1. Trang chủ >
  2. Khoa học xã hội >
  3. Tâm lý học >

3 HÀNH VI THAM GIA BHNT CỦA NGƯỜI DÂN HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.34 MB, 113 trang )


gia do động cơ bị lôi cuốn thúc đẩy vì họ cho rằng họ tham gia BHNT vì nể

cán bộ tư vấn, tham gia theo người khác. Có 4,1% số người tham gia do động

cơ xã hội vì cho rằng họ đã thấy được những ý nghĩa của loại hình này với xã

hội. nên mới tham gia. Chúng tôi tìm hiểu về vấn đề này qua cán bộ tư vấn

cũng cho kết quả tương tự như vậy. Từ đó có thể khẳng định rằng động cơ

chủ yếu thúc đẩy người dân Hà Nội tham gia BHNT là vì động cơ an toàn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết những người đã tham gia BHNT

là do động cơ an toàn. Chỉ một số người tham gia là do động cơ kinh tế. Theo

chúng tôi có khả năng tài chính chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Khả năng

tài chính cũng không phải là điều kiện quan trọng nhất để thúc đẩy người dân

tham gia BHNT. Điều này đã lý giải một thực trạng hiện nay là có nhiều

người có đầy đủ, dư thừa về tài chính nhưng vẫn không tham gia, không

muốn tham gia BHNT và nhiều người kinh tế vẫn còn khó khăn nhưng họ vẫn

dành ra một khoản tiền phù hợp để tham gia BHNT (xem bảng 14)

Bảng14: Động cơ thúc đẩy người người dân tham gia BHNT

Động cơ thúc đẩy tham gia BHNT



Ngƣời đã tham gia (195)

Số lƣợng



Tỷ lệ %



Giảm khó khăn khi xảy ra rủi ro



127



65,1



Đầu tư tài chính đem lại lợi nhuận



22



11,3



Thấy được ý nghĩa của BHNT với xã hội



8



4,1



Nể cán bộ tư vấn, tham gia theo người



38



19,5



khác



Trong công trình này chúng tôi cũng tìm hiểu những nguyên nhân chủ

yếu đã kìm hãm, cản trở người dân Hà Nội tham gia BHNT (xem bảng 15).

Theo như kết quả thì trong số 198 người chưa tham gia BHNT chỉ có 33,3%

số người được hỏi cho rằng họ chưa tham gia là do khó khăn về kinh tế và số

còn lại chưa tham gia do các nguyên nhân về mặt tâm lý, do có các trở ngại

tâm lý. Cụ thể là 31,8% số người chưa tham gia là do chưa tin tưởng vào loại

hình BHNT; 22,6% số người chưa tham gia là do chưa hiểu biết về loại hình



91



này; 8,2% số người chưa tham gia là do chưa tin các công ty bảo hiểm và

4,1% số người chưa tham gia là do người thân không cho tham gia. Như vậy,

đa số người dân Hà Nội khi được hỏi đã cho rằng họ chưa tham gia BHNT là

do những nguyên nhân về mặt tâm lý, cụ thể là về mặt nhận thức, xúc cảm

tình cảm với loại hình này.(xem bảng 15)

Bảng 15: Nguyên nhân chủ yếu cản trở những người dân

chưa tham gia BHNT

Nguyên nhân chủ yếu chƣa tham gia Số ngƣời trả lời (198)

Số lƣợng



BHNT



Tỷ lệ %



Chưa tin tưởng loại hình BHNT



62



31,8



Kinh tế khó khăn



65



33,3



Chưa tin tưởng công ty bảo hiểm



16



8,2



Chưa hiểu rõ về loại hình BHNT



44



22,6



Người thân không cho tham gia



8



4,1



Những kết quả đã thu được trên đó đã phù hợp với những kết quả đánh

giá của các cán bộ tư vấn. Có 12% trong số 100 cán bộ tư vấn cho rằng người

dân chưa tham gia BHNT là do nguyên nhân kinh tế chưa cho phép, còn lại có

tới 88% cán bộ tư vấn cho là do những nguyên nhân tâm lý. (cụ thể là: 49%

cán bộ tư vấn cho rằng do người dân nhận thức chưa đúng; 12% cho rằng do

người dân đã nghe dư luận không đúng về loại hình này; 22% cho rằng do

người dân chưa tin tưởng vào loại hình này; 5% cho rằng do người dân chưa

tin vào công ty bảo hiểm và cán bộ tư vấn).

