1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

3 Các kết quả nghiên cứu có liên quan đến nghèo đói

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (288.91 KB, 22 trang )


Sống bằng nông nghiệp là chủ yếu

Hơn 77% số hộ nghèo làm việc trong các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp và

ngư nghiệp, 9% làm việc trong ngành công nghiệp và 13% làm việc trong ngành dịch

vụ. PPA cũng khẳng định rằng đói nghèo có mối liên hệ chặt chẽ với nông nghiệp với

lưu ý rằng phần lớn các hộ gia đình nghèo sống ở vùng nông thôn và chỉ trồng lúa.

Trong các hộ nông dân, những hộ nghèo thường là những hộ thiếu hoặc không có

đất, do vậy, phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập làm thuê. Trình độ học vấn thấp làm họ

có rất ít cơ hội tìm việc ngoài công việc nhà nông vốn là công việc không ổn định và

cho thu nhập thấp. Trong một số năm gần đây cũng có ít cơ hội việc làm phi nông

nghiệp ở đây. Có thể việc những người có trình độ và kỹ năng nhất định di cư đến các

thành phố lớn và trung tâm công nghiệp (như TP.HCM, Bình Dương) và tăng lao động

nông nghiệp mùa vụ cũng là nguyên nhân của việc tăng mức chi tiêu tổng thể trong

vùng.

Trình độ học vấn thấp

Tỉ lệ đói nghèo có tương quan đến trình độ học vấn. Tỉ lệ đói nghèo của những

người chưa hoàn thành tiểu học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là 30% (thấp hơn so

với tỉ lệ 40% của cả nước) trong khi hầu như không có tình trạng đói nghèo trong số

những người có trình độ học vấn cao hơn hoặc học nghề. Nếu không có trình độ học

vấn nhất định, công nhân sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc học hỏi những kỹ năng

và kỹ thuật mới để nâng cao năng suất. Các bậc cha mẹ có trình độ học vấn thấp

thường không nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của giáo dục, từ đó không cố

gắng tạo điều kiện cho con em đến trường, khuyến khích con em học tốt và học cao

hơn.

Có mối tương quan chặt giữa giáo dục và các đặc điểm khác của người nghèo.

Trình độ học vấn ở nông thôn thấp hơn ở thành thị, đặc biệt là trình độ học vấn của các

dân tộc thiểu số thấp hơn đáng kể so với người Kinh và Hoa.

Ít tài sản và đất

Việc không có đất là một trong những trở ngại chính trong xoá đói giảm nghèo ở

vùng ĐBSCL. So sánh năm 2002 giữa các vùng cho thấy ĐBSCL đứng thứ hai về tỉ lệ

nông dân không có đất ở nông thôn, chỉ sau vùng Đông Nam Bộ. Hơn nữa, chỉ ở vùng



9



ĐBSCL mới có tình trạng là không có đất tỉ lệ thuận với đói nghèo, trái ngược với các

vùng còn lại.

Việc sở hữu các tài sản lâu bền, đặc biệt là điện thoại, tủ lạnh, xe đạp và xe máy

là rất khác biệt giữa các hộ gia đình. Vùng ĐBSCL có tỉ lệ nhà tạm cao nhất so với các

vùng khác và người nghèo hầu hết sống trong các nhà tạm.

Nghèo đói với dân tộc thiểu số

Các dân tộc thiểu số chiếm khá nhiều trong diện nghèo ở ĐBSCL. Dân tộc

Khmer đông nhất trong số các dân tộc thiểu số ở đây. Các tỉnh có tỉ lệ nghèo cao nhất

cũng là các tỉnh có số người Khmer cư trú nhiều nhất. Ở các tỉnh có người Khmer sinh

sống tỉ lệ người Khmer nghèo luôn hơn hẳn các dân tộc thiểu số khác.

Theo kết quả nghiên cứu của AusAid (2004): Kết quả phân tích đặc điểm của

người nghèo ở ĐBSCL gồm có bốn nhóm bất lợi chính như sau:

Nhóm không có đất và ít đất canh tác

Số dân không có đất hoặc hầu như không có đất canh tác trong vùng ĐBSCL là

đáng kể và ngày càng tăng. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các gia đình không có

đất là vì đã bán đất với các nguyên nhân: mất mùa và do những biến động kinh tế đột

ngột gây ra bởi bệnh tật hay thiên tai. Phải bán đất để lấy tiền, thường là để trả nợ. Bán

đất vì vậy là hậu quả, hơn là nguyên nhân gốc của nghèo. Tuy nhiên, bán đất có thể

dẫn đến nguy cơ cao hơn là người nghèo không có đất canh tác phải sống lệ thuộc vào

công việc làm thuê thu nhập thấp không ổn định. Nhóm nông dân không có đất canh

tác có tỉ lệ nghèo cao hơn các nhóm khác trong vùng.

