hợp lệ.

• Biên bản kiểm tra sử dụng vốn vay phải thể hiện đầy đủ các thông tin về tình hình

tài chính, tình hình HĐKD, hàng tồn kho, công nợ của khách hàng, hiện trạng và giá

trị TSĐB tại thời điểm kiểm tra… Để có thể đánh giá chính xác hiệu quả của việc sử

dụng vốn vay. Đồng thời phát hiện kịp thời những rủi ro có thể xảy ra, từ đó có những

biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời, tránh tình trạng thực hiện kiểm tra mục đích

sử dụng vốn vay mang tính đối phó, qua loa.

• Cần có sự phân tích và đánh giá kịp thời những dấu hiệu của RRTD như khi khách

hàng vay thường xuyên chậm trả lãi, trả gốc, sự thay đổi của môi trường kinh doanh,

tình hình thị trường ảnh hưởng xấu đến phương án kinh doanh … để có những biện

pháp xử lý chủ động và kịp thời khi RRTD có nguy cơ xảy ra.

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



52



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



• Cần vấn tin CIC thường xuyên để nắm bắt kịp thời tình hình quan hệ tín dụng của

khách hàng, từ đó có những biện pháp ngăn ngừa và xử lý kịp thời khi RRTD phát

sinh.

3.2.7 Nâng cao năng lực và chất lượng kiểm tra của bộ phận kiểm tra kiểm soát nội

bộ

Thực tế, để nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế những RRTD có thể xảy ra thì

phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ đóng vai trò rất quan trọng, chất lượng kiểm tra của

bộ phận kiểm tra kiểm soát nội bộ được đánh giá rất cao. Vì vậy, đề xuất các ngân

hàng cần phải quan tâm hơn nữa việc đào tạo chuyên môn cũng như bố trí cán bộ làm

công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ, để các cán bộ này có đủ khả năng và trình độ nhận

biết, phát hiện ra những sai phạm cũng như những thiếu sót trong hồ sơ tín dụng của

phòng khách hàng, từ đó có những biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời nhằm hạn

chế tối đa sự thiệt hại về vốn cho ngân hàng.

Để công việc kiểm tra kiểm soát nội bộ có hiệu quả, đòi hỏi các cán bộ làm công

tác kiểm tra kiểm soát nội bộ phải thỏa các yêu cầu sau:

• Phải có sự hiểu biết thông suốt về pháp luật, quy trình, quy định của ngành cũng

như của hệ thống.

• Phải có trình độ năng lực chuyên môn cao.

• Phải có khả năng nhận định và phân tích tình hình tài chính tốt.

Ngoài việc cán bộ kiểm tra kiểm soát nội bộ phải thỏa những yêu cầu trên, trên thực

tế, trong quá trình kiểm tra giám sát còn đòi hỏi cán bộ kiểm tra kiểm soát nội bộ

phải:

• Phát huy vai trò trong việc kiểm soát hồ sơ tín dụng.

• Đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật, các quy định quy chế cho vay của

hệ thống.

• Công việc kiểm tra giám sát phải được phản ánh một cách trung thực và kịp thời,

khi phát hiện hồ sơ có sai sót thì phải có biện pháp chỉnh sửa và khắc phục ngay.

Trường hợp không khắc phục được thì phải báo cáo về cấp trên để có biện pháp chấn

chỉnh và xử lý kịp thời, tránh trường hợp các cán bộ làm công tác kiểm tra giám sát vì

cả nể, e dè, sợ va chạm mà bỏ qua những RRTD có thể xảy ra.



SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



53



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



Bộ phận kiểm tra kiểm soát nội bộ thực hiện tốt những điều này thì chắc chắn chất

lượng QTRRTD sẽ có hiệu quả và ngày càng được nâng cao.

