1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

* Doanh thu hàng năm của dự án gồm:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (500.2 KB, 68 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



năng tiêu thụ sản phẩm vì thông thường trong những năm đầu tiên công suất thiết

kế thường thấp hơn dự kiến và mức tiêu thụ của sản phẩm cũng đạt không cao.

* Lợi nhuận của dự án:

Được tính bằng chênh lệch của doanh thu và các khoản chi phí. Lợi nhuận

của dự án có thể là: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT), lợi nhuận trước

thuế hay lợi nhuận sau thuế. Thông thường NH quan tâm đến lợi nhuận sau thuế

của doanh nghiệp vì đây là nguồn trả nợ chính cho ngân hàng.

1.2.2.5



Xác định dòng tiền dự kiến

Dòng tiền của Dự án bao gồm Vốn đầu tư ban đầu (giá trị âm) ; dòng tiền

thuần các năm trong đời Dự án và dòng tiền khi kết thúc dự án.

Dòng tiền ròng năm t (CFt ) = Dòng tiền vào năm t – Dòng tiền ra năm t



Khi xác định dòng tiền dự án, cần chú ý tới các khía cạnh sau:

+ Chi phí cơ hội: Trong xác định dòng ra, phải xác định đầy đủ chi phí cơ

hội của dự án. Chi phí này thể hiện một cơ hội (hoặc một chuỗi các thu nhập) bị

mất đi nếu sử dụng những tài sản sẵn có vào dự án đang xem xét. Chi phí cơ hội

của dự án không phải là một khoản chi thực nhưng vẫn được tính vào dòng tiền

ra của dự án.

+ Chi phí khấu hao: được xem là chi phí kế toán nhưng lại không phải là

một chi phí bằng tiền thực tế, do vậy nó vẫn phải được tính trong dòng tiền. Tuy

nhiên, nó lại tác động đến dòng tiền một cách gián tiếp qua thuế (thuế thu nhập

doanh nghiệp). Khi khấu hao thay đổi nó cũng làm biến đổi mức thuế phải nộp,

vì thế là một dòng tiền thực nên sẽ làm ảnh hưởng tới dòng tiền sau thuế. Vì vậy

không coi khấu hao là một dòng ra nhưng vẫn phải xét tới dòng tiết kiệm thuế

nhờ khấu hao.

Do đó, dòng tiền ròng hàng năm còn được xác định bằng công thức:

Dòng tiền ròng năm t (CFt ) = LNST năm t + Khấu hao năm t + ∆ Nhu cầu VLĐ năm t



+ Chi phí trả lãi vay: Chi phí này không được tính vào dòng tiền ròng của

dự án.



19



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



+ Thu hồi vốn lưu động và thu nhập từ thanh lý tài sản cố định: Là thu

nhập bất thường. Thu nhập sau thuế từ hoạt động này sẽ được cộng thêm vào

1.2.2.6



dòng tiền ròng năm cuối cùng của dự án.

Tính toán chỉ tiêu chi phí sử dụng vốn của dự án

Lãi suất chiết khấu (i): Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau trong

việc xác định lãi suất chiết khấu (i). Một cách xác định lãi suất chiết khấu là

dùng Chi phí vốn bình quân (WACC)

WACC =



(E / V) x Re + (D / V) x Rd x (1-T)



Trong đó: E: Vốn chủ sở hữu



D: Nợ vay



V=E+D



Re: tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chủ đầu tư

Rd: Lãi suất vay

T : Thuế suất thuế TNDN

Trên thực tế, ngân hàng khi thực hiện thẩm định cũng sử dụng

công thức trên để tính WACC nhưng không nhân với (1-T). Có thể các

ngân hàng cho rằng tác dụng của lá chắn thuế không đáng kể trong chi

phí sử dụng vốn nên bỏ đi để mô hình đỡ phức tạp. Hoặc họ muốn giảm

thiểu rủi ro bằng quan điểm cho rằng doanh nghiệp chưa chắc đã có lời,

nên lá chắn thuế không phát huy tác dụng, bỏ đi (1-T) để tăng WACC lên

và để xemvới mức WACC cao như vậy doanh nghiệp có còn đủ khả

năng trả nợ hay không.



