1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (500.2 KB, 68 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Ở Việt Nam, theo “ Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành kèm

theo Nghị định số 112/2006/NĐ-CP, ngày 29/09/2006 của Chính phủ, dự án đầu

tư được phân loại thành 4 nhóm: Dự án quan trọng quốc gia ; Dự án nhóm A ;

Dự án nhóm B ; Dự án nhóm C.

* Theo nguồn vốn đầu tư:

- Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước: bao gồm: Vốn ngân sách nhà

nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà

nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước, các nguồn vốn khác.

- Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài: bao gồm: Vốn thuộc các

khoản vay của nước ngoài của Chính phủ và các nguồn viện trợ quốc tế dành

cho đầu tư phát triển(kể cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA), vốn đầu tư

trực tiếp của nước ngoài FDI, vốn đầu tư của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc

tế và cơ quan nước ngoài khác đầu tư xây dựng trên đất Việt Nam, vốn vay nước

ngoài do Nhà nước bảo lãnh đối với doanh nghiệp.

* Theo tính chất dự án đầu tư:

- Dự án đầu tư mới: là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm hình

thành các công trình mới. Thực chất trong đầu tư mới, cùng với việc hình thành

các công trình mới, đòi hỏi có bộ

máy quản lý mới.

- Dự án đầu tư chiều sâu: là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm cải

tạo, mở rộng, nâng cấp, hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền sản xuất, dịch vụ;

trên cơ sở các công trình đã có sẵn. Thực chất trong đầu tư chiều sâu, tiến hành

việc cải tạo mở rộng và nâng cấp các công trình đã có sẵn, với bộ máy quản lý

đã hình thành từ trước khi đầu tư.

- Dự án đầu tư mở rộng: là dự án nhằm tăng cường năng lực sản xuất –

dịch vụ hiện có nhằm tiết kiệm và tận dụng có hiệu quả công suất thiết kế của

năng lực sản xuất đã có

* Theo lĩnh vực đầu tư:



9



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Bao gồm Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ; Dự án đầu tư phát triển

công nghiệp ; Dự án đầu tư phát triển nông nghiệp và Dự án đầu tư phát triển

dịch vụ





Đặc điểm của các dự án đầu tư



- Giá trị khoản vay lớn

Các dự án đầu tư thường là những dự án đầu tư kéo dài. Các dự án này

cần đòi hỏi một khoản đầu tư lớn phân bổ trong quá trình thực hiện dự án.

Nguồn vốn tự có của các chủ đầu tư khó có thể đáp ứng được nhu cầu của dự án

vì vậy rất cần đến sự tài trợ của các Ngân hàng, số tiền đó là rất lớn có thể chiếm

trên 50% vốn của dự án.

- Thời gian vay dài

Dự án đầu tư có thời hạn đầu tư kéo dài, nguồn vốn đầu tư lớn nên thời

gian thu hồi vốn của dự án cũng rất chậm vì vậy nên đòi hỏi các ngân hàng phải

tài trợ vốn trong một thời gian dài

- Mức độ rủi ro cao

Giá trị khoản vay lớn, thời gian vay dài ẩn chưa nhiều rủi ro với dự án và

khi dự án gặp rủi ro thì khả năng trả nợ và tiến độ trả nợ cũng bị ảnh hưởng.

Mức độ rủi ro của dự án vay vốn cũng chính là rủi ro với các ngân hàng cho vay

- Thời gian hoàn vốn chậm

Nguồn trả tiền vay cho ngân hàng chủ yếu được lấy từ quỹ khấu hao và

một phần từ lợi nhuận của chính dự án mang lại. Vì thế khách hàng chỉ có thể

hoàn trả khoản vay có quy mô lớn thành nhiều lần khác nhau và kéo dài trong

nhiều năm.

1.1.2 Cho vay dự án đầu tư của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm

Cho vay DAĐT là một dạng cho vay trung và dài hạn chủ yếu nhất của

các ngân hàng thương mại. Đó là việc các ngân hàng thương mại hỗ trợ các

khách hàng có đủ nguồn lực tài chính thực hiện các dự án đầu tư mà thời gian

1.1.2.2



thu hồi vốn đầu tư vượt quá 12 tháng.

Đặc điểm



10



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



- Đối tượng cho vay là các dự án đầu tư về thiết bị, máy móc, nhà xưởng,

các công trình xây dựng cơ bản nên thời hạn cho vay thường dài. Do vậy, cho

vay theo dự án đầu tư thuộc loại tín dụng trung, dài hạn.