3.2.8 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trong nền kinh tế thị trường, yếu tố con người luôn được xem là yếu tố quan trọng,

vì con người là nền tảng của sự phát triển, con người sẽ quyết định đến sự thành bại

của bất kỳ hoạt động nào xảy ra. Đối với hoạt động tín dụng, yếu tố con người lại càng

đóng một vai trò quan trọng, đã quyết định đến chất lượng tín dụng, chất lượng dịch

vụ và hình ảnh của ngân hàng, để từ đó quyết định đến hiệu quả hoạt động tín dụng

của ngân hàng. Vì vậy, đề xuất chất lượng nguồn nhân lực cần phải được nâng cao hơn

nữa và được tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau:

• Về công tác đào tạo: Phải có kế hoạch và thực hiện triển khai liên tục các chương

trình đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ ở các cấp để đáp ứng kịp thời nhu cầu nhân sự khi

thực hiện mở rộng mạng lưới hoạt động, tránh trường hợp thiếu nguồn nhân lực sẽ dẫn

đến việc sử dụng cán bộ không phù hợp với trình độ chuyên môn, vị trí công tác cũng

như dồn việc quá nhiều vào một số cán bộ, điều này dẫn đến việc cán bộ không có thời

gian để kiểm tra và quản lý tốt hồ sơ khoản vay. Công tác đào tạo nhân sự được quan

tâm đúng mực thì sẽ góp phần cho việc hạn chế RRTD có thể xảy ra.

• Về năng lực công tác: Đòi hỏi những cán bộ làm công tác tín dụng phải thường

xuyên nghiên cứu, học tập, nắm vững, thực hiện đúng các quy định hiện hành và phải

không ngừng nâng cao năng lực công tác, nhất là khả năng phát hiện, ngăn chặn những

thủ đoạn lợi dụng khách hàng.

• Về phẩm chất đạo đức, y thức trách nhiệm: Yêu cầu mỗi cán bộ ngân hàng phải

luôn tự giác tu dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của mình, phải có ý thức trách

nhiệm trong công việc, nhất là những cán bộ trực tiếp làm công tác tín dụng bởi lĩnh

vực công tác này rất nhạy cảm và dễ bị sa ngã nhất vì sự cám dỗ của đồng tiền và vật

chất có được trước mắt. Vì vậy đòi hỏi ngân hàng phải đặc biệt chú trọng đến phẩm

chất đạo đức của người cán bộ ngân hàng, đây là một yếu tố khá quan trọng để có thể

hạn chế RRTD xảy ra.

Ngoài ra, Chi nhánh cần phải xây dựng chính sách đãi ngộ nhân sự thật hợp lý, thực

hiện cơ chế tài chính thông thoáng nhằm thu hút được nhân tài và duy trì đủ nhân lực

chất lượng có thể đảm trách các hoạt động tín dụng của ngân hàng. Vì việc tăng trưởng

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



54



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



tín dụng hàng ngày không đồng bộ với số lượng và chất lượng của nhân viên tín dụng

phụ trách nên dễ dẫn đến có nhiều rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng.

3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ

3.3.1 Kiên nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

- Trong hoạch định chính sách, không những cân đối giữa các mục tiêu phát triển

kinh tế và ổn định tiền tệ mà còn phải quan tâm đến sự phát triển bền vững của các

ngân hàng, tránh tình trạng thắt chặt hoặc nới lỏng quá mức, thay đổi định hướng đột

ngột sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các ngân hàng.

- Cần có những quy định cụ thể liên quan đến công bố thông tin tài chính doanh

nghiệp có xác minh của kiểm toán, quy định chặt chẽ hơn về những điều kiện của công

ty kiểm toán khi họ thực hiện các báo cáo kiểm toán sơ sài, hoặc thiếu trung thực. Vì

thực tế hiện nay cho thấy chất lượng của rất nhiều công ty kiểm toán là chưa đảm bảo.

- Xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật đảm bảo quyền chủ nợ của ngân

hàng trong xử lý TSĐB, chỉ đạo các bộ ngành có liên quan quy định về thủ tục, trình

tự xử lý TSĐB nhanh chóng, hiệu quả; các quy định pháp lý liên quan đến giao dịch

bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm, quy định về cấp giấy tờ sở hữu tài sản, quy định

về các ngành kinh doanh…

- Cơ cấu lại dư nợ và xử lý các khoản nợ xấu là việc làm đã khó, quá trình cải thiện

và hạn chế phát sinh thêm các khoản nợ xấu ở giai đoạn hiện nay là càng khó khăn

hơn. Để giải quyết vấn đề này, tất nhiên bản thân các ngân hàng phải ý thức và tự gánh

lấy trách nhiệm. Trên thực tế, các Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của các

