1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ KQHT CỦA HỌC VIÊN TRONG ĐTTT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.99 MB, 100 trang )


Giai đoạn đầu là sự giới thiệu các lớp học trực tuyến riêng biệt. Các

lớp học này dự định cung cấp cho các khu trường sở (Campus) và không

thay thế chúng. Đã có sự miễn cưỡng khi cải cách giáo dục để không thay

đổi các phương pháp dạy học truyền thống và sự miễn cưỡng này vẫn tồn

tại kéo dài trong một số trường hợp. Tuy vậy, các lợi ích của GDTT ngày

càng trở nên rỡ ràng hơn. Ngay bây giờ, một chương trình cấp bằng trực

tuyến có thể dễ dàng được tìm thấy từ các trường cao đẳng, các trường

chuyên nghiệp (Collesges). Hiện nay, các cơ hội từ GDTT tăng nhanh mỗi

ngày và bằng cấp trực tuyến đã được những người sử dụng lao động đón

nhận một cách tự nhiên cũng như Internet đã trở nên hòa nhập vào cuộc

sống thường ngày [2].

Cũng theo tác giả Natalie Aranda [1], E-Learning là một thuật ngữ rất

rộng. Nó thường được sử dụng để mô tả môi trường dạy học có sử dụng

máy tính. Có rất nhiều công nghệ có thể dùng cho E-Learning. Đào tạo từ

xa là một thuật ngữ đã được rút ra từ E-Learning. Thuật ngữ ĐTTX được

sử dụng để mô tả một môi trường học tập mà địa điểm lớp học thay đổi so

với lớp học truyền thống và trường sở.

E-Learning đã được bắt đầu cũng vào khoảng thời gian máy tính được

phát triển cho nhu cầu thực hành cá nhân. Trên thực tế, ý tưởng và thực

hành về ĐTTX xảy ra trước thời kỳ của máy tính hầu như 100 năm. Ở Anh,

vào năm 1840, các lớp học tốc ký đã được đề xuất bởi các khóa học tương

tự qua thư tín. Sự phát triển của dịch vụ bưu điện đã làm cho phương thức

của ĐTTX này thông dụng ở giai đoạn đầu thế kỷ trước. Phương thức này

đã dẫn đến một số lượng lớn các chương trình giáo dục “thông qua thư tín”.

Máy tính chỉ duy nhất làm cho ĐTTX dễ dàng hơn và tốt hơn. Tivi, máy

Video, và thậm chí Radio tất cả đã góp phần thúc đẩy ĐTTX phát triển [1].

Trong những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ E-Learning và

khả năng tạo một lớp học ảo và một môi trường học tập ảo (VLE: Virtual

Learning Environment) đã dần phá vỡ sự miễn cưỡng vẫn còn tồn tại khi

5



chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống sang E-Learning với sự trợ giúp

đắc lực của máy tính và hệ thống CNTT&TT.

Theo tổ chức Thomson NETg [39], các làn sóng phát triển của ELearning được chia thành các giai đoạn như sau:



Các làn sóng của E-Learning



Kỷ nguyên dạy học có

người hướng dẫn /Sử

dụng văn bản dựa trên

thảo luận máy tính



Kỷ nguyên

Đa phương tiện

1984 - 1993



Làn sóng thứ 1

/E-Learning

/sự thông tin đồng bộ

1994 - 1999



Làn sóng thứ 2

/E-Learning

/phần mềm xã hội

2000 - 2005



Hình 1: Các làn sóng của E-Learning



Giai đoạn trước năm 1983: Trước khi máy tính được phổ biến rộng

rãi, đào tạo có người hướng dẫn (ILT: Instructor-Led Training) là phương

thức đào tạo chính. ILT cho phép các sinh viên rời khỏi văn phòng làm việc

để tập trung vào học tập, tương tác với người hướng dẫn và các bạn cùng

lớp. Dù sao ITL cũng có nghĩa là chi phí cao và lãng phí thời gian làm việc

chính trong giờ hành chính, dẫn đầu là các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo để

tìm kiếm một con đường đào tạo tốt hơn.

