1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.98 MB, 91 trang )


- P.V.Khuđôminxky cho rằng: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ

thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các

cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo

dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và

hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung của xã

hội cũng như quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự

phát triển thể chất và tâm trí của trẻ em".[16]

Một số tác giả Việt Nam đã định nghĩa quản lý giáo dục như sau:

- "Quản lý giáo dục theo định nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành

phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ

trẻ theo yêu cầu xã hội". [20]

- "Quản lý nhà trường, QLGD nói chung là thực hiện đường lối giáo

dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường

vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục".[30]

- "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế

hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo

đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của

nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá

trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến

lên trạng thái mới về chất". [36]

Từ những khái niệm về quản lý giáo dục, ta có thể hiểu là: Quản lý

giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng tới

đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình

dạy học và giáo dục ở các trường học.

- “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý

vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi giáo viên và học sinh, với sự hỗ

trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn

diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường".[34]



7



1.1.1.3. Biện pháp và biện pháp quản lý

Biện pháp là "Cách làm, cách thức tiến hành một vấn đề cụ thể nào đó"

(Từ điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng, 1997).

Biện pháp quản lý : "Là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên khách

thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý".

1.1.2. Khái niệm về thông tin và hệ thống thông tin

1.1.2.1. Khái n iệm về thông tin và công nghệ thông tin

a) Khái niệm về thông tin:

Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, con người thường xuyên

cần đến thông tin. Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, thông tin ngày càng

trở thành một trong những nhu cầu sống còn của con người và khái niệm

"thông tin" đang trở thành khái niệm cơ bản, chung của nhiều khoa học.

Nhưng từ "lăng kính" của mỗi khoa học ấy chúng ta chỉ nắm bắt được khái

niệm thông tin ở từng phương diện.

Thông tin là một hiện tượng vốn có của vật chất, là thuộc tính khách

quan của thế giới vật chất. Nếu trong một sự vật đang diễn ra những biến đổi

phản ánh sự tác động của một sự vật khác, thì có thể nói rằng sự vật thứ nhất

đang trở thành vật thể mang thông tin về sự vật thứ hai. Nội dung của thông

tin chính là những thuộc tính, tính chất vốn có của sự vật với các sự vật hiện

tượng được bộc lộ ra, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với

các sự vật khác. Thông tin, vì thế là sự phủ định, sự xoá bỏ tính không khác

nhau, nói cách khác, thông tin có thể giải thích như là tính không khác nhau

bị xoá bỏ, là tính đa dạng... Thông tin có mặt ở nơi nào có tính đa dạng, tính

không đồng nhất.

Khái niệm thông tin đã được sử dụng từ lâu trong cuộc sống cũng như

trong khoa học, song việc định nghĩa nó một cách chính xác đầy đủ lại rất

khó khăn. Nói về bản chất của thông tin như tác giả Đặng Mộng Lân khẳng

định, vẫn là vấn đề chưa được giải quyết. Và, Norbert Winner - người sáng



8



lập điều khiển học, cũng tỏ ra bất lực khi đưa ra "định nghĩa": Thông tin là

thông tin, không phải năng lượng, không phải vật chất?.

Nhiều khái niệm về thông tin đã được đưa ra dưới nhiều góc độ nhìn

nhận khác nhau:

Dưới góc độ xã hội học: “Tất cả những gì có thể giúp con người hiểu

đúng về đối tượng mà họ quan tâm đến đều được gọi là thông tin”.

Với quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học: “Thông tin có thể

được hiểu là nội dung những trao đổi giữa hệ thống mà môi trường được sử

dụng nhằm mục đích điều khiển hoạt động của hệ thống đó”.

Với quan điểm của khoa học quản lý: “Thông tin được coi là những

tin tức mới được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho việc ra

các quyết định quản lý”.