- Đối với các dự án đầu tư vào thiết bị, máy móc thì đối tượng cho vay là

các thiết bị, máy móc trong dự án. Loại tài sản này sau khi hoàn thành lắp đặt sẽ

được sử dụng ngay nên ngân hàng tiến hành thu nợ theo định kỳ dựa trên số tiền

trích khấu hao định kỳ của những tài sản này và một số nguồn khác.

- Đối với các dự án là các công trình phải qua quá trình xây dựng cơ bản thì

đối tượng cho vay là các chi phí phát sinh trong thời gian xây dựng cơ bản để hoàn

thành công trình, kể cả chi phí trả lãi vay nếu được tính vào giá thành công trình.

Do vậy, sau khi hoàn thành công trình và quyết đoán được duyệt ngân

hàng và khách hàng vay sẽ chính thức xác nhận số nợ của khoản vay và xác định

kỳ hạn nợ cuối cùng và kế hoạch trả nợ định kỳ.

1.1.2.3

Vai trò của cho vay dự án đầu tư

 Đối với doanh nghiệp:

Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp

là một tất yếu khách quan, các doanh nghiệp nãy sử dụng vốn tín dụng ngân

hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng

vốn của mình.Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho các dự án đóng vai trò rất

quan trọng như:

• Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được

liên tục: Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi doanh nghiệp luôn luôn phải thay

đổi, cải tiến mặt hàng, công nghệ máy móc để có thể cạnh tranh với các doanh

nghiệp khác.Trên thực tế không có một doanh nghiệp nào đảm bảo đủ 100% vốn

cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, giúp các doanh nghieephh hoạt động được

đảm bảo liên tục.

• Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp:

Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng thì các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp

đồng tín dụng, phải đảm bảo hoàn trả cả vốn lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng

các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp có làm ăn hiệu quả hay

không.Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng thì phải có phương

11



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



án sản xuất khả thi.Không chỉ là thu hồi được vốn mà mục tiêu là lợi nhuận đạt

được và trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và

sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu

quả.

• Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp:

Trong một nền kinh tế thị trường như hiện nay hiếm có doanh nghiệp nào dung

vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để

doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn. Để hiệu quả thì doanh nghiệp

phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn

vay nhằm tối đa hóa lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất.

• Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp: Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị

trường, muốn tồn tại được vững đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong

cạnh tranh và thiếu vốn thì làm doanh nghiệp mất cơ hội trên thị trường như vậy

có thể đáp ứng kịp thời thì các doanh nghiệp tìm đến tín dụng ngân hàng.

 Đối với ngân hàng: Có thể nói cho vay dự án đầu tư có thể mang lại cho ngân

hàng nguồn lợi nhuận không hề nhỏ, các dự án thường vay lượng vồn lớn tạo

doanh thu từ lãi của ngân hàng khi đầu tư có hiệu quả. Trong quá trình phát triển

không ngừng của nền kinh tế, mặc dù môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi,

nhiều phương pháp, công cụ kinh doanh mới xuất hiện nhưng hoạt động tín

dụng nói chung và cho vay dự án đầu tư nói riêng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong

toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại.Hoạt động cho vay thường chiếm

hơn 70% tổng tài sản có và lợi nhuận thu được thường lên tới 60% -70% trên

tổng lợi nhuận của ngân hàng.

1.2

Thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm thẩm định và thẩm định tài chính dự án đầu tư

1.2.1.1

Khái niệm thẩm định dự án đầu tư

Theo quan điểm của Ngân hàng, khái niệm về thẩm định dự án đầu tư

như sau:

Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan toàn

diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi và khả năng hoàn

12



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



trả vốn đầu tư của khách hàng để phục vụ cho việc xem xét quyết định cho

khách hàng vay để đầu tư dự án.

Thực tế người thẩm định dự án sẽ tiến hành kiểm tra phân tích đánh giá

từng phần và toàn bộ các mặt, các vấn đề có trong bản nghiên cứu tiền khả thi và

nghiên cứu khả thi trong mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp chủ dự án và

các giả thiết về môi trường trong đó dự án sẽ hoạt động. Thẩm định dự án có ý

nghĩa thể hiện ở việc giúp các dự án tốt không bị bác bỏ và dự án tồi không

được chấp nhận.

