1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

1 Các định nghĩa về nghèo đói

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (288.91 KB, 22 trang )


đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người

nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng

kiểm soát của họ (NHTG, 1990).

Như vậy, có thể thấy, khái niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của

từng quốc gia, vùng hay từng cộng đồng dân cư nhìn chung không có sự phân biệt

đáng kể. Hầu hết các tiêu chí xác định nghèo đói đều dùng mức thu nhập hay chi tiêu

đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn

hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau thường là ở chỗ mức độ thỏa mãn cao hay

thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán

của từng vùng, từng quốc gia và các tiêu chí để xác định nghèo đói cũng biến đổi theo

thời gian.

Tại Việt Nam chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị

chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng

Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, theo đó: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không

được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã

được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập

quán của địa phương”(N.T.Hoài, 2005)

Như vậy, tất cả những định nghĩa về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía

cạnh chủ yếu của người nghèo:

-



Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư;



-



Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con



người trong cộng đồng đó;

-



Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.



6.1.1 Nghèo tuyệt đối

Khái niệm nghèo tuyệt đối được hiểu là một người hoặc một hộ gia đình khi có

mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy

định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định.

(a) Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế

Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống

kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống

dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm 1997-1998). Đường đói nghèo ở mức thấp



4



gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao

hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và

phi lương thực, thực phẩm).

Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết

các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây

dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu

2.100 Kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt

được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm.

Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực,

thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có

đường đói nghèo chung.

(b) Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo

quốc gia

Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo

giai đoạn 2006-2010 đã được xây dựng trên 3 yêu cầu: (i) xóa đói giảm nghèo toàn

diện hơn, (ii) công bằng hơn và (iii) hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. Theo đó,

những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập bình quân dưới 200.000

đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo. Ở khu vực thành

thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3,12

triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo (Đây cũng là phương pháp xác định hộ

nghèo được Bộ LĐTBXH áp dụng).

(c) Nghèo tương đối

Theo Đ.P.Hổ (2006), Nghèo đói tương đối là tình trạng mà một người hoặc một

hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không

gian và thời gian nhất định. Như vậy, nghèo đói tương đối được xác định trong mối

tương quan xã hội về tình trạng thu nhập với nhóm người. Ở bất kỳ xã hội nào, luôn

luôn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội, do đó cũng theo khái

nhiệm này thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển

kinh tế nào.

Hộ gia đình là nghèo được định nghĩa là nếu mức độ chi tiêu bình quân đầu

người nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu hoặc 20% dân số có mức chi tiêu thấp



5



nhất. Lợi thế chính của phương pháp này là nó cho phép người ta xác định được rõ

hơn các nhân tố làm tách biệt các hộ giàu với các hộ có thu nhập gần bằng hoặc thấp

hơn giá trị trung vị.

6.2 Các thước đo chỉ số nghèo đói và bất bình đẳng

6.2.1 Chỉ số đếm đầu (P0) – Tỷ lệ hộ (người) nghèo

Thước đo được dùng rộng rãi nhất là chỉ số đếm đầu, chỉ số này đơn giản là đo tỷ

lệ người được tính là nghèo, thường ký hiệu là P0 với công thức sau:



N

1 N

P0 = ∑ I ( yi ≤ z ) = p

N i=1

N

Trong đó:

-



N là tổng số hộ hay tổng dân số và



-



I(yi ≤ z) là hàm chỉ thị có giá trị bằng 1 khi biểu thức trong ngoặc là đúng và

ngược lại không đúng là 0. Vì vậy nếu chi tiêu (yi) nhỏ hơn chuẩn nghèo

(z), thì I(yi ≤ z) bằng 1 và hộ gia đình đó được tính là nghèo.



-



Np là tổng số người nghèo.



Chỉ số đếm đầu người là công thức đơn giản, dễ tính toán và dễ hiểu, đây là

những đặc trưng quan trọng. Tuy nhiên, chỉ số không chỉ ra mức độ trầm trọng của đói

nghèo, không phản ánh được mức độ đói nghèo, hay sự chênh lệch giữa chi tiêu so với

đường chuẩn nghèo.