Kỷ nguyên đa phương tiện (1984-1993): Máy tính cùng với hệ điều

hành Windows 3.1, Macintosh, CD-ROMs, Powerpoint. Đây là những lợi

thế của kỷ nguyên đa phương tiện. Trong một nỗ lực để làm cho đào tạo có

thể di chuyển được hơn và hấp dẫn trực quan hơn, các khóa đào tạo dựa

trên máy tính (CBT: Computer-Based Training) đã được triển khai bằng

CD-ROM. Sự tiện lợi của CD-ROM mọi lúc, mọi nơi đã làm giảm chi phí

mà ILT chưa làm được, giúp phục hồi lại kỹ nghệ đào tạo. Mặc dù có

những lợi ích rõ ràng, các khóa học CD-ROM còn thiếu sự tương tác của

6



người hướng dẫn và sự trình diễn động - làm giảm sự tập trung của sinh

viên.

Làn sóng thứ nhất của E-Learning (1994-1999): được phát triển dựa

trên Web. Các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu thăm dò công nghệ

mới này. Sự ra đời của E-Mail, Web, trình duyệt (Bowsers), HTML, phần

mềm đa phương tiện, Audio/Video chất lượng thấp và JAVA đơn giản đã

bắt đầu thay đổi bộ mặt của đào tạo đa phương tiện. Sự hướng dẫn chủ yếu

qua E-Mail, mạng nội bộ với sự trợ giúp của máy tính bằng văn bản (Text)

và đồ họa đơn giản. Đào tạo dựa trên Web với chất lượng Web triển khai

thử nghiệm thấp.

Làn sóng thứ hai của E-Learning (2000 - 2005): Với các lợi thế về

công nghệ - bao gồm JAVA/các ứng dụng trên mạng, đa phương tiện, băng

thông truy cập với tốc độ cao, và lợi thế thiết kế Website - đã tạo ra cuộc

cách mạng cho kỹ nghệ đào tạo. Ngày nay, đào tạo có người hướng dẫn

(ITL) qua Web có thể tích hợp theo thời gian thực của người thầy, thúc đẩy

các dịch vụ dành cho người học, nội dung liên tục được cập nhật, hấp dẫn,

nội dung “sinh ra bởi Web” tạo ra một cách hiệu quả cao, môi trường đào

tạo đa chiều. Các giải pháp đào tạo công phu được cung cấp thập chí với

chi phí thấp, chất lượng học tập cao hơn và là sự sắp đặt trước cho một

chuẩn mới của làn sóng E-Learning tiếp theo.

Cùng với sự phát triển của ĐTTT, các kỹ thuật và công cụ ĐGKQHT

trong ĐTTT cũng phát triển theo nó nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo trực

tuyến. Các hệ thống E-Learning hiện nay thường được tích hợp sẵn các

công cụ trợ giúp cho công tác ĐGKQHT như: hệ thống quản lý ngân hàng

đề thi, công cụ hỗ trợ giáo viên soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm, công cụ tạo

đề thi tự động từ ngân hàng câu hỏi, các công cụ tổ chức thi trắc nghiệm và

đánh giá trực tuyến v.v...



7



1.1.2. Ở trong nƣớc

Có thể nói, ở Việt Nam, tiền thân của ĐTTT chính là ĐTTX thông qua

Đài TNVN. Đến nay, Đài TNVN đã triển khai ĐTTX được 13 năm.

Chương trình GDTX của Đài TNVN đã giúp hàng trăm nghìn người nâng

cao trình độ, kiến thức.

Theo TS. Lê Văn Thanh, Giám đốc trung tâm đào tạo từ xa, Viện Đại

học Mở Hà Nội, Đài TNVN đã phối hợp rất chặt chẽ với Viện Đại học Mở

Hà Nội thực hiện chương trình đào tạo đại học từ xa. Đến nay, Đài TNVN

đã phát hơn 10.000 chương trình đào tạo từ xa, giúp hàng triệu người có

điều kiện học tập nâng cao trình độ. Tính đến tháng 6/2007, đã có trên

10.000 sinh viên tốt nghiệp đại học đào tạo từ xa và hiện có 50.000 người

đang theo học.