1.2.2.7



Xác định các chỉ tiêu phân tích tài chính dự án (hiệu quả đầu tư)

 Giá trị hiện tại của thu nhập thuần (NPV)



20



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Là chênh lệch giữa giá trị hiện tại ròng của dự án tại các thời điểm trong

tương lai và giá trị hiện tại của vốn đầu tư dự án.

• NPV>0: Dự án không những bù đắp đủ vốn đầu tư bỏ ra mà còn tạo ra lợi

nhuận.

• NPV=0: Dự án hòa vốn

• NPV<0: Dự án không đủ bù đắp vốn đầu tư, đem lại thua lỗ cho nhà đầu tư.

Đối với dự án loại trừ nhau thì dự án nào có NPV>0 và lớn nhất thì được

chọn.

NPV phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu, lãi suất chiết khấu càng lớn thì

NPV càng nhỏ và ngược lại. NPV cho biết khả năng sinh lời của dự án dưới tác

động của lãi suất chiết khấu chứ nó không cho biết tỷ lệ sinh lời mà tự bản thân

dự án có thể tạo ra được. Để khắc phục nhược điểm này, ta tính chỉ tiêu tỷ suất

hoàn vốn nội bộ.

 Hệ số hoàn vốn (IRR)

Là lãi suất chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại ròng của dự án bằng 0

(NPV=0). IRR chính là tỷ lệ lãi suất tối đa mà dự án có thể chịu đựng được để

đảm bảo thu hồi vốn đầu tư.

Dự án có hiệu quả khi IRR > 0 và IRR càng cao chứng tỏ hiệu quả tài

chính của dự án càng lớn. Tuy nhiên dự án được chọn phải có IRR > WACC ,

nếu nhỏ hơn hoặc bằng thì việc đầu tư sẽ ko có hiệu quả kinh tế. Không nên sử

dụng lãi suất ngân hàng để làm căn cứ chấp nhận dự án, bởi vì như vậy ngân

hàng đã vô hình đồng nhất rủi ro của dự án với rủi ro của ngân hàng.

 Thời gian hoàn vốn đầu tư (pp): Là khoảng thời gian sao cho các khoản thu nhập

từ dự án ( khấu hao và lợi nhuận sau thuế) đủ bù đắp vốn đầu tư vào dự án. Nó

chính là khoảng thời gian cần thiết để hoàn trả số vốn đầu tư ban đầu bằng các

khoản lợi nhuận thuần hoặc tổng lợi nhuận thuần và khấu hao thu hồi hàng năm.

+ Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn đầu tư:

PP = n + (số vốn đầu tư còn lại phải thu hồi / NCFn+1)

+ Xác định thời gian thu hồi vốn cho vay:

Tổng số vốn cho vay

Thời gian thu



=



21



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



hồi vốn cho vay

Khấu hao

+ Lợi nhuận

+Nguồn

hàng năm của TSCĐ

của dự án

khác

hình thành bằng vốn vay dùng để trả nợ

( nếu có)

 Điểm hoàn vốn của dự án

Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trải các khoản

chi phí phải bỏ ra. Phân tích điểm hoà vốn sẽ cung cấp thông tin cần thiết về sản

lượng cần tiêu thụ, doanh thu cần đạt được khi biết sản phẩm và doanh thu hoà

vốn. Phân tích điểm hoà vốn còn chỉ ra ngưỡng doanh nghiệp không bị lỗ, để

xác định mô đầu tư, quy mô sản xuất nhằm đạt được lợi nhuận mong muốn.

 Số lần quay vòng của vốn lưu động

Số lần quay vòng vốn lưu động = Doanh thu thuần bình quân năm kỳ

nghiên cứu/ Vốn lưu động bình quân năm kỳ nghiên cứu.