6.2.2 Chỉ số khoảng cách nghèo

Một thước đo nghèo phổ biến là chỉ số khoảng cách nghèo (P 1), chỉ số xác định

mức độ thiếu hụt chung về thu nhập/chi tiêu của hộ nghèo (người nghèo) so với chuẩn

nghèo và được tính bằng phần trăm thiếu hụt bình quân so với chuẩn nghèo.

P=

1



1

N



N



Gi



∑Z

i =1



Trong đó: Gi (khoảng cách nghèo) là phần chênh lệch giữa chuẩn nghèo (z) và

thu nhập (chi tiêu) thực tế (y i) của người nghèo, khoảng cách được coi là bằng không

đối với bất kỳ ai khác không nghèo. Gi = (z – yi)*I(yi ≤ z)

Thước đo này là tỷ lệ khoảng cách nghèo bình quân trong dân cư (trong đó người

không nghèo có khoảng cách bằng không). Đây cũng có thể coi là chi phí giảm nghèo

đói (tương đối so với chuẩn nghèo), bởi vì nó cho biết cần phải chuyển bao nhiêu cho

6



người nghèo để mang lại cho người nghèo có thu nhập (chi tiêu) vượt lên chuẩn

nghèo. Chi phí tối thiểu giảm nghèo đói dùng chuyển tiền đúng mục tiêu đơn giản là

tổng toàn bộ khoảng cách nghèo trong dân cư. Mỗi khoảng cách nghèo được lấp đầy

đến chuẩn nghèo.

Chỉ số này có thể cho ta thấy chi phí giảm nghèo đói tối đa. Từ công thức của chỉ

số, có thể xem xét tỉ lệ chi phí giảm nghèo đói tối thiểu đúng mục tiêu với chi phí tối

đa không đúng mục tiêu (tức là chuẩn nghèo z, liên quan đến việc cung cấp cho mọi

người đủ tin rằng họ không nằm dưới chuẩn nghèo). Do đó thước đo này là một chỉ

tiêu tiết kiệm tiềm năng theo mục tiêu của ngân sách giảm nghèo.

Ưu điểm của thước đo khoảng cách nghèo đó là chỉ ra được độ sâu và quy mô

của nghèo đói, phản ánh thu nhập/chi tiêu của người nghèo cách xa chuẩn nghèo bao

nhiêu. Nhưng hạn chế của thước đo này là chưa phản ánh phân phối thu nhập giữa

những người nghèo. Sự chuyển đổi từ hộ nghèo này sang hộ nghèo khác (biến đổi giữa

các nhóm trong hộ nghèo đói) về thu nhập/chi tiêu của những người nghèo không làm

P1 thay đổi.

6.2.3 Chỉ số khoảng cách nghèo đói bình phương

Để thấy rõ thành phần của những hộ nghèo, người ta dùng chỉ số khoảng cách

nghèo đói bình phương

1 N G 

P = ∑ i 

1

N i =1  Z 



2



6.2.4 Đường cong Lorenz và hệ số Gini

Dùng để nghiên cứu và phân tích vấn đề về bất bình đẳng. Giá trị của hệ số Gini

nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Hệ số Gini được tính trên cơ sở của đường cong Lorenz,

một đường cong cộng dồn các tần suất để so sánh phân phối của một biến (thí dụ biến

chi tiêu) với phân phối đơn vị thể hiện sự bình đẳng. Để xây dựng hệ số Gini và thiết

lập đường cong Lorenz, trước hết phải sắp xếp thứ tự hộ gia đình (người) có thu

nhập/chi tiêu từ thấp tới cao (ở đây giả sử chi tiêu), tiếp đến tính tỷ trọng số hộ gia

đình, và tỷ trọng chi tiêu cộng dồn của những người này trong tổng chi tiêu của cộng

đồng.



7



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

×