1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐGKQHT CỦA HỌC VIÊN TRONG ĐTTT Ở TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.99 MB, 100 trang )


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐGKQHT CỦA HỌC

VIÊN TRONG ĐTTT Ở TRƢỜNG ĐHSP HÀ NỘI

2.1. Khái quát về trƣờng ĐHSP Hà Nội

Trường ĐHSP Hà Nội được thành lập ngày 11 tháng 10 năm 1951

theo Nghị định 276 của Bộ Quốc gia Giáo dục và hiện là trư ờng đại học

trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống các trường Sư phạm ở Viê ̣t Nam ,

đồ ng thời là trung tâm l ớn về đào tạo giáo viên và nghiên cứu khoa học, là

nơi đào tạo nhân tài và các nhà khoa h ọc danh tiếng cho đất nước. Trong

quá trình phát triển của Trường, các giai đoạn lịch sử quan trọng bao gồm

[25]:

Giai đoạn 1951-1956: Trường Sư phạm Cao cấp

Giai đoạn 1956-1967: Trường ĐHSP Hà Nội

Giai đoạn 1967-1976: Trường ĐHSP Hà Nội I và Trường ĐHSP Hà Nội II

Giai đoạn 1976-1993: Trường ĐHSP Hà Nội I

Giai đoạn 1994-1999: Trường ĐHSP thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

Giai đoạn từ 1999 đến nay Trường ĐHSP Hà Nội

Những năm đầu tiên mới thành lập trường được giao nhiệm vụ đào tạo

giáo viên phổ thông cấp 2, 3 theo 3 ngành: Toán – Lý, Lý – Hoá và Hóa –

Sinh.

Giai đoạn tiếp theo, trường được giao nhiệm vụ đào tạo giáo viên khoa

học cơ bản (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) cho các trường phổ

thông cấp 2, 3 theo các hình thức học chính quy tập trung, chuyên tu, tại

chức với 12 khoa cơ bản [26].

Ngày 10 tháng 12 năm 1993, theo Nghị định 97/CP của Chính phủ,

trường trở thành một trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội với

nhiệm vụ vừa đào tạo chuyên gia các ngành khoa học và công nghệ theo

các trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ vừa hỗ trợ về học thuật cho một số

trường đại học và một số trường cao đẳng ở các địa phương; nghiên cứu

45



khoa học, công nghệ, triển khai các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời

sống xã hội gắn với giảng dạy và đào tạo.

Ngày 12 tháng 10 năm 1999, theo Quyết định 201/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ, trường được tách ra khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội và

mang tên là trường ĐHSP Hà Nội. Nhiệm vụ của trường là đào tạo đội ngũ

giáo viên chất lượng cao đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, đóng vai trò là trường sư

phạm trọng điểm của cả nước.

2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, tầm nhìn, sứ mạng của trƣờng ĐHSP Hà Nội

a. Chức năng của trường ĐHSP Hà Nội:

- Làm nòng cốt cho việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán

bộ, xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn chương trình, giáo trình.

- Tổ chức triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu chọn lọc cơ bản, khoa học

giáo dục, khoa học ứng dụng công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ

thuật vào triển khai các đề án, các quy trình công nghệ.

- Tư vấn cho các cấp quản lý xây dựng chính sách giáo dục, đào tạo giáo

viên, đổi mới nội dung phương pháp đào tạo, cải cách giáo dục

- Đào tạo giáo viên có chất lượng cao cho các cấp học, ngành học, giáo

dục đặc biệt, cán bộ quản lý giáo dục có học vị cao

b. Nhiệm vụ của trường ĐHSP Hà Nội:

- Đào tạo giáo viên các cấp học từ mầm non đến đại học, các chuyên gia

giáo dục, quản lý giáo dục, các cán bộ nghiên cứu khoa học cơ bản,

khoa học giáo dục có trình độ đại học, sau đại học; bồi dưỡng nghiệp vụ

sư phạm cho giáo viên các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và

đại học; bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên các cấp; phát huy

vai trò của trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống các trường Đại

học, Cao đẳng sư phạm của cả nước bằng việc nghiên cứu, triển khai



46



các chủ trương, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, giáo

dục mầm non; đào tạo giáo viên.

- Đào tạo giáo viên, cán bộ khoa học cho các nước khác trong khu vực và

trên thế giới.