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thái độ của người dân Hà Nội với

các doanh nghiệp BHNT ở nước ta hiện nay là không giống nhau. Nước ta

hiện nay có 5 doanh nghiệp bảo hiểm đang triển khai loại hình BHNT gồm cả

doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp liên

doanh. Thái độ của người dân với mỗi loại hình doanh nghiệp BHNT cũng

ảnh hưởng tới niềm tin, thái độ với loại hình BHNT, và ảnh hưởng tới quyết

định tham gia hay không tham gia. Trong công trình này chúng tôi đã chọn

khách thể nghiên cứu là những người đã tham gia ở doanh nghiệp của nhà



92



nước (công ty Bảo Việt ) và doanh nghiệp của nước ngoài (công ty

Prudental). Chúng tôi tìm hiểu xem lý do mà những người đã chọn tham gia ở

các công ty đó. Kết quả cho thấy phần lớn (72%) số người đã tham gia ở

doanh nghiệp nhà nước đánh giá cao uy tín của công ty vì là công ty của nhà

nước. Họ cho rằng công ty này được nhà nước bao cấp nên không lo công ty

bị phá sản. Có 28% cho rằng tham gia ở công ty của nhà nước có nhiều quyền

lợi hơn các công ty khác. Tuy nhiên, họ cũng cảm thấy không hài lòng với

công ty BHNT của nhà nước vì phong cách phục vụ còn chưa chu đáo, còn

nhiều thủ tục hành chính, giấy tờ, giải quyết chậm chạp. Còn đối với những

người tham gia ở công ty BHNT của ngước ngoài thì họ đánh giá cao thâm

niên hoạt động hàng trăm năm của công ty, công ty có uy tín trên thế giới, có

phong cách phục vụ, chăm sóc tốt, thủ tục nhanh chóng thuận tiện cho người

tham gia, có lãi suất cao hơn . Một số người vẫn còn lo lắng khi tham gia ở

công ty BHNT của nước ngoài như lo công ty bị phá sản.

3.3.2 Những hành vi mang tính xã hội

Những hành vi mang tính xã hội như giải thích cho người khác về loại

hình BHNT, khuyên người khác nên tham gia BHNT, đấu tranh với tin đồn,

dư luận không đúng về loại hình BHNH - đây là những hành vi tích cực với

loại hình này. Còn những hành vi như: phản đối, tẩy chay hay ngăn cản người

khác tham gia BHNT – đây là những hành vi tiêu cực với loại hình này. Qua

kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy rằng những hành vi này ở những người đã

tham gia và chưa tham gia có sự khác nhau căn bản. Tìm hiểu về vấn đề này

chúng tôi đã yêu cầu người dân trả lời câu hỏi “Anh (chị) đã bao giờ giải thích

cho người khác về loại hình BHNT, khuyên người khác tham gia, phản đối

BHNT?”. Theo kết quả thu được cho thấy phần lớn những người đã tham gia

thường có những hành vi tích cực với loại hình BHNT. Cụ thể là 52,8% số

người đã tham gia cho rằng họ thường xuyên khuyên người khác tham gia

BHNT. 30,8% số người đã tham gia cho rằng họ thường xuyên giải thích về



93



loại hình này cho người khác. 12,9% số người đã tham gia cho rằng họ

thường xuyên đấu tranh với những dư luận không đúng về loại hình này. Sở

dĩ những người đã tham gia thường có những hành vi tích cực đó bởi vì họ đã

có những nhận thức đúng, đầy đủ về BHNT nên họ thường giải thích cho mọi

người hiểu rõ về BHNT, giải toả những thắc mắc, những nhận thức chưa đúng

của mọi người về loại hình này. Mặt khác, những người đã tham gia do nhận

thấy được lợi ích của việc tham gia BHNT nên cũng muốn khuyên những

người khác (trước hết là bạn bè, người thân, đồng nghiệp, láng giềng của

mình) nên tham gia BHNT. Những người này cũng mong muốn những người

thân của họ cũng có một tương lai được bảo đảm, một tương lai an toàn. Chỉ

có một tỷ lệ nhỏ những người đã tham gia có những hành vi tiêu cực như phê

phán loại hình này, khuyên người khác không nên tham gia loại hình này

Kết quả cũng cho thấy những người chưa tham gia lại thường có những

hành vi chưa tích cực với loại hình BHNT. Cụ thể 26,8% số người chưa tham

gia cho rằng họ thường xuyên phê phán phản đối, thậm chí còn tẩy chay loại

hình BHNT. Có 24,7% số người chưa tham gia cho rằng họ thường xuyên

khuyên người khác không nên tham gia BHNT. Sở dĩ những người chưa tham

gia đã có những hành vi đó là do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về loại

hình BHNT. Họ không thấy được những ý nghĩa to lớn, thiết thực của loại

hình này với cuộc sống của con người. Họ không thấy được tính pháp lý của

loại hình này. Chính vì vậy họ đã không tham gia và họ cũng không muốn

bạn bè, người thân của mình tham gia BHNT .