Ngoài những cách tiếp cận theo từng góc độ trên, một số cách tiếp cận

đã có tầm khái quát hơn, chẳng hạn "thông tin là dữ liệu mà có thể nhận

thấy, hiểu được và sắp xếp lại với nhau hình thành kiến thức", hay "thông

tin là sự truyền đưa độ đa dạng" (R.Esbi) hoặc "Thông tin là nội dung thế

giới bên ngoài được thể hiện trong sự nhận thức của con người" (N.Viner),

V.G.Afanaxep viết: “Lượng thông tin được coi là mức giảm bớt tính bất

định nhờ việc truyền đạt thông tin”.

Cùng với sự phát triển của lý thuyết thông tin, điều khiển học, tin học

là những khoa học trực tiếp nghiên cứu thông tin, triết học đã không ngừng

cố gắng làm rõ bản chất chung nhất, khái quát nhất của thông tin. Cho đến

nay, tuy có những vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu nhưng một định

nghĩa của triết học về thông tin đã được nêu ra khá xác đáng, đó là: "Thông

tin là cái đa dạng được phản ánh".

b) Một số thuật ngữ sử dụng trong công nghệ thông tin:

Các thuật ngữ dưới đây được trích dẫn từ Điều 4, Luật Công nghệ

thông tin ban hành theo Luật số 67/2006/QH11 ngày 12/07/2006:



9



- Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công

nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý,

lưu trữ và trao đổi thông tin số.

- Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc

sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao

gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu.

- Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin

vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an

ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả

của các hoạt động này.

- Phát triển công nghệ thông tin là hoạt động nghiên cứu - phát triển

liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao

đổi thông tin số; phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; phát triển

công nghiệp công nghệ thông tin và phát triển dịch vụ công nghệ thông tin.

- Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh; cụm linh kiện; linh

kiện; bộ phận của thiết bị số, cụm linh kiện, linh kiện.

- Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu,

mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định.

- Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập

hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao

đổi thông tin.

- Số hóa là việc biến đổi các loại hình thông tin sang thông tin số.

1.1.2.2. Hệ thống thông tin

a) Hệ thống:

- Phần tử (element): Là tế bào của hệ thống, nó có tính chất riêng và

có tính độc lập tương đối. Trong giáo dục, khái niệm “phần tử” được hiểu

một cách linh hoạt, nó có thể là một lớp trong một trường học, một cấp học

trong một ngành học trong hệ thống GDQD, một bộ phận trong cơ cấu của



10



một cơ quan quản lý giáo dục (ví dụ một Vụ chỉ đạo trong cơ quan Bộ

GD&ĐT), cũng có thể là một mặt hoạt động của quá trình giáo dục tổng thể

(ví dụ hoạt động dạy và học), v.v...

- Hệ thống (System): Trong các hoạt động của con người, các thuật

ngữ như hệ thống triết học, hệ thống pháp luật, hệ thống kinh tế, hệ thống

thông tin đã trở nên quen thuộc. Một cách đơn giản và vắn tắt, ta có thể

hiểu: Hệ thống là một tập hợp vật chất và phi vật chất như người, máy móc,

thông tin, dữ liệu, các phương pháp xử lý, các qui tắc, quy trình xử lý, gọi là

các phần tử của hệ thống. Trong hệ thống, các phần tử tương tác với nhau và

cùng hoạt động để hướng tới mục đích chung.

Như vậy có thể nói: Hệ thống là tập hợp các phần tử (thành tố) có

quan hệ và liên hệ với nhau, có sự tác động chi phối lên nhau theo các định

luật nhất định để cho hệ thống trở thành một chỉnh thể thống nhất, thực hiện

những mục tiêu nhất định.

Chính vì vậy, mới có sự xuất hiện tính chất vượt trội của hệ thống,

hay “tính trồi” (emergence) của hệ thống mà khi các phần tử đứng riêng rẽ

không thể tạo ra được. Có thể nói, tính trồi của hệ thống chứa đựng bản chất

tổ chức, quản lý. Không có nhân tố này thì không có cái gọi là hệ thống, các

phần tử sẽ đứng riêng rẽ, rời rạc, ô hợp.