Nếu số lần quay vòng của vốn lưu động bằng số vòng quay vốn lưu động

bình quân năm cho phép thì dự án có số quay vòng vốn tỷ lệ thuận với hiệu quả

hoạt động của dự án.

Nếu số lần quay vòng của vốn lưu động lớn hơn số vòng quay vốn lưu

động bình quân năm cho phép thì dự án không đạt hiệu quả hoạt động, cần được

sửa đổi.

 Tỷ suất sinh lời vốn của vốn đầu tư (PI)

Là giá trị hiện tại của dòng tiền đầu tư so với vốn đầu tư ban đầu. Đối với

các dự án độc lập, dự án nào có PI > 1 sẽ được chấp nhận, dự án có PI < 1 sẽ

loại bỏ. Trường hợp các dự án loại trừ lẫn nhau, dự án nào có PI lớn nhất và lớn

hơn 1 thì lựa chọn.

 Phân tích độ nhậy.



Là việc phân tích bất trắc, rủi ro của sự thay đổi một hoặc nhiều nhân tố

(giá cả, chi phí đầu tư, doanh thu...) ảnh hưởng đến NPV và IRR. Chỉ số nhạy

cảm cho ta biết sự thay đổi của NPV hay IRR khi thay đổi từng nhân tố một

trong khi các nhân tố khác cố định. Cách phân tích như sau:

+ Xác định những biến số chủ yếu của chỉ tiêu hiệu quả tài chính

+ Đo lường % thay đổi của chỉ tiêu hiệu quả đến hiệu quả tài chính.

Phân tích độ nhạy của dự án cho phép nhận biết được những nhân tố đầu

vào có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu ra của dự án, từ đó có những chú ý đặc

biệt trong việc tính toán quản lý các yếu tố này về sau. Những dự án được coi là

22



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



an toàn nếu nó chịu ít ảnh hưởng từ các yếu tố đầu vào.

1.2.3

1.2.3.1



Chất lượng thẩm định tài chính dự án và các nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng thẩm định tài chính dự án tại ngân hàng thương mại

Khái niệm chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư.

Hoạt động thẩm định dự án nói chung và hoạt động thẩm định tài chính

nói riêng có ảnh hưởng quyết định và trực tiếp đến các khoản cho vay, từ đó ảnh

hưởng đến lợi nhuận, sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do

đó, nâng cao chất lượng thẩm định tài trợ dự án đầu tư là nhiệm vụ cấp bách và

thường xuyên của mỗi ngân hàng.

Chất lượng thẩm định dự án đầu tư là sự đáp ứng một cách tốt nhất các

yêu cầu của ngân hàng trong hoạt động cho vay: nâng cao chất lượng cho vay,

hỗ trỡ cho việc ra quyết định cho vay với phương châm sinh lợi và an toàn của

ngân hàng. Trong quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư, các cán bộ phải

đánh giá xem xét : dự án có mang lại lợi nhuận để có khả năng trả nợ cho ngân

hàng hay không? Thời gian trả nợ là bao nhiêu lâu?...vv

Vậy với chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư thể hiện mức độ

chính xác, trung thực và linh hoạt trong việc đánh giá khía cạnh tài chính của dự

án đầu tư. Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ đảm bảo cho các

quyết định đầu tư của ngân hàng hợp lý, tang lợi nhuận cho ngân hàng , rủi ro

không thu hồi được là thấp nhất.