Chúng ta cũng thấy có một tỷ lệ nhỏ những người chưa tham gia khi

được hỏi có đã có những hành vi tích cực với loại hình BHNT này (xem bảng

16)



Bảng 16 : Những hành vi mang tính xã hội với loại hình BHNT

Những hành vi mang tính



Số ngƣời trả lời (n = 393)



94



xã hội với BHNT



Chung



Đã tham gia



Chƣa tham gia



(n = 393)



(n = 195)



(n = 198)



Giải thích cho người khác



102



60



42



về BHNT



26,1



30,8



21,2



47



25



22



luận sai về BHNT



12,1



12,9



11,2



Khuyên người khác nên



135



103



32



tham gia BHNT



34,4



52,8



16,1



57



3



53



14,1



1,5



26,8



53



4



49



nên tham gia BHNT



13,3



2,0



24,7



Những hành vi khác



0



0



0



Đấu tranh với những dư



Phê phán, phản đối, tẩy

chay BHNT

Khuyên người khác không



Để làm rõ hơn về hành vi với loại hình BHNT của những người đã

tham gia và chưa tham gia khác nhau như thế nào. Chúng tôi đã đưa ra một

tình huống “Nếu người thân, bạn bè, đồng nghiệp của anh (chị) quyết định

tham gia BHNT thì anh (chị) sẽ phản ứng thế nào?”. Kết quả trên cho thấy tới

84% số người đã tham gia được hỏi đồng tình ủng hộ, khi thấy người khác

tham gia BHNT. Họ cho rằng người đó đã hành động đúng. Trong khi đó tỷ lệ

này ở nhóm người chưa tham gia chỉ là 26%. Gần một nửa số người chưa

tham gia không biểu lộ hành vi của mình (không đồng tình ủng hộ cũng

không phản đối người khác tham gia BHNT). Những người này thực sự họ

cũng không biết chắc chắn việc tham gia BHNT là đúng hay không đúng, là

cần thiết hay không. Vì vậy họ không dám đưa ra quan điểm ủng hộ hay phản

đối khi thấy người khác tham gia BHNT.(xem bảng 17)

Bảng 17: Hành vi cụ thể khi thấy người khác tham gia BHNT

Hành vi cụ thể



Ngƣời đã tham gia(195)



Ngƣời chƣa tham gia (198)



Số lƣợng



Số lƣợng



Tỷ lệ %



95



Tỷ lệ %



Đồng tình, ủng hộ



167



85,6



51



26,8



Phản đối



5



2,6



49



24,7



Không có hành vi gì



23



11,8



98



49,5



Từ những kết quả trên chúng ta có thể khẳng định rằng phần lớn những

người đã tham gia thường có những hành vi tích cực, ủng hộ loại hình BHNT,

còn đa số những người chưa tham gia thường có những hành vi tiêu cực, phản

đối loại hình này.

3.3.3 Tiểu kết

Qua những nghiên cứu về hành vi của người dân Hà Nội với loại hình

BHNT chúng tôi nhận thấy:

+ Những người chưa tham gia BHNT là do nguyên nhân chủ yếu như:

chưa nhận thức đúng và đầy đủ về loại hình này, chưa thực sự tin tưởng loại

hình bảo hiểm này, chưa tin tưởng công ty bảo hiểm và cán bộ tư vấn. Chỉ có

một số ý kiến cho rằng họ chưa tham gia BHNT là do họ chưa có khả năng tài

chính. Như vậy, hầu hết những người chưa tham gia là do họ có những trở

ngại về mặt tâm lý (chứ không phải về mặt tài chính).

+ Hầu hết những người đã tham gia thường có những hành vi tích cực

với loại hình BHNT. Họ đã thường xuyên giải thích cho bạn bè, người thân,

đồng nghiệp hiểu về loại hình này. Họ thường đấu tranh với dư luận không

đúng về loại hình này. Họ thường xuyên khuyên người khác nên tham gia

BHNT. Và có những hành vi đồng tình và ủng hộ, khi thấy những người khác

tham gia BHNT.

+ Những người chưa tham gia lại thường có những hành vi tiêu cực với

loại hình BHNT như: hay phê phán, phản đối loại hình BHNT, hoặc thờ ơ với

loại hình này. Thậm chí một số còn có những hành vi phản đối người khác

tham gia, hành vi tẩy chay loại hình BHNT này.



96



3.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA NGƢỜI DÂN HÀ NỘI VỚI

LOẠI HÌNH BHNT QUA NHỮNG ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ TƢ VẤN.