NHTM đã ra đời nhưng nó chỉ là nơi chứa đựng các khoản nợ khó đòi từ ngân hàng

mẹ chuyển sang, chức năng chỉ mới dừng lại ở khâu thẩm định giá trị TSTC cũng như

quản chấp hàng hóa cầm cố cho đến khi tài sản đó được bán, thanh lý; còn để xử lý các

món nợ này thì các Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản không có thị trường giao

dịch. Để hỗ trợ thêm nữa cho các NHTM nói chung cũng như các ngân hàng TMCP

nói riêng, Chính phủ cần xây dựng một cơ chế để phát triển thị trường thứ cấp cho các

hoạt động mua, bán các khoản nợ xấu của các NHTM. Trước mắt, Chính phủ sử dụng

nguồn lực của mình để xử lý các khoản nợ này từ các NHTM Nhà nước; các Công ty

giao dịch tài sản có, tài sản nợ của Chính phủ phải tiếp cận trực tiếp các NHTM Nhà

nước trong quá trình tiếp nhận và xử lý các món nợ này; vấn đề là thực hiện việc mua

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Khóa luận tốt nghiệp



55



GVHD: TS. Nguyễn Thu Thủy



bán các khoản nợ của các NHTM Nhà nước chứ không phải của các DNNN. Khi thị

trường này được khởi động và giao dịch có hiệu quả, quá trình tham gia của các ngân

hàng TMCP để giải quyết nợ tồn đọng sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn.

3.3.2 Kiên nghị đối với Chính phủ

- Nâng cao vai trò định hướng trong quản ly và tư vấn cho các NHTM: Thông qua

việc thường xuyên tổng hợp, phân tích thông tin thị trường, đưa ra các nhận định và dự

báo khách quan, mang tính khoa học, đặc biệt là liên quan đến hoạt động tín dụng để

các NHTM có cơ sở tham khảo, định hướng trong việc hoạch định chính sách tín dụng

của mình sao cho vừa đảm bảo phát triển hợp lý, vừa phòng ngừa được rủi ro. Tiếp tục

hoàn thiện quy chế cho vay, đảm bảo tiền vay trên cơ sở bảo đảm an toàn cho hoạt

động tín dụng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các NHTM, quy định chặt chẽ về trách

nhiệm của các NHTM về việc tuân thủ quy chế cho vay và bảo đảm tiền vay, hạn chế

bớt các thủ tục pháp lý phức tạp, gây khó khăn cho các NHTM. NHNN cần phối hợp

với các bộ ngành có liên quan trong quá trình xử lý nợ xấu, tập trung tháo gỡ những

khó khăn vướng mắc trong thủ tục phát mãi tài sản. Nên có những hướng dẫn cụ thể về

trình tự, thủ tục, trách nhiệm của TCTD, của cơ quan Công an, của Chính quyền cơ sở,

của Sở Tài nguyên Môi trường làm cơ sở pháp lý để đi đến ban hành thông tư liên

ngành hướng dẫn thêm nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp đẩy nhanh tiến độ,

cụ thể hóa từng công việc trong thi hành án.

- Chống sự cạnh tranh kém lành mạnh: Với sự mở rộng tính tự chủ và tự chịu trách

nhiệm của các NHTM, NHNN đã giải phóng tính sáng tạo và chủ động của các ngân

hàng trong HĐKD. Tuy nhiên, đã xuất hiện tình trạng cạnh tranh kém lành mạnh,

tranh giành khách hàng vay vốn giữa các ngân hàng như cho vay để hoàn trả các

khoản vay của các ngân hàng khác, hạ thấp các tiêu chuẩn, điều kiện vay vốn dẫn đến

nguy cơ RRTD tăng cao. Do đó NHNN cần có sự kiểm tra, kiểm soát có hiệu quả

những HĐKD của các NHTM, đảm bảo sự phát triển bền vững và an toàn.

- Ứng dụng các nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu: Trong thực thi

chức năng của một cơ quan quản lý nhà nước và giám sát thị trường, hoàn thiện

phương pháp kiểm soát và kiểm toán nội bộ trong các TCTD và hướng tới các chuẩn

mực quốc tế. Hệ thống giám sát ngân hàng được hoàn thiện theo hướng nâng cao chất

lượng phân tích tình hình tài chính và phát triển hệ thống cảnh báo sớm những tiềm ẩn

SVTH: Lê Ngọc Thành

K45H4



Lớp:



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (63 trang)

×