- Nghiên cứu khoa học giáo dục, khoa học cơ bản và các lĩnh vực liên

quan khác, nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Chiến lược phát triển của Trường ĐHSPHN giai đoa ̣n 2008-2020 có

mục đích t ạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng đào tạo theo hướng

tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam,

đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao, nâng cao năng lực cạnh tranh

và hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện

thuận lợi để mở rộng các loại hình đào tạo, tăng cường đào tạo năng lực

thích ứng với việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việc làm cho mình và

cho những người khác, phục vụ thiết thực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

đại hoá, sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, hướng tới một xã hội học

tập [26].

c. Tầm nhìn

Đến năm 2020 Trường ĐHSP Hà Nội sẽ trở thành trường đại học

nghiên cứu hàng đ ầu của Quốc gia, đa ngành, đa lĩnh vực, đa cấp, có quy

mô lớn và có uy tín cao trong khu vực và thế giới [26].

d. Sứ mạng

Trường ĐHSP Hà Nội có sứ mạng đào tạo và bồi dưỡng nhân lực chất

lượng cao cho hệ thống giáo dục quốc dân và xã hội, tiến hành nghiên cứu

khoa học cơ bản, khoa học giáo dục và khoa học ứng dụng đạt trình độ tiên

tiến, cung cấp dịch vụ giáo dục và khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước [26].

2.1.2. Các mục tiêu của trƣờng

a. Lĩnh vực đào tạo

47



- Quy mô đào tạo được mở rộng theo sự phát triển của Trường và nhu cầu

của thị trường lao động.

- Chất lượng các chương trình đào tạo được cải thiện rõ rệt theo hướng

phù hợp hơn với nhu cầu xã hội và tiếp cận với trình độ khu vực và

quốc tế.

- Các chương trình đào tạo được kiểm định, giám sát và đánh giá theo

chuẩn quốc gia và quốc tế.

b. Lĩnh vực nghiên cưu khoa học công nghệ

́

- Động cơ tham gia nghiên cứu khoa học công nghệ của giảng viên và

sinh viên được nâng cao mạnh mẽ.

- Chất lượng và tính phù hợp của các công trình nghiên cứu khoa học

công nghệ được nâng cao.

- Cách thức đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ được

áp dụng trên có sở chất lượng và hiệu quả.

c. Lĩnh vực tổ chức và nhân sự

- Cơ cấu tổ chức của Trường được hoàn thiện và phát triển theo mô hình

hiện đại, năng động, linh hoạt, hội nhập khu vực và thế giới.

- Đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu và cán bộ quản lý đủ về số

lượng, có trình độ cao và cơ cấu hợp lý.

- Công tác đánh giá nhân sự được tăng cường.

2.1.3. Quy mô trƣờng, lớp, số học viên, cán bộ giảng viên của trƣờng ĐHSP

Hà Nội năm học 2006 - 2007

Trường ĐHSPHN là một trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, đa cấp

với chất lượng cao. Trường ĐHSPHN hiện có 22 khoa đào tạo chuyên

ngành, một viện nghiên cứu và 27 trung tâm nghiên cứu khoa học kĩ thuật

và giáo dục. Đội ngũ cán bộ giảng dạy của trường gồm 18 giáo sư, 118 phó

giáo sư, 10 tiến sĩ khoa học và 248 tiến sĩ và hàng trăm thạc sĩ. Tỷ lệ qui

đổi số sinh viên chính qui trên số giảng viên là 8,35. Các thế hệ của Trường

48



ĐHSPHN luôn tích cực phấn đấu để trường xứng đáng là trường “mô

phạm” của cả nước và đồ ng thời là m ột trung tâm nghiên cứu khoa học và

văn hóa có tầm cỡ của đất nước và khu vực [26].

Trường có hệ thống thư viện có cơ sở vật chất, trang thiết bị khá hiện

đại, nguồn lực thông tin tương đối đầy đủ phục vụ hoạt động đào tạo và

NCKH của nhà trường.

Thư viện đã được trang bị một phòng Internet nhằm giúp bạn đọc khai

thác nguồn thông tin trên mạng. Thư viện đã từng bước ứng dụng công

nghệ thông tin trong các lĩnh vực hoạt động quản lý và phục vụ bạn đọc của

mình. Thư viện được nối mạng cục bộ (LAN), Intranet và Internet.