Trên quan điểm quản lý, người ta có thể định nghĩa hệ thống là tập

hợp các phần tử có liên quan đến nhau, hoạt động để hướng tới mục đích

chung theo cách tiếp nhận các yếu tố đầu vào, sinh ra các yếu tố ra trong

một quá trình xử lý có tổ chức.

Với quan niệm này, có thể khái quát hệ thống bao gồm 3 khối cơ bản:

- Khối các phần tử đầu vào.

- Khối các phần tử của quá trình xử lý.

- Khối các phần tử đầu ra.

ĐẦU VÀO



QUÁ TRÌNH

XỬ LÝ



11



ĐẦU RA



Sơ đồ 1.1: Các thành phần của một hệ thống

b) Hệ thống thông tin (information system):

Hệ thống thông tin: Là một hệ thống mà mục tiêu tồn tại của nó là

cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của con người trong một tổ chức

nào đó. Ta có thể hiểu hệ thống thông tin là hệ thống mà mối liên hệ giữa

các thành phần của nó cũng như mối liên hệ giữa nó với các hệ thống khác

là sự trao đổi thông tin.

Một số ví dụ về hệ thống thông tin:

- Máy tính là một hệ thống thông tin.

- Hệ thống thông tin quản lý có máy tính tham gia : Một máy tính là

công cụ để xử lý thông tin. Khi hoạt động, có thành phần của máy tính trao

đổi thông tin với nhau. Như vậy, máy tính cũng là một hệ thống thông tin.

Thiết bị đầu cuối



Kho dữ liệu



CPU

(CenterProcesing Unit)



Máy tính là một hệ thống thông tin

Input



Computer System



Output



Saves files



Sơ đồ 1.2: Các hệ thống thông tin

- Các hệ thống thông tin quản lý trong các tổ chức kinh tế xã hội như

hệ thống quản lý nhân sự, hệ thống kế toán, hệ thống quản lý lịch công tác là

các ví dụ điển hình về hệ thống thông tin.



12



Có thể khái quát: Hệ thống thông tin là hệ thống tiếp nhận các nguồn

dữ liệu như các phần tử vào và chúng được xử lý thành các sản phẩm thông

tin là các phần tử ra.

Tương tự như hệ thống, hệ thống thông tin cũng gồm 3 khối cơ bản:

Nhập dữ liệu  Xử lý dữ liệu  Thông tin ra.

Trong một hệ thống thông tin, ngoài các thành phần cơ bản : nhập dữ

liệu, xử lý dữ liệu, thông tin ra; chúng ta cần có 4 hệ nguồn:

- Nguồn nhân lực.

- Nguồn dữ liệu (thông tin thu thập được).

- Nguồn thiết bị, vật liệu: Các phương tiện thiết bị nghe nhìn (máy ghi

âm, ghi hình…), phần cứng máy tính, thiết bị in ấn, v.v...

- Các tri thức khoa học: Phần mềm tin học, kỹ thuật vẽ, chữ viết…

Ta có thể biểu diễn mô hình cơ bản của hệ thống thông tin như hình 1.3.

Nguồn nhân lực: Người dùng trực tiếp, các chuyên gia

Nguồn

thiết bị

vật liệu:

Phần

cứng,

thiét bị

nghe

nhìn, in

ấn



Điều khiển thực hiện hệ thống



Xử lý

dữ liệu



Nhập dữ liệu



Thông tin ra



Lưu trữ dữ liệu

Nguồn dữ liệu: Các dữ liệu thu thập, các cơ sở dữ liệu



Các tri

thức

khoa

học:

Phần

mềm tin

học, kỹ

thuật vẽ,

lập bảng

biểu…



Sơ đồ 1.3: Các thành phần của mô hình hệ thống thông tin

1.1.3. Khái niệm về hệ thống thông tin quản lý giáo dục

1.1.3.1 Hệ thống thông tin quản lý

Phần lớn hệ thống xử lý giao dịch thường được xây dựng nhằm phục

vụ cho một hoặc vài chức năng nào đó, hoặc chỉ đơn giản là giúp con người

giải thoát khỏi một số công việc tính toán, thống kê nặng nhọc. Khi xuất



13



hiện nhu cầu cung cấp các thông tin tốt hơn và đầy đủ hơn, cũng là lúc cần

đến những phương thức xử lý thông tin một cách tổng thể - hệ thống thông

tin quản lý.