Nhóm dân tộc thiểu số - Người Khmer

Trong số 3 nhóm dân tộc thiểu số sống trong vùng ĐBSCL (Khmer, Hoa và

người Chăm), người Khmer chiếm tỉ lệ cao nhất và là nhóm bị bất lợi nhất về mặt

kinh tế xã hội. Người nghèo Khmer giống như những người nghèo khác trong vùng,

với chiều hướng có ít hoặc không có đất và ít có cơ hội tìm được một công việc ổn

định. Công việc họ có thể kiếm được hầu hết là lao động chân tay với thu nhập

thấp. Đây là nhóm đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi các biến động về kinh tế vì họ có ít tài

sản. Người nghèo Khmer cũng có chiều hướng sống tách biệt với các tổ chức của điạ

phương, họ ít tiếp xúc với cán bộ xã và ít có cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết

định trong địa phương mình.



10



Nhóm “làm thuê”

Trên nửa số người nghèo ở một số tỉnh trong vùng ĐBSCL đang làm thuê trong

lĩnh vực nông nghiệp và đây là nguồn thu nhập chính của họ. Công việc như vậy

mang tính thời vụ cao và thường thu nhập không đủ sống. Số lượng lao động dư thừa

trong vùng dẫn đến mức tiền công thấp. Số lượng doanh nghiệp mới thành lập ở

ĐBSCL không nhiều, làm hạn chế cơ hội việc làm phi nông nghiệp. Trình độ thấp của

người nghèo cũng hạn chế cơ hội tìm việc làm tốt hơn và tăng thu nhập cao hơn.

Phụ nữ

Tiền công của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp ít hơn hai phần ba so với mức

của nam giới. Phụ nữ đặc biệt bất lợi do chiều hướng tại một số tỉnh ĐBSCL chuyển

làm lúa sang nuôi tôm, vì việc nuôi tôm được xem là công việc của đàn ông. Phụ nữ

phải làm công việc nặng nhọc cả trong nhà lẫn ngoài xã hội, dẫn đến suy kiệt sức

khỏe, làm hạn chế khả năng tiếp cận với giáo dục. Đặc biệt dễ bị ảnh hưởng là phụ nữ

Khmer.

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2005) tình trạng đói nghèo ở Đông Nam Bộ chịu ảnh

hưởng nhiều nhất từ các yếu tố: tình trạng việc làm, tình trạng sở hữu đất đai, khả năng

tiếp cận nguồn vốn chính thức, vấn đề dân tộc thiểu số, qui mô hộ và giới tính của chủ

hộ. Công trình được nghiên cứu ở vùng gần vùng nghiên cứu và có nhiều điểm tương

đồng với vùng biên giới Tây Nam, ta có thể áp dụng phương pháp nghiên cứu và các

nhân tố ảnh hưởng của mô hình cho nghiên cứu ở vùng biên giới Tây Nam.

Theo Dominique Haughton (2001) tình trạng đói nghèo ở Việt Nam bị ảnh hưởng

bởi các nhân tố sau đây. Phụ nữ là chủ hộ có xu hướng rơi vào cả hai nhóm cực của

dãy phân bố chi tiêu, với một tỉ lệ tương đối lớn trở thành hộ giàu hoặc rơi vào hộ

nghèo; ảnh hưởng của yếu tố nữ giới đến nghèo đói không có ý nghĩa thống kê. Học

vấn, dân tộc, tỉ lệ phụ thuộc và vùng địa lý sinh sống có ảnh hưởng đến nghèo đói.

Công trình này là kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả dựa trên bộ số liệu của cuộc

điều tra mức sống dân cư Việt Nam lần thứ nhất (VLSS93) và lần hai (VLSS98).

Chúng ta có thể áp dụng phương pháp nghiên cứu này để áp dụng cho đề tài nghiên

cứu.