1.2.1.2



Thẩm định dự án đầu tư.

 Thẩm định điều kiện pháp lý của dự án : Nội dung này bao gồm việc thẩm

định các văn bản, thủ tục hồ sơ trình duyệt theo quy định, đặc biệt là xem xét

đến tư cách pháp nhân và năng lực cuẩ chủ đầu tư. Đây là nội dung đầu tiên

được xem xét khi tiến hành các nội dung thẩm định tiếp theo.

 Thẩm định sự cần thiết phải đầu tư, mục tiêu cảu dự án/cơ sở pháp lý.

- Mục tiêu đầu tư của dự án đầu tư là gì? Khách hàng thực sự cần thiết đầu tư?

- Quy mô đầu tư, quy mô vốn đầu tư như thế nào? Thời gian thực hiện dự

án bao lâu?

- Cơ cấu sản phẩm và dịch vụ đầu ra của dự án đầu tư ra sao?

 Thẩm định dự án về phương diện thị trường



Nội dung thị trường của dự án được ngân hàng rất quan tâm vì khả năng

hoàn trả vốn vay NH của dự án phụ thuộc rất lớn vào sức cạnh tranh của sản

phẩm trên thị trường, đồng thời thị thường cũng là nơi đánh giá cuối cùng về

chất lượng sản phẩm, về khả năng tiêu thụ và về hiệu quả thực sự của dự án .

Nội dung thẩm định gồm:

- Đánh giá tổng quan về nhu cầu sản phẩm dự án đầu tư (nhu cầu hiện tại

và tương lai, mức tiêu thụ dự tính, sản phẩm dịch vụ thay thế?..)

- Đánh giá về cung sản phẩm hiện tại và tương lai (năng lực sản xuất và

đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai? Số lượng nhập khẩu hiện tại và dự tính

trong thời gian tới?...)

- Thị trường mục tiêu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Trên cơ sở đánh giá tổng quan về quan hệ cung cầu sản phẩm của dự án,

xem xét, đánh giá về các thị trường mục tiêu của sản phẩm, dịch vụ đầu ra của

13



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



dự án là gì? Để đánh giá về khả năng đạt được các mục tiêu thị trường, cán bộ

thẩm định cần thẩm định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án đối với thị

trường nội địa và thị trường nước ngoài.

- Phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối (sản phẩm dự án tiêu thụ

theo phương thức nào? Mạng lưới phân phối được xác lập chưa? Chi phí thiết

lập mạng lưới phân phối?...)

- Đánh giá, dự kiến khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án (mức độ sản

xuất và tiêu thụ hàng năm? Mức độ biến động về giá thành sản phẩm?...)

- Đánh giá khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào của

dự án

 Thẩm định phương diện kỹ thuật của dự án

Thẩm định dự án về phương diện kỹ thuật là việc kiểm tra phân tích các

yếu tố kỹ thuật và công nghệ chủ yếu của dự án để đảm bảo tính khả thi về mặt

thi công và xây dựng dự án cũng như việc vận hành dự án theo đúng các mục

tiêu đã dự kiến.

• Địa điểm xây dựng

- Xem xét, đánh giá địa điểm có thuận lợi về mặt giao thông hay không, có

gần các nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu, điện nước và thị trường tiêu thụ

không…?

- Cơ sở vật chất, hạ tầng hiện có của địa điểm đầu tư ? so sánh với địa

điểm khác.

- Địa điểm đầu tư có ảnh hưởng lớn đến vốn đầu tư của dự án cũng như ảnh

hưởng đến giá thành, sức cạnh tranh nếu xa thị trường nguyên vật liệu, tiêu thụ

• Quy mô sản xuất và sản phẩm của dự án

- Công suất thiết kế dự kiến của dự án là bao nhiêu, có phù hợp với khả

năng tài chính, trình độ quản lý, địa điểm, thị trường tiêu thụ hay không.

- Sản phẩm của dự án là sản phẩm mới hay đã có sẵn trên thị trường. Quy

cách, phẩm chất, mẫu mã của sản phẩm? Yêu cầu kỹ thuật, tay nghề ?

• Công nghệ, thiết bị

- Quy trình công nghệ có tiên tiến, hiện đại không, ở mức độ nào của thế giới.

- Công nghệ có phù hợp với trình độ hiện tại? lý do lựa chọn công nghệ này?