Ví dụ về hệ thống thông tin quản lý như hệ thống quản lý nhân sự

trong một cơ quan, hệ thống quản lý sinh viên trong một trường đại học, hệ

thống kế toán trong một siêu thị. Hệ thống trợ giúp công tác điều hành bay

hoặc hệ thống quản lý bán hàng của một công ty.

Hệ thống thông tin quản lý là hệ thống có nhiệm vụ cung cấp các

thông tin cần thiết phục vụ cho việc quản lý điều hành một tổ chức. Thành

phần chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống thông tin quản lý là một cơ sở

dữ liệu hợp nhất chứa các thông tin phản ánh cấu trúc nội tại của hệ thống

và các thông tin về các hoạt động diễn ra trong hệ thống.

Với hạt nhân là cơ sở dữ liệu hợp nhất, hệ thống thông tin quản lý có

thể hỗ trợ cho nhiều lĩnh vực chức năng khác nhau và có thể cung cấp cho

các nhà quản lý công cụ và khả năng dễ dàng truy cập thông tin, hệ thống

thông tin quản lý có các chức năng chính:

+ Thu nhập, phân tích và lưu trữ các thông tin một cách hệ thống.

Những thông tin có ích được cấu trúc hoá để có thể lưu trữ và khai thác trên

các phương tiện khác nhau.

+ Thay đổi, sửa chữa, tiến hành tính toán trên các nhóm chỉ tiêu, tạo

ra các thông tin mới.

+ Phân phối và cung cấp thông tin.

Chất lượng của hệ thống thông tin quản lý được đánh giá thông qua

tính nhanh chóng trong đáp ứng các yêu cầu thông tin, tính mềm dẻo của hệ

thống và tính toàn về, đầy đủ của hệ thống.

Hệ thống thông tin quản lý là một cấu trúc tích hợp các cơ sở dữ liệu,

các dòng thông tin, các mối liên hệ qua lại giữa chúng làm tối ưu cho việc

thu thập, truyền và trình bày thông tin thông qua tổ chức nhiều cấp, thực



14



hiện nhiều nhiệm vụ để hoàn thành một mục tiêu thống nhất của công tác

quản lý.

Theo Mikitaku Aoki, bốn cấp chức năng hay gặp trong các tổ chức là:

Cấp chiến lược bao gồm những người lãnh đạo cao nhất, họ phải vạch

ra chương trình, mục tiêu, giám sát hoạt động của các bộ phận theo chức

năng được giao, phải quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định có tính

chiến lược.

Cấp sách lược thường bao gồm các trưởng phòng, trưởng ban, họ phải

quản lý các bộ phận, phân bổ các nguồn lực để giải quyết các vấn đề và

nâng cao hiệu quả công việc của bộ phận mình phụ trách, họ phải đưa ra các

quyết định có tính quản lý.

Cấp tác nghiệp gồm các tổ trưởng, chủ nhiệm… họ phải quản lý các

hoạt động có tính nghiệp vụ và ra các quyết định để làm cho công việc hàng

ngày có hiệu quả hơn.

Cấp nhân viên là những người thường xuyên phải trực tiếp giải quyết

các công việc cụ thể hàng ngày theo nhiệm vụ được phân công.

Hệ thống thông tin quản lý trong một tổ chức nhiều cấp luôn tồn tại

các dòng thông tin với các thành phần và cấp chức năng được minh hoạ cụ

thể trong sơ đồ hình 1.4.

Cấp chiến lược

Cấp sách lược

Cấp tác nghiệp

Cấp nhân viên



Ghi chú:



Ký hiệu dòng TT



15



Sơ đồ 1.4: Các cấp quản lý và mối liên hệ thông tin

Một hệ thống thông tin quản lý tốt cần đạt được các yêu cầu:

- Hỗ trợ chức năng xử lý dữ liệu trong quan hệ và lưu trữ.