Về hiệu quả của việc học đại học từ xa qua Đài TNVN, chị Nguyễn

Thuý Hằng, một tân cử nhân Luật Kinh tế nhận xét: "Học đại học từ xa qua

Đài TNVN có nhiều cái lợi. Thứ nhất là tiết kiệm được thời gian, không

phải tập trung đến lớp nhưng vẫn nắm được nhiều kiến thức. Thứ hai, đây

là phương thức học tập tương đối rẻ” [32].

Cùng với tốc độ phát triển nhanh của CNTT&TT ở Việt Nam, các loại

hình ĐTTX, ĐTTT lần lượt ra đời. Đến nay, song song với mô hình đào tạo

truyền thống, nhiều cơ sở đào tạo trong nước đã triển khai mô hình ĐTTX,

ĐTTX qua mạng. Các mô hình đào tạo mới này đã phát triển rất đa dạng và

mạnh mẽ trong một khoảng thời gian ngắn. Để quản lý loại hình đào tạo

này, Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã ban hành một số văn bản như:

- Quy chế về tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ văn bằng tốt

nghiệp theo hình thức GDTX do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban

hành theo Quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/08/2003;

- Quyết định số 164/2005/QĐ-TTg ngày 04 tháng 7 năm 2005 về việc

Phê duyệt Đề án “Phát triển GDTX giai đoạn 2005 – 2010”;

8



Cùng với sự phát triển của mạng Internet, cơ sở hạ tầng CNTT&TT và

cơ sở pháp lý về quản lý nội dung trên mạng Internet ngày càng hoàn thiện

với sự ra đời của các văn bản sau:

- Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Thủ

tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển công nghệ

thông tin và truyền thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

- Luật Công nghệ thông tin ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Internet ngày càng được phổ cập rộng rãi tới các vùng sâu, vùng xa.

Tốc độ đường truyền Internet cũng không ngừng tăng lên góp phần đáng kể

thúc đẩy sự phát triển của ĐTTT. ĐTTT cũng chỉ mới chỉ thực sự phát triển

trong một số năm gần đây sau khi các công nghệ đường truyền Internet tốc

độ cao như Lease Line, ADSL,... ra đời.

Dưới góc độ quản lý, có thể phân loại các cơ sở ĐTTT thành hai hệ

thống: Hệ thống các cơ sở đào tạo phi chính quy và hệ thống các cơ sở đào

tạo chính quy có cấp bằng theo hệ thống giáo dục quốc dân.

Nhiều cơ sở đào tạo phi chính quy đã thành công với các mô hình đào

tạo ngoại ngữ qua mạng Internet, luyện thi đại học qua mạng Internet, đào

tạo bồi dưỡng kiến thức,v.v... Một số trang web đào tạo ngoại ngữ khá

thành



công



như:



http://www.globaledu.com.vn



http://www.hocngoaingu.net

;



http://www.tienganhonline



;

;



http://www.cleverlearn.com.vn

ĐTTT có cấp bằng theo hệ thống giáo dục quốc dân phải kể đến

Trường Đại học CNTT - ĐHQG TP. Hồ Chí Minh. Trường Đại học Công

nghệ Thông tin, ĐHQG-HCM là trường Đại học công lập chuyên ngành

CNTT được thành lập theo quyết định số 134/2006/QĐ-TTg ngày

08/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trung tâm Phát triển Công

nghệ Thông tin. Mặc dù mới được thành lập nhưng Trường đã định hướng

xây dựng theo mô hình đại học nghiên cứu trên nền tảng của đại học số

9



hóa [41]. Hiện nay, nhà trường đang tổ chức ĐTTT và cấp bằng theo quy

định của Bộ GD&ĐT đối với hệ Cử nhân và Sau đại học (Thạc sỹ).