- Phương thức chuyển giao công nghệ có hợp lý hay không, có đảm bảo

cho chủ đầu tư nắm bắt và vận hành được công nghệ hay không.



14



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



- Xem xét, đánh giá về số lượng, công suất, quy cách, chủng loại, danh

mục máy móc thiết bị và tính đồng bộ của dây chuyền sản xuất.

- Giá cả thiết bị, phương thức thanh toán có hợp lý? Uy tín của nhà cung

cấp thiết bị?

- Thời gian giao hàng và lắp đặt thiết bị có phù hợp với tiến độ thực hiện

dự án?

• Quy mô, giải pháp xây dựng.

- Xem xét quy mô xây dựng, giải pháp kiến trúc có phù hợp với dự án hay

không, có tận dụng được cơ sở vật chất hiện có hay không.

- Tổng dự toán/ dự toán của từng hạng mục công trình, có hạng mục nào

cần đầu tư mà chưa được dự tính hay không, có hạng mục nào không cần thiết

hoặc chưa cần thiết phải đầu tư hay không.

- Tiến độ thi công có phù hợp với việc cung cấp máy móc thiết bị, phù hợp

với thực tế?

- Vấn đề hạ tầng cơ sở: giao thông, điện, cấp thoát nước.

• Môi trường, phòng cháy chữa cháy:

Xem xét, đánh giá các giải pháp về môi trường, phòng cháy chữa cháy của

dự án.

 Thẩm định phương diện tổ chức và quản lý thực hiện dự án.

- Xem xét kinh nghiệm, trình độ tổ chức vận hành của chủ đầu tư dự án…

- Xem xét năng lực, uy tín của nhà thầu: tư vấn, thi công, cung cấp thiết bị

– công nghệ.

- Đánh giá về nguồn nhân lực của dự án: số lượng lao động dự án cần, đòi

hỏi về tay nghề, trình độ kỹ thuật, kế hoạch đào tạo và khả năng cung ứng nguồn

nhân lực cho dự án…

 Thẩm định phương diện tài chính: nội dung thẩm định tài chính bao gồm

thẩm định tài chính trong doanh nghiệp và thẩm định tài chính đối với chính dự

án đang được xem xét.

 Thẩm định về phương diện lợi ích kinh tế xã hội: nhằm so sánh giữa cái giá

mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình một cách tốt

nhất và lợi ích do dự án tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế( chứ không chỉ cho cơ sở

sản xuất kinh doanh). Việc thẩm định kinh tế xã hội của dự án được tính toán

trên một loạt các tiêu chuẩn đánh giá và chỉ tiêu đánh giá như: giá trị gia tang

thuần túy, giá trị gia tăng thuần túy quốc qia, các chỉ tiêu về số lao động có việc

15



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



làm, các chỉ tiêu đánh giá tác động của dự án đến phân phối thu nhập và công

bằng xã hội..vv

1.2.2

1.2.2.1



Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại

Xác định tổng vốn đầu tư

Đây là một nội dung quan trọng đầu tiên cần xem xét khi tiến hành phân

tích tài chính dự án. Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn

cần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động, tính toán chính xác tổng mức

vốn đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với tính khả thi của dự án.Nếu vốn đầu

tư quá thấp thì dự án không thể thực hiện được và ngược lại nếu vốn đầu tư quá

cao sẽ không phản ánh được hiệu quả tài chính của dự án. Tổng mức vốn này

được chia ra làm hai loại là vốn cố định và vốn lưu động ban đầu (chỉ tính co

một kỳ kinh doanh sản xuất đầu tiên).

Tổng vốn đầu tư = Nhu cầu vốn cố định + Nhu cầu vốn lưu động



 Vốn cố định



Vốn cố định bao gồm những chi phí sau đây:





Chi phí chuẩn bị: là những chi phí trước khi chuẩn bị dự án. Chi phí này không

trực tiếp tạo ra tài sản cố định nhưng là chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến việc

tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư.Chi phí



-



này bao gồm:

Chi phí cho điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án.

Chi phí cho tư vấn, thiết kế, chi phí cho quản lý dự án.

Chi phí cho đào tạo ,huấn luyện…vv

Các chi phí này khó có thể tính toán chính xác được.Bởi vậy, cần phải

được xem xét đầy đủ các khoản mục để dự trù cho chính xác.