2.1.4. Quan hệ hợp tác Quốc tế

Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt trong thời kì đổi mới,

trường ĐHSPHN được xã hội tín nhiệm và đánh giá cao về chuẩn mực đào

tạo giáo viên các cấ p ch ất lượng cao và nghiên cứu khoa học đạt trình độ

tiên tiến về các linh vực cơ bản, ứng dụng và giáo dục. Trường kết hợp chặt

̃

chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, gắn các đề tài nghiên cứu với việc đào tạo

trình độ cao. Hoạt động quan hệ hợp tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

với ngoài nước không ngừng mở rộng. Hiện nay, trường ĐHSPHN có quan

hệ hợp tác với khoảng 100 trường và tổ chức quốc tế ở 33 nước trên thế

giới.

2.2. Thực trạng ĐTTT và công tác ĐGKQHT của học viên ở Trƣờng ĐHSP

Hà Nội

2.2.1. Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy và học ở trƣờng ĐHSP Hà Nội

Trong những năm gần đây, nhà trường đã chú trọng đầu tư trang thiết

bị, cơ sở hạ tầng, phần mềm cho hệ thống CNTT. Thư viện của trường đã

được trang bị một phòng Internet nhằm giúp bạn đọc khai thác nguồn thông

tin trên mạng. Thư viện đã từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong

49



các lĩnh vực hoạt động quản lý và phục vụ bạn đọc của mình. Thư viện

được nối mạng cục bộ (LAN), Intranet và Internet.

Trường ĐHSP Hà Nội có đủ máy tính để phục vụ cho giảng viên và

người học giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập. Trường có 36 phòng

máy tính với 2.812 m2, 900 máy tính đang hoạt động, trong đó 700 máy

được dùng cho học tập, 200 máy dùng cho văn phòng. Trường có mạng

máy tính nội bộ, được kết nối internet, phục vụ có hiệu quả cho việc giảng

dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, có các phòng học đa năng cho các

ngành đào tạo, có các phần mềm quản lý để hỗ trợ các bộ phận chức năng

như: phần mềm tuyển sinh, phần mềm quản lý thư viện [26].

Cùng với việc đầu tư trang thiết bị CNTT và CSVC, các hoạt động

ứng dụng CNTT trong dạy và học ở trường ĐHSP Hà Nội cũng đã thu

được những kết quả nhất định. Website của trường là nơi cung cấp nhiều

thông tin bổ ích cho hoạt động dạy và học của trường. Nhiều giảng viên đã

có trang Web cá nhân đăng tải các thông tin liên quan đến bài giảng, ôn tập

và bài tập thực hành. Sinh viên có thể tìm kiếm nhiều tài liệu tham khảo bổ

ích liên quan đến môn học trong trang Web cá nhân của giảng viên. Trung

tâm CNTT của trường cũng đã tích cực trong việc xây dựng diễn đàn giao

lưu, học hỏi, chia sẽ kinh nghiệm học tập giữa giảng viên, sinh viên trong

trường và các thế hệ sinh viên đã ra trường.

Nhiều công cụ trên Website của trường đã giúp sinh viên có thể dễ

dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn thông tin hỗ trợ cho học tập như:

Tra cứu điểm học tập, tra cứu sách thông qua thư viện điện tử, thư viện học

liệu điện tử v.v...

2.2.2. Thực trạng ĐTTT ở Trƣờng ĐHSP Hà Nội

Hệ thống ĐTTT hiện đang được chạy thử nghiệm tại địa chỉ

http://el.hnue.edu.vn . Tuy nhiên, hệ thống ĐTTT trường ĐHSP Hà Nội

mới chỉ thử nghiệm ở mức độ cung cấp tài liệu tham khảo cho học viên.

50



Ngày 19/09/2007, hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội đã có công văn

số 471/CNTT về việc “triển khai hệ thống E-Learning” gửi các khoa và các

tổ bộ môn. Theo tinh thần công văn này, các giáo viên đang giảng dạy

trong học kỳ I năm học 2007 - 2008 được yêu cầu xây dựng đề cương môn

học và kế hoạch dạy học chi tiết môn học, bao gồm các thông tin sau:

-



Tên môn học, giảng viên.



-



Đề cương chi tiết môn học.



-



Kế hoạch dạy học chi tiết đến từng tuần và đề cương bài giảng môn học.



-



Đề cương hướng dẫn ôn tập môn học.



-



Các tiêu chí và hình thức kiểm tra đánh giá.



-



Bài giảng môn học (nếu có).

Đề cương môn học và kế hoạch giảng dạy sau đó sẽ được chuyển cho



Trung tâm CNTT biên tập lại và đưa lên cổng ĐTTT.