 1.2.3.2 Các tiêu chí đánh giá công tác thẩm định tài chính dự án

đầu tư

Hoạt động thẩm định được cho là có chất lượng khi hỗ trợ đắc lực cho

việc ra quyết định có đầu tư, cho vay hay không và đầu tư phải an toàn cho ngân

hàng. Nếu như việc thẩm định có chất lượng tốt thì quyết định đầu tư của khách

hàng sẽ được đảm bảo, đồng thời tăng lợi nhuận cho ngân hàng; rủi ro không thu

hồi được vốn của ngân hàng là thấp nhất. Hiện nay ở nước ta chưa có một hệ

thống các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định để làm cơ sở. Dưới đây là một

số chỉ tiêu có thể đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư:

- Sự tuân thủ về các quy định thẩm định:

23



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



Thẩm định có đúng quy trình khoa học và toàn diện hay không

 - Thời gian và chi phí thẩm định: sự thuận tiện trong quá trình

thẩm định, thủ tục, thời gian thẩm định nhanh chóng, không gây phiền hà,

chi phí thẩm định hợp lý...





- Kết quả thẩm định: Mức độ khoa học, chính xác, toàn diện và



sâu sắc của các kết quả thẩm định về nguồn vốn đầu tư, dòng tiền của dự

án, các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, khả năng trả nợ… và vai trò của các kết

quả đó đối với việc ra quyết định tài trợ của ngân hàng.

- Sự phù hợp của các dự đoán so với thực tế khi dự án bắt đầu được thực

hiện. Điều này được thể hiện ở các chỉ tiêu như: tốc độ tăng trưởng dư nợ cho

vay nợ quá hạn; tỷ lệ dự án đạt hiệu quả trong tổng số dự án đã qua thẩm định;

tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khó đòi trong cơ cấu cho vay trung - dài hạn; thu nhập từ

cho vay theo dự án…

 1.2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính

dự án đầu tư

a. Các nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về nội bộ mà ngân hàng có thể

chủ động kiểm soát:

 Nhân tố con người:



Con người bao giờ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong mọi

công việc. Trong hoạt động thẩm định, chính con người xây dựng quy trình với

những chỉ tiêu, phương pháp, trình tự nhất định, đóng vai trò chi phối, quyết

định cả những nhân tố khác và liên kết các nhân tố với nhau.

Con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng thẩm định

phải kể đến các khía cạnh: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo

đức của người thẩm định. Kiến thức ở đây không chỉ là hiểu biết về nghiệp vụ

chuyên môn đơn thuần mà còn bao gồm hiểu biết về khoa học - kinh tế - xã hội.

Kinh nghiệm là những cái được tích luỹ qua hoạt động thực tiễn, năng lực và

khả năng nắm bắt xử lí công việc. Như vậy, trình độ cán bộ thẩm định ảnh

24



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định, hơn nữa rất quan trọng bởi vì thẩm

định dự án là công việc hết sức tinh vi, phức tạp, nó không đơn thuần là việc

tính toán theo những mẫu biểu sẵn có. Bên cạnh đó, tính kỉ luật cao, lòng say mê

với công việc và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo cho chất

lượng thẩm định.

 Thông tin và xử lý thông tin:



Thẩm định dự án đầu tư được tiến hành trên cơ sở các thông tin thu thập

từ nhiều nguồn . Vì thế thông tin là yếu tố quan trọng giúp cho việc thẩm định

được thành công. Việc thu thập các thông tin đúng, đủ, chính xác sẽ tạo điều

kiện cho cán bộ thẩm định đánh giá chính xác về dự án và doanh nghiệp, ra

quyết định đúng đắn, đảm bảo an toàn cho hoạt động tài trợ của Ngân hàng.

Ngân hàng coi hồ sơ dự án của chủ đầu tư gửi đến là nguồn thông tin cơ

bản nhất cho việc thẩm định. Tuy nhiên đây không phải là nguồn thông tin duy

nhất để Ngân hàng xem xét. Hiện nay, thông tin thường được cán bộ tín dụng

lấy từ trung tâm thông tin tín dụng CIC, từ các cơ quan hữu quan (thuế, trung

tâm đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng nhà nước, quản lý thị trường, hải

quan, quản lý nhà đất…), từ các tổ chức cá nhân thường xuyên có quan hệ với

khách hàng vay, từ thực tế quan sát tại doanh nghiệp, từ phương tiện thông tin

đại chúng và thông tin lưu trữ tại chính ngân hàng. Tuy vậy, việc thu thập thông

tin phải chú ý sàng lọc, lựa chọn những thông tin đáng tin cậy làm cơ sở cho

phân tích.