Viện CNTT - ĐHQG Hà Nội cũng là một đơn vị triển khai và ứng

dụng E-Learning khá hiệu quả. Viện đã xây dựng hệ thống sát hạch trực

tuyến CmTest sử dụng sát hạch cho mọi hình thức đào tạo. Viện đã thu

được một số quả triển khai của CmTest như sau: Tính đến 06/2006, CmTest

đã sát hạch được hơn 60.000 học viên và sát hạch chuẩn hóa hơn 700 giảng

viên của Đề án 112; Hơn 1.000 lượt sát hạch chứng chỉ Tin học văn phòng

quốc tế; Sát hạch hơn 1.500 kỹ thuật viên Tin học; Sát hạch co 120 công

chức Bộ Thủy sản và 40 giảng viên tại trường ĐHSP Đà Nẵng; 1

Một số cổng đào tạo trực tuyến trong nước:

1.



http://www.elearningvn.org/



Diễn đàn E-Learning Việt Nam



2.



http://el.edu.net.vn/



Cổng ĐTTT của Cục CNTT Bộ GD&ĐTT



3.



http://moodle.org/course/view.php?id=45



Cộng đồng Moodle Việt Nam



4.



http://ebook.edu.net.vn/



Thư viện giáo trình điện tử - Bộ

GD&ĐT



5.



http://ocw.vn/



Website học liệu mở của Việt

Nam, có liên kết đến nhiều hệ

thống học liệu mở toàn cầu



6.



http://www.daotaotructuyen.org/



Cổng ĐTTT Việt Nam



Nhiều hệ thống ĐTTT tại Việt Nam được xây dựng dựa trên phần

mềm Moodle. Theo Website cộng đồng Moodle Việt Nam [34], Moodle là

một hệ thống quản lý học tập (Learning Management System - LMS hoặc

người ta còn gọi là Course Management System hoặc VLE - Virtual

Learning Environment) mã nguồn mở (do đó miễn phí và có thể chỉnh sửa



1



Hội thảo E-Learning, TP. Hồ Chí Minh, 12/2006



10



được mã nguồn), cho phép tạo các khóa học trên mạng Internet hay các

Website học tập trực tuyến.

Cộng đồng Moodle Việt Nam được thành lập tháng 3 năm 2005 với

mục đích xây dựng phiên bản tiếng Việt và hỗ trợ các trường triển khai

Moodle. Từ đó đến nay, nhiều trường đại học, tổ chức và cá nhân ở Việt

Nam đã dùng Moodle. Có thể nói Moodle là một trong các hệ thống quản

lý học tập thông dụng nhất tại Việt Nam. Cộng đồng Moodle Việt Nam

giúp ngưởi sử dụng giải quyết các khó khăn về cài đặt, cách dùng các tính

năng, cũng như cách chỉnh sửa và phát triển. Cộng đồng Moodle Việt Nam

được xây dựng cũng bằng chính phần mềm Moodle [34].

Cũng theo Website của cộng đồng Moodle Việt Nam [34], hiện nay đã

có 40 các tổ chức và cá nhân Việt Nam dùng phần mềm mã nguồn mở

Moodle.

Theo Website E-Learning của cục CNTT - Bộ GD & ĐT, Trung tâm

Tin học của Cục đã hợp tác cùng công ty HP nghiên cứu giải pháp ELearning áp dụng tại Việt nam. Trung tâm đã từng thử nghiệm và đánh giá

nhiều hệ thống khác nhau. Trung tâm cũng đã tìm hiểu các sản phẩm

thương mại như BlackBoard, WebCT, Docent… đồ sộ và đắt tiền. Tuy

nhiên, Trung tâm ý thức là các phần mềm khi thiết kế và phát triển phải

hướng tới giáo viên đầu tiên, dựa trên tính sư phạm cao, công nghệ không

phải là yếu tố quyết định tất cả. Trong số các phần mềm đó, cần lựa chọn

hệ thống nào cho phù hợp, có cơ hội phát triển tiếp theo và Trung tâm đã

chọn hệ thống quản lý học tập mã nguồn mở Moodle. Trung tâm Tin học là

đối tác chính thức của Moodle, tham gia Việt hóa và phát triển Moddle

[36].

Các cổng ĐTTT có cấp chứng chỉ sau khóa học đều đã chú trọng đến

vấn đề ĐGKQHT. Công cụ ĐGKQHT tích hợp sẵn trong các hệ thống

ĐTTT đã được Việt hóa và phát triển phù hợp với yêu cầu sử dụng khác

nhau của các cơ sở đào tạo. Các cơ sở đào tạo ngoại ngữ trực tuyến thường

11



có lợi thế trong việc kế thừa sẵn ngân hàng câu hỏi của nước ngoài nên có

nhiều thuận lợi đối với công tác ĐGKQHT của học viên và hình thức

ĐGKQHT thường được sử dụng là đánh giá trực tuyến.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ khi có sự phân công

lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức,

điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao

động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý.