Như vậy, công văn số 471/CNTT số 19/09/2007 của hiệu trưởng

trường ĐHSP Hà Nội đã tạo tiền đề cho hướng phát triển ĐTTT của

trường. Bước đầu, các giáo viên sẽ phải làm quen với công việc chuẩn bị đề

cương môn học và kế hoạch giảng dạy phục vụ công tác ĐTTT. Giáo viên

được khuyến khích soạn bài giảng môn học theo hình thức sách điện tử.

Ngày 25/09/2007, trường ĐHSP Hà Nội đã tổ chức hội nghị “Liên kết

đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống giáo dục quốc dân và ngoài xã hội”.

Hội nghị đã đúc kết, rút kinh nghiệm và nhìn nhận lại những thành tựu đạt

được và những thách thức, thời cơ đối với giáo dục không chính quy. Trên

cơ sở coi giáo dục không chính quy là một ngành khoa học, trường Đại học

Sư phạm Hà Nội đã nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và rút ra những bài học

thực tiễn để làm tiền đề cho sự phát triển ngày càng tốt đẹp của loại hình

đào tạo này . Những bài học đó là [44]:

-



Tiếp tục mở rộng đối tượng tuyển sinh và ngành nghề đào tạo. Đối

tượng đào tạo sẽ không chỉ là các giáo viên trong ngành sư phạm mà cả

51



các đối tượng ngoài sư phạm, học sinh phổ thông. Mở rộng đầu vào cho

một số ngành học mà người học quá ít để đảm bảo sĩ số cho một lớp

học.

-



Khai thác triệt để hơn nữa tiềm năng đào tạo của các cơ sở liên kết đã

có nhiều kinh nghiệm trong công tác đào tạo không chính quy với

trường để thực hiện tốt các khâu trong quá trình tuyển sinh, dạy và học.

Bên cạnh đó, tiếp tục thu hút đông đảo học viên cũng như mở thêm

nhiều cơ sở liên kết đào tạo ở các tỉnh, thành phố, đồng thời tăng cường

công tác thông tin quảng bá.



-



Cần thiết phải áp dụng triệt để các thành tựu của công nghệ thông tin

để góp phần hữu hiệu cho việc phát triển giáo dục không chính quy. Cơ

sở vật chất cũng phải được nhanh chóng đầu tư theo chiều sâu, đón đầu

những đổi mới về công nghệ để có thể cập nhật, áp dụng CNTT trong

dạy học. Xây dựng trang Web hiện đại, cập nhật, thí điểm đào tạo một

số học phần theo kiểu đào tạo trực tuyến.



-



Công tác quản lí cần chuyên nghiệp hơn và đi vào chiều sâu, bao gồm:

Quản lí các điều kiện đảm bảo chất lượng của giáo dục không chính

quy, Quản lí công tác tổ chức dạy - học của các cơ sở liên kết đào tạo,

Quản lí công tác kiểm định chất lượng dạy - học.



-



Giảng viên tham gia giảng dạy cho hệ đào tạo không chính quy phải là

những GS, PGS, TS, những giảng viên có tâm huyết, có kinh nghiệm

giảng dạy. Đã đến lúc việc giảng dạy cho hệ đào tạo không chính quy

phải trở thành nhiệm vụ chiến lược của mỗi cán bộ giảng viên trong sự

nghiệp phát triển chung của Nhà trường, mang lại danh tiếng cho

Trường trong lĩnh vực đào tạo này.

Công tác loại hình ĐTTT của trường sẽ có nhiều thuận lợi. Hệ thống



CSVC và phần mềm phục cho ĐTTT đã và được xây dựng. Hệ thống

đường truyền và CSVC phục vụ ĐTTT, theo đánh giá của chúng tôi, trước



52



mắt có thể đáp ứng được cho thử nghiệm và triển khai ứng dụng cho các

loại hình đào tạo hiện có của trường.

Mặc dù nhà trường đã có định hướng cho phát triển loại hình đào tạo

không chính quy này. Tuy vậy, việc triển khai ĐTTT ở trường ĐHSP Hà

Nội tại thời điểm hiện nay còn gặp phải một số khó khăn sau:

- Quy định cụ thể về ĐTTT của trường hiện vẫn chưa được ban hành.

- Đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo còn chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế

cho triển khai loại hình đào tạo này.

- Mạng lưới các cơ sở liên kết đào tạo của trường ở các địa phương cần

có sự đầu tư trang thiết bị và CSVC để đáp ứng được các yêu cầu của

ĐTTT.