-



Chi phí cho xây lắp và mua sắm thiết bị:bao gồm các khoản mục sau:

Chi phí ban đầu về mặt đất, mặt nước.Chi phí này phải phù hợp với các quy định



-



của Bộ tài chính về tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển.

Chi phí chuẩn bị mặt bằng xây dựng.

Giá trị nhà xưởng và kết cấu hạ tần sẵn có.

Chi phí xây dựng mới, cải tạo nhà xưởng hoặc cấu trúc hạ tầng.



16



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp

-



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Chi phí về máy móc thiết bị (bao gồm cả lắp đặt và chạy thử), phương tiện vận



tải.

- Các chi phí khác….

 Vốn lưu động ban đầu:

Vốn lưu động ban đầu bao gồm các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban

đầu cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên, nhắm đảm bảo cho dự án có

thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật đã dự

-



kiến.Vốn lưu động ban đầu bao gồm:

Vốn sản xuất: chi phí nguyên vật liệu, điện, nước, nhiên liệu, phụ tùng…

Vốn lưu thông: thành phần tồn kho , sản phẩm dở dang, hàng hóa bán chịu, vốn



bằng tiền…

 Vốn dự phòng:

Tổng mức vốn đầu tư dự tính của dự án cần được xem xét thoe từng giai

đoạn của quá trình thực hiện đầu tư và được xác định rõ bằng tiền Việt, ngoại tệ,

1.2.2.2



bằng hiện vật hoặc các tài sản khác…

Xác định nguồn vốn, cơ cấu vốn, sự đảm bảo của nguồn vốn với tài trợ cho

dự án và tiến độ bỏ vốn.

Một dự án thì các nguồn tài trợ có thể là do ngân sách phát, ngân hàng cho

vay, góp vốn cổ phần, vốn liên doanh do các bên liên doanh góp, vốn tự có hoặc

vốn huy động từ các nguồn khác. Để đảm bảo cho tiến độ thực hiện đầu tư của

dự án vừa để tránh ứ đọng vốn, các nguồn tài trợ nên được xem xét không chỉ về

mặt số lượng mà còn cả về thời điểm được tài trợ. Các nguồn vốn dự kiến này

phải được đảm bảo chắc chắn, sự đảm bảo này phải có cơ sở pháp lý và cơ sở

thực tế. Chẳng hạn nếu nguồn tài trợ này bằng văn bản sau khi các cơ quan này

đã ký vào hồ sơ thẩm định dự án. Nếu là vốn góp cổ phần hoặc liên doanh phải

có sự cam kết về tiến độ và số lượng vốn góp của các cổ đông hoặc các bên liên

doanh được ghi trong điều lệ liên doanh. Nếu là vốn tự có thì pải có bản giải

trình về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở 3 năm trước đây và

hiện tại chứng tỏ cơ sở đã, đang và sẽ tiếp tục hoạt động có hiệu quả, có tích lũy

và do đó đảm bảo có vốn thực hiện dự án.

Tiếp đó , phải so sánh nhu cầu về vốn với khả năng đảm bảo vốn cho dự

án từ các nguồn về số lượng và tiến độ. Nếu khả năng lớn hơn hoặc bằng nhu

17



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



cầu thì dự án được chấp nhận. Nếu khả năng nhỏ hơn nhu cầu thì phải giảm quy

mô của dự án, xem xét lại khía cạnh kỹ thuật để đảm bảo tính đồng bộ trong

việc giảm quy mô của dự án.

Sau khi đã xác định được các nguồn tài trợ cho dự án thì cần xác định cơ

cấu nguồn vốn cho dự án. Điều này có nghĩa là tính toán tỷ lệ từng nguồn chiếm

trong tổng mức vốn đầu tư dự kiến. Trên cơ sở nhu cầu vốn, tiến độ thực hiện

các công việc đầu tư và cơ cấu nguồn vốn, lập tiến độ huy động vốn hàng năm

đối với từng nguồn cụ thể. Tiến độ huy động vốn phải tính tới lượng tiền cần

thiết thực tế phải huy động hàng năm trong trường hợp có biến động giá cả hoặc

1.2.2.3



lạm phát.