- Dùng cơ sở dữ liệu hợp nhất và hỗ trợ cho nhiều lĩnh vực chức năng.

- Cung cấp cho người quản lý của các cấp chiến lược, sách lược, tác

nghiệp khả năng dễ dàng thâm nhập các thông tin theo thời gian, nhưng

phần lớn là thông tin có cấu trúc.

- Đủ mềm dẻo và có thể thích ứng được với những thay đổi về nhu cầu

thông tin của tổ chức.

- Giữ an toàn cho hệ thống để giới hạn việc thâm nhập của các nhân

viên không có quyền.

1.1.3.2. Quan niệm về hệ thống thông tin quản lý giáo dục:

Hệ thống thông tin quản lý giáo dục là tập hợp các phần tử:

- Các dữ liệu khoa học về giáo dục.

- Các cơ quan, tổ chức trong hệ thống giáo dục có chức năng thu thập,

xử lý, cung cấp và lưu giữ các dữ liệu giáo dục.

- Các yếu tố vật chất và kỹ thuật tham gia vào quá trình thu thập, xử

lý, truy xuất, khai thác thông tin quản lý giáo dục, v.v...

Các phần tử của hệ thống thông tin QLGD có mối liên hệ và thống

nhất theo những chế định của nhà nước mà đại diện là Chính phủ, Bộ Giáo

và Đào tạo dục, các chủ thể quản lý (các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở

GD-ĐT...) nhằm cung cấp thông tin có giá trị hỗ trợ nhà quản lý thực hiện

các chức năng quản lý của mình hướng tới việc nâng cao chất lượng quản lý

của nhà trường trên nhiều phương diện.

Ở đây, chúng ta cần lưu ý, hệ thống thông tin quản lý giáo dục có

nhiều điểm giống các hệ thống thông tin quản lý nói chung như: Mối liên hệ

chặt chẽ giữa các thành tố trong hệ thống, tính “trồi” của hệ thống, cũng như



16



giá trị của thông tin bổ trợ cho việc ra các quyết định quản lý, v.v… Tuy

nhiên, các hệ thống thông tin khác nhau có rất nhiều điểm khác biệt. Ví dụ

như: Hệ thống thông tin dự báo thời tiết, hệ thống thông tin giao thông, v.v..

Mỗi hệ thống thông tin có sự khác nhau rất lớn về hệ thống các khái niệm,

các tri thức… (thông tin) được chuyển tải, xử lý trong hệ thống, quy trình

thu thập xử lý và ra quyết định quản lý của các hệ thống cũng có nhiều điểm

khác biệt, các công cụ, phương pháp hỗ trợ cho hệ thống thông tin khác

nhau cũng có nhiều điểm khác nhau khá lớn. Bởi vậy, những lý thuyết

chung về thông tin, về hệ thống và hệ thống thông tin quản lý ở đây chúng ta

tạm dừng lại dưới góc nhìn của hệ thống thông tin quản lý giáo dục để tiện

cho quá trình nghiên cứu, áp dụng.

1.2. Vị trí, vai trò, mục tiêu của hệ thống thống tin quản lý giáo dục

1.2.1. Vị trí của hệ thống thông tin trong quản lý giáo dục

Để thực hiện được các chức năng quản lý giáo dục, bao gồm: lập kế

hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra; người quản lý luôn cần có thông tin. Hiệu

quả của quản lý liên quan chặt chẽ tới số lượng và chất lượng của thông tin

mà người quản lý thu nhận được.

Và như vậy, vị trí của thông tin trong các chức năng quản lý được xác

định trong sơ đồ hình 1.5.

Kế hoạch



Kiểm tra



THÔNG TIN



Tổ chức



Chỉ đạo

Sơ đồ 1.5: Vị trí của thông tin trong chức năng quản lý giáo dục

Để thực hiện được hoạt động quản lý (cũng như thực hiện từng chức

năng cụ thể), người quản lý (chủ thể quản lý) phải có thông tin để thực hiện



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

×