2.2.3. Thực trạng công tác ĐGKQHT của học viên ở trƣờng ĐHSP Hà Nội

2.2.3.1. Thực trạng công tác đánh giá KQHT của học viên ở trường ĐHSP Hà

Nội

Hoạt động ĐGKQHT của học viên có vai trò vô cùng quan trọng đối

với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học

nói chung và trường ĐHSP Hà Nội nói riêng.

Hiện nay, phương pháp và quy trình KTĐG của trường được đa dạng

hoá, đảm bảo nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng và phù hợp

với từng phương thức đào tạo, hình thức học tập.

Nhằm đánh giá chính xác mức độ tích luỹ của người học về kiến thức

chuyên môn, kỹ năng thực hành, trường ĐHSP Hà Nội có các văn bản quy

định cụ thể về qui trình thi và kiểm tra đánh giá, sử dụng nhiều hình thức

ĐGKQHT của người học như: kiểm tra điều kiện, thi học phần (lí thuyết và

thực hành), quy trình quản lý và tổ chức thi nghiêm túc để bảo đảm mọi

quyền lợi của người học.



53



Ngoài ra, trường còn có các văn bản quy định các điều kiện để cấp

phát văn bằng tốt nghiệp và các chứng chỉ, có hệ thống quản lí việc cấp

phát văn bằng chặt chẽ. Kết quả học tập của người học được được lưu giữ

đầy đủ, chính xác và an toàn, văn bằng tốt nghiệp và chứng chỉ học tập

được cấp đúng qui định.

Vào đầu mỗi năm học, mỗi sinh viên nhập học đều được nhà trường

phát “Sổ tay sinh viên” giới thiệu về nhà trường, các quy chế và quy định

hiện hành đang được áp dụng trong nhà trường, quy chế Đào tạo Đại học

và Cao đẳng hệ chính quy: Ban hành theo quyết định số 25/2006/QĐBGD&ĐT ngày 26/06/2006 của Bộ trưởng bộ GD&ĐT. Quy chế này áp

dụng đối với sinh viên các khóa đào tạo hệ chính quy ở các trình độ đại học

và cao đẳng. Sinh viên có thể tìm hiểu kỹ về các nội dung liên quan đến

kiểm tra và thi học phần như: Đánh giá học phần; Tổ chức kỳ thì kết thúc

học phần; Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi, số lần được dự thi kết thúc học

phần; Cách tính điểm kiểm tra, điểm thi, điểm trung bình chung xếp loại

học tập; Thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp; Chấm đồ án, khóa luận tốt

nghiệp và chấm thi tốt nghiệp; Thực tập cuối khóa và điều kiện xét tốt

nghiệp; Bảo lưu kết quả học tập và chuyển loại hình đào tạo.

Đối với vấn đề kiểm tra và thi học phần được thực hiện cụ thể như

sau:

- Các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Điểm

tổng hợp đánh giá học phần (gọi tắt là điểm học phần) bao gồm: điểm

kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập, điểm đánh giá nhận thức

và thái độ tham gia thảo luận, điểm đánh giá phần thực hành, điểm

chuyên cần, điểm thi giữa học phần, điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc

học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi

trường hợp và phải có trọng số không dưới 50% của điểm học phần.

Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm

đánh giá bộ phận cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần

54



do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy

định trong đề cương chi tiết của học phần.

- Các học phần thực hành: sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực

hành. Trung bình cộng điểm của các bài thực hành trong học kỳ được

làm tròn đến phần nguyên là điểm học phần loại này.

- Giảng viên trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận,

trừ bài thi kết thúc học phần.

Cuối mỗi học kỳ, trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ

để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho sinh viên không tham dự kỳ

thi chính hoặc có điểm học phần dưới 5 sau kỳ thi chính. Kỳ thi phụ được

tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính.

Cách tính điểm kiểm tra, điểm thi, điểm trung bình chung và xếp loại

kết quả học tập như sau:

N



A



a n

i 1

N



i



i



n

i 1



i



Trong đó:

A là điểm trung bình chung học tập năm học, khoá học hoặc điểm

trung bình chung các học phần tính từ đầu khóa học.

ai là điểm cao nhất trong các lần thi của học phần thứ i

ni là số đơn vị học trình của học phần thứ i

N là tổng số học phần.

Điểm trung bình chung học tập là căn cứ để xét sinh viên bị buộc thôi

học, tạm ngừng học, được học tiếp và xét tốt nghiệp.

Xếp loại kết quả học tập:

55



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

×