Theo Lilongwe và Zomba (2001), tình trạng đói nghèo ở Malawi bị ảnh hưởng

bởi: Tuổi người đứng đầu gia đình, tỉ lệ người phụ thuộc, Qui mô hộ gia đình, giáo



11



dục, nghề nghiệp, việc làm nông nghiệp, khả năng tiếp cận với các dịch vụ, vùng

miền. Trong đó: Tuổi người đứng đầu gia đình tỉ lệ thuận với đói nghèo ở nông thôn,

không có ý nghĩa với thành thị, tỉ lệ người phụ thuộc đặc biệt là trẻ em ảnh hưởng rất

lớn đến mức sống của hộ gia đình. Đối với các hộ ở khu vực thành thị, khi tăng một trẻ

dưới 9 tuổi thì mức chi tiêu của hộ đã giảm đến 30%, đối với khu vực nông thôn, mức

chi tiêu giảm xấp xỉ 20%. Công trình được nghiên cứu ở một nước kém phát triển với

các điều kiện kinh tế xã hội gần giống Việt Nam. Chúng ta có thể tham khảo phương

pháp nghiên cứu của các tác giả này để áp dụng cho Việt Nam.

Theo Dự án diễn đàn miền núi Ford (2004), sống ở khu vực nông thôn, người dân

tộc, qui mô hộ gia đình, tỷ lệ phụ thuộc, giáo dục, khả năng tiếp cận đường ôtô, giao

thông chở khách, điện, khuyến nông, chợ là những nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo ở

các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Dựa trên bộ dữ liệu điều tra mức sống dân cư

năm 1998 và 2002 các tác giả đã phản ảnh được bức tranh tương quan về đói nghèo

của vùng miền núi phía Bắc. Phương pháp phân tích có thể được áp dụng cho vùng

biên giới phía Nam.

Theo Võ Tất Thắng (2004) tình trạng đói nghèo ở Ninh Thuận chịu ảnh hưởng

nhiều nhất từ 6 yếu tố, đó là tình trạng việc làm, tình trạng sở hữu đất đai, khả năng

tiếp cận nguồn vốn chính thức, vấn đề dân tộc thiểu số, quy mô hộ và giới tính của chủ

hộ. Đây là nghiên cứu đầu tiên có sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá nghèo ở

Ninh Thuận, điểm mới của nghiên cứu này là tác giả đưa vào biến tiếp cận nguồn vốn

chính thức mà loại bỏ biến vay nóng từ bên ngoài. Trong khi đó công trình nghiên cứu

của Hoff và Stiglitz (1993) cho thấy các định chế tài chính không chính thức cũng góp

phần làm tăng thu nhập cho người dân. Do đó, kế thừa khung phân tích của mô hình

này ta có thể thêm vào biến “vay ngoài ngân hàng” để phân tích cho vùng biên giới

Tây Nam bộ.

Theo Bùi Quang Minh (2007) quy mô đất của hộ và quy mô hộ là hai yếu tố

chính ảnh hưởng đến tình trạng đói nghèo ở Bình Phước. Công trình nghiên cứu của

tác giả này đã phản ánh được thực trạng nghèo đói của tỉnh Bình Phước đặc biệt là đã

tập trung vào nghiên cứu nhóm nghèo nhất trong các hộ nghèo. Các biến phân tích của

tác giả cũng gần giống các biến của các tác giả khác khi phân tích về nghèo đói. Từ



12



công trình nghiên cứu này chúng ta có thể sử dụng lại khung phân tích mà tác giả đã

áp dụng ở Bình Phước để phân tích cho vùng biên giới Tây Nam bộ.

Theo Trương Thanh Vũ (2007) khi nghiên cứu về nghèo đói ở vùng ven biển

ĐBSCL, cho thấy các nhân tố: trình độ học vấn của người lao động, số người không

có hoạt động tạo thu nhập trong hộ, loại công việc chính, giới tính của chủ hộ, diện

tích đất sản xuất của hộ và đường ôtô đến được thôn/ấp của hộ tác động có ý nghĩa

thống kê đến xác suất rơi vào nghèo đói của hộ. Đây là công trình nghiên cứu dựa trên

bộ số liệu VHLSS2004 áp dụng cho vùng ven biển của ĐBSCL. Chúng ta có thể sử

dụng lại các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói của mô hình này để phân tích, đánh giá

và so sánh cho nghiên cứu của đề tài.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1 Sử dụng chi tiêu bình quân làm tiêu chí phân tích nghèo

Trong phân tích, chúng tôi chọn chi tiêu bình quân đầu người làm tiêu chí phân

tích nghèo. Những lý do mà số liệu chi tiêu chính xác hơn thu nhập:

Do tâm lý, người dân thường có xu hướng khai thấp thu nhập của mình. Thu

nhập càng cao càng khai thấp. Hơn nữa, nguồn thu của nông hộ thường khó xác định

một cách đầy đủ. Do công việc của người dân không ổn định, nay làm việc này, mai

làm việc kia nên không nhớ tất cả các khoản thu của mình.