Xác định chi phí sản xuất và giá thành

Sau khi đã xác định được nguồn vốn cho dự án, ngân hàng tiếp tục xác

định tổng chi phí sản xuất và giá thành của sản phẩm dự kiến.Tổng doanh thu

bao gồm cho chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.Chi phí sản xuất bao

gồm các loại chi phí vật chất, chi phí nhân công , chi phí quản lý, chi phí sử

dụng vốn và khấu hao TSCĐ.Chi phí ngoài sản xuất bao gồm các loại chi phí

như chi phí quảng cáo, chi phí dự phòng lưu thông sản phẩm và các chi phí

khác…Ngân hàng cần xác định giá thành của từng loại sản phẩm, đánh giá các

khoản mục chi phí tạo ra nên giá thành sản phẩm cao hay thấp, có hợp lý không,

so sánh với giá thành sản phẩm của các loại sản phẩm tương tự trên thị trường

và từ đó rút ra những kết luận cụ thể. Để tính giá thành sản phẩm cần căn cứ vào

tổng mức chi phí, mức chênh lệch giá, xác định được các hao hụt ngoài dự kiến

để tiến hành phân bổ cho số lượng thành phần một cách hợp lý. Khi đó trong

quá trình thẩm định cần chú ý tới toàn bộ chi phí để sản xuất sản phẩm, các loại

khấu hao, kiểm tra chi phí nhân công, phân bổ các chi phí lãi vay ngân hàng,



1.2.2.4



tính toán lại các mức thuế phải nộp, tránh thừa thiếu hay áp dụng sai mức thuế.

Xác định doanh thu và lợi nhuận

* Doanh thu hàng năm của dự án gồm:

Doanh thu từ sản phẩm chính, sản phẩm phụ, tiền thu từ việc cung cấp

dịch vụ cho bên ngoài; các khoản tiền thu khác... Trong khi kiểm tra chỉ tiêu

doanh thu, ngân hàng phải chú ý tới công suất thiết kế của sản phẩm cũng như khả

18



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



năng tiêu thụ sản phẩm vì thông thường trong những năm đầu tiên công suất thiết

kế thường thấp hơn dự kiến và mức tiêu thụ của sản phẩm cũng đạt không cao.

* Lợi nhuận của dự án:

Được tính bằng chênh lệch của doanh thu và các khoản chi phí. Lợi nhuận

của dự án có thể là: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), lợi nhuận trước

thuế hay lợi nhuận sau thuế. Thông thường NH quan tâm đến lợi nhuận sau thuế

của doanh nghiệp vì đây là nguồn trả nợ chính cho ngân hàng.

1.2.2.5



Xác định dòng tiền dự kiến

Dòng tiền của Dự án bao gồm Vốn đầu tư ban đầu (giá trị âm) ; dòng tiền

thuần các năm trong đời Dự án và dòng tiền khi kết thúc dự án.

Dòng tiền ròng năm t (CFt ) = Dòng tiền vào năm t – Dòng tiền ra năm t



Khi xác định dòng tiền dự án, cần chú ý tới các khía cạnh sau:

+ Chi phí cơ hội: Trong xác định dòng ra, phải xác định đầy đủ chi phí cơ

hội của dự án. Chi phí này thể hiện một cơ hội (hoặc một chuỗi các thu nhập) bị

mất đi nếu sử dụng những tài sản sẵn có vào dự án đang xem xét. Chi phí cơ hội

của dự án không phải là một khoản chi thực nhưng vẫn được tính vào dòng tiền

ra của dự án.

+ Chi phí khấu hao: được xem là chi phí kế toán nhưng lại không phải là

một chi phí bằng tiền thực tế, do vậy nó vẫn phải được tính trong dòng tiền. Tuy

nhiên, nó lại tác động đến dòng tiền một cách gián tiếp qua thuế (thuế thu nhập

doanh nghiệp). Khi khấu hao thay đổi nó cũng làm biến đổi mức thuế phải nộp,

vì thế là một dòng tiền thực nên sẽ làm ảnh hưởng tới dòng tiền sau thuế. Vì vậy

không coi khấu hao là một dòng ra nhưng vẫn phải xét tới dòng tiết kiệm thuế

nhờ khấu hao.

Do đó, dòng tiền ròng hàng năm còn được xác định bằng công thức:

Dòng tiền ròng năm t (CFt ) = LNST năm t + Khấu hao năm t + ∆ Nhu cầu VLĐ năm t



+ Chi phí trả lãi vay: Chi phí này không được tính vào dòng tiền ròng của

dự án.



19



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (68 trang)

×