 Phương pháp thẩm định:



Với nguồn thông tin thu thập được, do mỗi dự án có một đặc trưng riêng

nhất định nên cán bộ thẩm định phải lựa chọn, đưa ra được phương pháp thẩm

định thống nhất và phù hợp.

 Công tác tổ chức điều hành:



Là việc bố trí sắp xếp quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân,

bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối quan hệ giữa các

cá nhân, bộ phận đó trong việc thực hiện. Cần có sự phân công phân nhiệm cụ

25



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



thể, khoa học và tạo ra được cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong khâu thực

hiện nhưng không cứng nhắc, không gò bó nhằm đạt được tính khách quan và

việc thẩm định được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện, bảo đảm chính xác từ đó

nâng cao được chất lượng thẩm định.

 Ứng dụng khoa học công nghệ



Hiện nay, trong các Ngân hàng việc lưu trữ và xử lý thông tin hầu hết

được thực hiện trên máy tính. Đồng thời hệ thống mạng cũng giúp Ngân hàng

thuận lợi trong việc khai thác thu thập thông tin. Nhờ đó, công tác thẩm định

được tiến hành dễ dàng hơn, giảm thiểu rủi ro do sai sót trong tính toán, tiết

kiệm thời gian tạo hiệu quả cao trong thẩm định.

b. Các nhân tố khách quan

Nhân tố không thuộc tầm kiểm soát của Ngân hàng, NH chỉ có thể thích nghi.

 Từ phía doanh nghiệp:



Dù trình độ cán bộ thẩm định có tốt đến đâu cũng khó có thể đi sâu và

nắm vững được tình hình nội bộ của doanh nghiệp. Như vậy chất lượng của việc

thẩm định khách hàng bị hạn chế. Do đó, việc cung cấp thông tin đúng, đủ,

chính xác của doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho cán bộ thẩm định đánh giá

chính xác doanh nghiệp. Bên cạnh đó,nếu trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự

án của chủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng thẩm định của

Ngân hàng: phải kéo dài thời gian phân tích, tính toán, thu nhập thêm thông tin.

 Môi trường pháp lý:



Chủ trương chính sách, kế hoạch phát triển của Nhà nước: Các dự án phát

triển là các dự án thường sử dụng nguồn lực của đất nước và để đạt được những

mục tiêu xác định của chủ đầu tư cũng như của xã hội. Nhà nước bao giờ cũng

thể hiện sự quan tâm của mình đến lĩnh vực này vì nó ảnh hưởng tới sự phát

triển chung của nền kinh tế xã hội. Một dự án đầu tư , nhất là các dự án có quy

mô lớn đều cần phải có sự phê duyệt của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Vì vậy khi Ngân hàng thẩm định dự án không thể đi ngược lại với chiến lược

26



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



chung của quốc gia. Những khiếm khuyết trong tính hợp lí đồng bộ và hiệu lực của

các văn bản pháp lí của Nhà nước đều tác động xấu đến chất lượng thẩm định.

 Những biến động của thị trường:



Một dự án đầu tư thường có tuổi thọ khá dài. Do đó, nhận định của Ngân

hàng có thể bị sai lệch do yếu tố thị trường thay đổi làm cho xuất hiện hoặc

thành hiện thực các loại rủi ro tiềm ẩn từ trước. Bên cạnh đó, những biến động

của thị trường rất phức tạp, nó vượt ra ngoài vòng kiểm soát của doanh nghiệp,

ảnh hưởng tới dự án và đương nhiên Ngân hàng rất khó có thể thu hồi vốn và có

lãi như dự kiến. Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp cũng như Ngân hàng phải có

những phương pháp tích cực dự báo về thị trưòng thật tốt nhằm giảm thiểu rủi

ro. Đặc biệt với các dự án vay vốn bằng ngoại tệ , công tác thẩm định còn bị ảnh

hưởng bởi các yếu tố mang tính chất quốc tế, nhất là biến động về chính trị và

tài chính làm cho tiền tệ và giá cả thế giới mất ổn định. Ngoài ra nó còn bị ảnh

hưởng bởi chính sách quản lý ngoại tệ của Nhà nước.