Mặc khác, thu nhập từ các loại cây lâu năm là rất khó tính được vào kỳ phỏng

vấn dù có chi phí chăm sóc. Thu nhập từ các loại gia súc không thể tính được hàng

năm, vì có thể nhiều năm hộ gia đình mới bán. Làm ăn, buôn bán, nuôi trồng luôn biến

động, lời lỗ thất thường. Tuy nhiên, trong một năm, một hộ có thể có thu nhập âm

nhưng không thể cho rằng đây là hộ nghèo được. Ngược lại, chi tiêu thường dựa vào

tài sản hiện có trong gia đình hoặc dựa vào kỳ vọng nguồn thu nhập sắp tới của hộ.

Nếu là hộ nghèo thì chi tiêu sẽ hạn chế do tâm lý, ngoài ra việc đi vay để chi tiêu là rất

khó khăn vì chủ nợ không cho vay, hơn nữa những khoản này thường là nhỏ.

Những loại chi tiêu tăng cao bất thường cũng có khi xảy ra, chẳng hạn như chi

tiêu cho việc chữa bệnh, mua các vật dụng đắt tiền, sửa chữa hay xây nhà nhưng

những loại chi tiêu này chỉ thường có ở những hộ không nghèo. Trong trường hợp chi



13



cho khám và chữa bệnh ở hộ nghèo thì đã có bảo hiểm y tế, nếu không thì họ cũng

không đi đến cơ sở y tế vì chi phí cao mà họ lại không có tiền1.

Chi tiêu không những ít bị khai thấp hơn thu nhập mà nó còn ổn định hơn từ năm

này qua năm khác, đồng thời kế thừa các nghiên cứu trước, chúng tôi dùng các thước

đo chi tiêu nhằm phản ánh mức sống trong nghiên cứu này.

7.2 Cở sở xác định nghèo

Với mục đích của nghiên cứu là xác định rõ các nhân tố làm tách biệt các hộ

nghèo và không nghèo, chúng tôi sử dụng phương pháp chọn hộ nghèo tương đối.

Phương pháp này đã được sử dụng để phân tích các Điều tra Mức sống dân cư ở Việt

Nam 1993-1998. Hộ gia đình là nghèo được định nghĩa là hộ nằm trong 1/5 nhóm hộ

có mức chi tiêu bình quân đầu người thấp nhất; hộ không nghèo được hiểu là hộ nằm

trong 80% dân số còn lại.

7.3 Nguồn số liệu

Sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2006 do Tổng Cục thống

kê tiến hành điều tra trong cả nước. Mẫu điều tra thu nhập và chi tiêu gồm 9.189 hộ

sống trong 3.100 xã/phường với đầy đủ 8 nội dung điều tra và phần mở rộng về giáo

dục và y tế, đại diện cho cả nước, thành thị nông thôn và 8 vùng sinh thái.

Nội dung điều tra của VHLSS bao gồm: Đặc điểm nhân khẩu học, giáo dục, y

tế và chăm sóc sức khoẻ, thu nhập, chi tiêu, tài sản và đồ dùng của hộ, nhà ở và

phương tiện vệ sinh, tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo và tín dụng. Ngoài ra

còn bảng câu hỏi xã, trường và trạm y tế.

Tính ưu việt của bộ số liệu này là với số lượng lớn câu hỏi trong các mục khác

nhau tạo ra nhiều cách để kiểm tra lại tính nhất quán của nó. Do đó, VHLSS 2006 trở

nên quan trọng cho các nghiên cứu về nghèo đói và những vấn đề kinh tế - xã hội

khác.

Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi lọc lấy dữ liệu của các hộ gia đình sống

trong vùng biên giới Tây Nam, cụ thể là ở các huyện ven biên giới của ĐBSCL và

những huyện có điểm gần nhất của ranh giới huyện so với đường biên giới là 20km 2.

Mẫu khảo sát có 231 hộ dân cư vùng nông thôn sinh sống trong 77 xã thuộc 24 huyện

1



Võ Tất Thắng (2004), Thực trạng và những yếu tố tác động đến nghèo ở tỉnh Ninh Thuận



2



Do người dân có quyền đi lại qua khỏi ranh giới huyện tự do. Người dân ở các huyện lân cận biên giới cũng có

điều kiện dễ dàng đi lại và làm ăn trong khu vực biên giới.



14



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

×