Khái niệm “Quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa

trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ

thuật đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm. Sau đây là một số định

nghĩa về “quản lý ”:

- Theo F.W.Tay Lor (Nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) người có học

thuyết chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ

ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và

rẻ nhất”.

- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm: “Quản lý

hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.

Trong học thuyết quản lý của mình H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết

của một nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển;

Phối hợp; Kiểm tra.

- Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu

trong quản lý”: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục

tiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.

Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà

người quản lý mong muốn.

12



Sau khi xem xét phân tích các khái niệm quản lý trên có thể đưa ra

khái niệm về quản lý dưới đây:

Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc

của các thành viên của một tổ chức nhằm sử dụng các nguồn lực hợp lý để đạt

được các mục đích đã định.

Với khái niệm này, về bản chất quá trình quản lý có thể được biểu

diễn dưới dạng sơ đồ sau:

Môi trường bên ngoài

Lập kế hoạch



Tổ chức



Kiểm tra



Lãnh đạo

Hình 2: Bản chất quá trình quản lý



Như vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động, quản lý có thể chia ra 3 nội

dung lớn: Lập kế hoạch; Tổ chức và lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch;

Kiểm tra, đánh giá các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đề ra.

Trong những điều kiện cần thiết có thể điều chỉnh lại kế hoạch, hoặc mục

tiêu, hoặc các hoạt động cụ thể hoặc đồng thời có thể điều chỉnh cả 2 hoặc

3 thành tố cho phù hợp.

Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý

nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.

Với khái niệm trên, quản lý bao gồm các điều kiện sau:

- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, và một đối

tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra.

Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.

- Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là

căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.

13



- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị. Còn đối tượng

có thể là con người (một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc,

thiết bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ v.v…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi,

cây trồng).

Chủ thể

quản lý

Mục

tiêu

Đối

tượng bị

quản lý



Hình 3: Mô hình quản lý



Cơ sở khoa học quản lý:

Bất cứ một tổ chức nào, cho dù cơ cấu và qui mô hoạt động ra sao đều

phải có sự quản lý và có người quản lý thì mới đạt được mục đích tồn tại và

phát triển của tổ chức đó. Vậy hoạt động quản lý (Management) là gì ?

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong tài liệu bài

giảng cao học Cơ sở khoa học quản lý thì: Đó là tác động có định hướng,

có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý

(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt

được mục đích của tổ chức [14].

Nói cách khác hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ

chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức,

chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Người quản lý (Manager) là nhân vật có

trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành

của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và

đạt đến mục đích.



14



Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý

có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (Planning), Tổ chức

(Organizing), Chỉ đạo - Lãnh đạo (Leading) và Kiểm tra (Controlling).

Kế hoạch hóa (Planning): Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho

những hoạt động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp,

cách thức để đạt được mục đích đó.

Tổ chức (Organizing): Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ

cần phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực.Tổ

chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên,

giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công

các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Người quản lý

phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức.

Lãnh đạo (Chỉ đạo) - (Leading) : Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ

cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người

đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Đó là quá trình liên kết, liên hệ với

người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất

định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ

bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó

xuyên suốt trong hoạt động quản lý.

Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành

quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần

thiết.

Ở mỗi cấp quản lý khác nhau, sự phân phối về thời gian và công sức

cho các chức năng quản trị của các cấp được thể hiện trong bảng sau:

Điều

Kiểm tra

Ghi chú

khiển

1

Cao cấp

28%

36%

22%

14%

2

Trung gian

18%

33%

36%

13%

3

Cơ sở

15%

24%

51%

10%

Bảng 1. Phân phối thời gian và công sức cho các chức năng quản trị

của các cấp [12]



Stt



Cấp quản lý



Kế hoạch



Tổ chức



15



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

×