Để khẳng định tính khách quan của kết quả nghiên cứu chúng tôi đã

phỏng vấn 100 cán bộ tư vấn BHNT, nhằm mục đích xem cán bộ tư vấn đánh

giá thái độ của người dân với loại hình này như thế nào. Theo chúng tôi cán

bộ tư vấn chính là người đại diện, thay mặt cho công ty, cho loại hình BHNT.

Cán bộ tư vấn thường xuyên tiếp xúc với người dân, mời người dân tham gia

BHNT. Cho nên họ có thể đánh giá được thái độ của người dân với loại hình

BHNT, cũng như động cơ tham gia BHNT của người dân. Chúng tôi sử dụng

câu hỏi “Anh (chị) nhận thấy người dân quyết định tham gia BHNT do

nguyên nhân chủ yếu (động cơ) nào?” Chúng tôi đã thu được kết quả ở bảng

18 sau:

Bảng18: Đánh giá của cán bộ tư vấn về động cơ tham gia BHNT

của người dân

Động cơ tham gia BHNT của ngƣời



Số ngƣời trả lời



dân



(n =100)



Giảm khó khăn khi rủi ro xảy ra (động



63



co an toàn)

Đầu tư tài chính (động cơ kinh tế)



6



Tham gia theo người khác



4



Nhận thấy ý nghĩa của BHNT với xã



5



hội (động cơ xã hội)

Do nể cán bộ tư vấn



22



Kết quả cho thấy có 63% số cán bộ tư vấn khi được hỏi đều cho rằng

yếu tố thúc đẩy người dân tham gia BHNT là do người dân muốn gia đình

không gặp khó khăn khi rủi ro xảy ra, gia đình được bảo vệ, tương lai được

bảo đảm. (tức là họ tham gia do động cơ an toàn). Có 22% số cán bộ tư vấn

được hỏi cho là người dân tham gia BHNT là do họ nể cán bộ tư vấn BHNT.

Có 5% cán bộ tư vấn được hỏi cho rằng người dân tham gia BHNT chủ yếu là

do nhận thấy được ý nghĩa của loại hình BHNT với xã hội (động cơ xã hội ).

97



Có 4% cán bộ tư vấn cho rằng người dân tham gia BHNT chủ yếu là họ tham

gia theo người khác (động cơ bị lôi kéo). Chỉ có 6% cán bộ tư vấn khi được

hỏi đã cho rằng nguyên nhân chính thúc đẩy người dân tham gia BHNT là do

họ đầu tư tài chính nhằm đem lại lợi nhuận (động cơ kinh tế). Hầu hết cán bộ

tư vấn đều khẳng định rằng thái độ (nhận thức, niềm tin) của người dân với

BHNT là nhân tố quyết định người dân tham gia hay không tham gia BHNT.

Các cán bộ tư vấn đều cho rằng họ thường gặp những khó khăn trong

công việc tư vấn, mời người dân tham gia BHNT như:

+ Người dân chưa có niềm tin vào loại hình này

+ Người dân không nhận thức rõ về loại hình này

+ Người dân dễ bị dao động khi nghe dư luận tiêu cực về loại hình này

+ Người dân không quan tâm đến loại hình này

+ Nhiều người dân cho rằng thời gian tham gia như vậy là quá dài

+ Người dân không thích nói về rủi ro, tai nạn, chết chóc, thương tật.



Như vậy, các cán bộ tư vấn đều cho rằng thái độ của người dân với

BHNT là yếu tố quyết định tới việc tham gia BHNT của người dân chứ không

phải là yếu tố tài chính. Đúng vậy, những năm gần đây dưới sự lãnh đạo của

Đảng và Nhà nước ta, nền kinh tế của nước ta tăng trưởng khá (năm 2002 là

6,8%), đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, thu nhập bình quân đầu

người (GDP) ngày càng cao, (năm 2002 đứng thứ 90 trên thế giới, khoảng

trên 400 USD), việc dành một khoản tiền phù hợp định kỳ (tháng, quý, 6

tháng, năm) để tham gia BHNT là có thể thực hiện được. Tham gia BHNT

còn được chia lãi, vì vậy đây cũng là một hình thức đầu tư có hiệu quả. Thêm

vào đó loại hình BHNT là loại sản phẩm vô hình, người tham gia không thể

nhìn thấy, sờ thấy tác dụng, công dụng của nó, không thể sử dụng ngay được,

(chỉ khi rủi ro xảy ra và hết hạn hợp đồng mới thấy hết được), rồi thời gian

tham gia khá dài (5 năm trở lên) nên người dân cũng lo lắng liệu sau này có

các công ty bảo hiểm có giữ đúng cam kết không, lo sợ tiền mất giá. Chính

98



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×