27



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng

CHƯƠNG II



THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á CHI NHÁNH THANH

HÓA

2.1 Giới thiệu chung về cho vay theo dự án đầu tư của Ngân hàng

Thương mại cổ phần Đông Nam Á chi nhánh Thanh Hóa

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.

Ngày 29/11/2010 tại Thành phố Thanh Hóa Seabank chính thức khai

trương chi nhánh Thanh Hóa tại địa chỉ số 10 Đại lộ Lê Lợi, Phường Điện Biên,

TP. Thanh Hóa, đây là chi nhánh thứ 20, cũng là điểm giao dịch thứ 100 trên

toàn quốc.

Ngay từ khi thành lập Chi nhánh ngân hàng TMCP Đông Nam Á Thanh

Hóa đã được phép thực hiện mọi hoạt động ngân hàng tín dụng, thanh toán trong

và ngoài nước, tham gia các hoạt động mua bán ngoại tệ.

Chi nhánh NH TMCP Đông Nam Á Thanh Hóa là một chi nhánh ngân

hàng mới được thành lập nên quy mô hoạt động còn nhỏ nhân sự còn hạn chế.

Bởi vậy phương châm hoạt động của chi nhánh là gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả

và an toàn. Chính phương châm này, chi nhánh SeAbank Thanh Hóa đã tự hoàn

thiện mình,



luôn phát huy những kinh nghiệm tiếp thu được, sáng tạo năng



động, dám nghĩ dám làm để phát triển và kinh doanh có lợi nhuận.

SeAbank Thanh Hóa là chi ngánh ngân hàng cấp 1 là đơn vị trực thuộc

SeAbank Việt Nam. Với mạng lưới ngoài trụ sở chính gồm 2 phòng giao dịch là

phòng giao dịch Nguyễn Trãi và phòng giao dịch Trường Thi.

Từ khi được cấp phép hoạt động đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn khác

nhau cùng với sự thăng trầm của nền kinh tế đất nước, Ngân hàng cũng chịu

nhiều ảnh hưởng của các chính sách kinh tế trong và ngoài nước, tuy nhiên nhờ

có đường lối đúng đắn và lĩnh vực hoạt động đặc trưng riêng và những sản

phẩm cạnh tranh mà ngân hàng vẫn đứng vững qua nhiều thay đổi, phát triển

28



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Khóa luận tốt nghiệp



Khoa Tài chính - Ngân hàng



mạnh và có những bước đi bền vững khẳng định được thương hiệu tên tuổi của

mình trong ngành ngân hàng cũng như có chỗ đứng ổn định trong nền kinh tế.

2.1.2 Cơ cấu và tổ chức

Chi nhánh ngân hàng TMCP Đông Nam Á Thanh Hóa thực hiện điều

hành theo chế độ thủ trưởng và đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Căn cứ quy chế về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng TMCP

Đông Nam Á Thanh Hóa; căn cứ thực tế và yêu cầu hoạt động của chi nhánh

ngân hàng TMCP Đông Nam Á Thanh Hóa quy định về mô hình tổ chức và

nhiệm vụ cơ bản của các phòng, tổ thuộc chi nhánh như sau:

Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức của NH TMCP Đông Nam Á Chi nhánh Thanh Hóa.



(nguồn: phòng hành chính chi nhánh ngân hàng SeAbank Thanh Hóa)

Chú thích:

29



SV: Bùi Thị Ngọc Hạnh- 09D180256



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (68 trang)

×